GVHD : Nguyễn Thị Thuỷ Tiểu luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Sự nghiệp giáo dục có vị trí quan trọng trong chiến lược xây dựng con người,
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đào tạo các thế hệ công dân mới,
đầy đủ tài năng, phẩm chất và bản lĩnh để đưa đất nước ra khỏi tình trạng đói
nghèo, tiến lên đuổi kịp trào lưu phát triển của thế giới. Trong thời đại phát triển
như bão táp của cách mạng khoa học và công nghệ nhân loại đang vượt qua nền
văn minh công nghiệp để chuyển sang nền văn minh tin học điện tử và sinh học.
Giáo dục không chỉ có ý nghĩa lớn lao trong lĩnh vực sản xuất vật chất mà còn là cơ
sở để hình thành nền văn hóa tinh thần của dân tộc.
Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giáo dục và đào
tạo trở thành một nhân tố có ý nghĩa quyết định tốc độ và quy mô của sự phát triển.
Tuy nhiên các bậc học trong nền giáo dục nước ta còn gặp nhiều bất cập, yếu kém
về chất lượng, mất cân đối về cơ cấu, hiệu quả giáo dục chưa cao; giáo dục chưa
gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, đào tạo chưa gắn với sử dụng, đội ngũ giáo viên còn
yếu, cơ sở vật chất còn thiếu, chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục và
công tác quản lý giáo dục chậm đổi mới; một số hiện tượng tiêu cực thiếu kỷ cương
chậm được khắc phục Đồng hành với tình hình chung của sự nghiệp giáo dục
trong cả nước, sự nghiệp giáo dục của xã Đức Bình huyện Tánh Linh mặc dù đã đạt
được những thành quả đáng kể trong những năm qua, nhưng vẫn còn nhiều tồn
đọng chưa khắc phục được. Đối với bậc tiểu học, tình trạng học sinh bỏ học của số
đông học sinh người dân tộc thiểu số còn nhiều, công tác phổ cập giáo dục bậc tiểu
học vẫn chưa thật sự vững chắc, cơ sở vật chất còn thiếu nhiều so với quy định,
hiện tượng tiêu cực thiếu kỷ cương trong sự nghiệp giáo dục của xã nhà còn xảy ra.
Với mục đích tìm ra giải pháp xây dựng và phát triển giáo dục, nâng chất lượng và
hiệu quả đào tạo trong xã. Tôi chọn đề tài “Xây dựng và phát triển giáo dục bậc
tiểu học ở xã Đức Bình huyện Tánh Linh - Thực trạng và giải pháp”
Do điều kiện thời gian có hạn bản thân chỉ nghiên cứu trong phạm vi giáo
dục ở bậc tiểu học của một xã vùng cao của huyện Tánh Linh trong 3 năm học
1
Th
c hi
ệ
n : Nguy
ễ
n Th
ị
Thu H
ạ
nh
GVHD : Nguyễn Thị Thuỷ Tiểu luận tốt nghiệp
Phần thứ nhất
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
1.1. VỊ TRÍ TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO VÀ GIÁO
DỤC TIỂU HỌC:
1.1.1. Khái niệm Giáo dục.
Giáo dục là sự tác động đến nhân cách con người bằng các tri thức khoa học
làm cho nhân cách ấy biến đổi và phát triển theo yêu cầu của xã hội.
Giáo dục là việc thế hệ đi trước tổ chức thực hiện truyền lại những hệ thống
tri thức, kinh nghiệm xã hội về khoa học, kỹ thuật, văn hóa, đạo đức cho các thế hệ
sau phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, khoa học, kinh tế ở từng giai đoạn lịch
sử.
Giáo dục tác động đến nhân cách con người bằng các tri thức khoa học để từ
đó con người tránh khỏi sự ngu dốt, sự nô lệ, sự lệ thuộc. Chính vì vậy, giáo dục là
phương tiện chủ yếu để hình thành nhân cách con người, vì vậy nét đặc trưng cơ
bản của giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội đặc biệt, một nhu cầu đặc
biệt của xã hội loài người. Thiếu vai trò tác dụng của giáo dục thì xã hội không thể
tồn tại và phát triển vì không thể tái sản xuất lao động xã hội, tạo nên các nguồn lực
cơ bản để đáp ứng các yêu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội.
1.1.2. Vị trí tầm quan trọng của giáo dục - đào tạo.
Giáo dục có ý nghĩa rất quan trọng đối với lĩnh vực sản xuất vật chất của xã
Giáo dục là con đường cơ bản nhất, bền vững nhất để hoàn thiện con người có nhân
cách đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
Giáo dục có tác dụng to lớn đối với việc truyền bá hệ tư tưởng chính trị xã
hội chủ nghĩa, xây dựng ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, xây dựng nền văn hóa,
văn học nghệ thuật, góp phần cơ bản vào việc hình thành lối sống mới nhân cách
mới của toàn xã hội.
Giáo dục- Đào tạo có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội, chiến lược xây dựng con người. Nhiệm vụ của giáo dục là đào tạo ra các
thế hệ tương lai có đầy đủ phẩm chất, bản lĩnh, kỹ năng lao động, thái độ sống để
đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu đuổi kịp trào lưu phát triển
của thế giới. Đảng đã khẳng định quan điểm cơ bản để xây dựng và phát triển sự
nghiệp giáo dục là : “ Giáo dục và đào tạo gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh
tế, phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng nền văn hóa mới và con người mới, Nhà
nước có chính sách toàn diện thực hiện giáo dục phổ cập phù hợp với yêu cầu và
khả năng của nền kinh tế, phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài”
(2)
.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, giáo dục
& đào tạo trở thành một nhân tố có ý nghĩa quyết định tốc độ và quy mô của sự
phát triển.
Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII đã xác định: “Nhiệm
vụ và mục tiêu cơ bản của Giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết
tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong
sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hóa hiện đại
1
()
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H , 2006, tr .94,95.
2
(2)
Đối với giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc
dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể
chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân
cách con người.
Luật giáo dục năm 2005 đã xác định: Mục tiêu giáo dục tiểu học “ Nhằm
giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu
dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp
tục học trung học cơ sở”
(2)
1.2. QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ PHÁT
TRIỂN GIÁO DỤC VÀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC:
1.2.1. Quan điểm của Đảng ta về phát triển giáo dục - đào tạo:
1.2.1.1. Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Giáo dục đào tạo là nguồn lực chủ yếu để tăng trưởng kinh tế, phát triển xã
hội. Thiếu nguồn nhân lực do giáo dục - đào tạo cung cấp thì không có quốc gia
nào có thể phát triển được.
1
()
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb CTQG,
H , 1997 , tr. 28-29
2
()
Luật giáo dục năm 2005, Điều 27: Mục tiêu của giáo dục phổ thông.
5
Th
ự
c hi
ệ
Tạo điều kiện để ai cũng được học, không vì nghèo, vì điều kiện khó khăn
mà bị thất học, bị mù chữ. Để người nghèo và con em họ được học tập, Nhà nước
và cộng đồng cần giúp đỡ bằng các biện pháp khác nhau để họ tiếp cận được với
giáo dục - đào tạo. Đồng thời vẫn đảm bảo cho những người học giỏi phát triển tài
năng.
Hiện nay trên thực tế người nghèo, người miền núi ở nông thôn xa đang có
nhiều khó khăn hơn về kinh tế so với người giàu, cự ly để tiếp cận với các cơ sở
giáo dục - đào tạo lại xa v.v nên việc công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo
6
Th
ự
c hi
ệ
n : Nguy
ễ
n Th
ị
Thu H
ạ
nh
GVHD : Nguyễn Thị Thuỷ Tiểu luận tốt nghiệp
còn là vấn đề phải tiếp tục phấn đấu. Hơn nữa, giữa công bằng xã hội trong giáo
dục - đào tạo với hiệu quả không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau.
Tập trung đầu tư cho hiệu quả giáo dục - đào tạo đạt được mức cao, nhiều
khi đòi hỏi chú trọng đến học sinh, sinh viên học giỏi, có triển vọng trở thành nhân
tài của đất nước có khi lại mâu thuẫn với đầu tư để phát triển giáo dục- đào tạo rộng
khắp, đồng đều cho mọi vùng, mọi đối tượng có điều kiện được học tập. Mâu thuẫn
này đòi hỏi phải tìm cách giải quyết thích hợp.
1.2.1.5. Giữ vững vai trò nồng cốt của các trường công lập song song với
đa dạng hóa các loại hình giáo dục – đào tạo.
n : Nguy
ễ
n Th
ị
Thu H
ạ
nh
GVHD : Nguyễn Thị Thuỷ Tiểu luận tốt nghiệp
toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về múa,
hát, âm nhạc, mỹ thuật.
Phần thứ hai
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TIỂU
HỌC Ở XÃ ĐỨC BÌNH, HUYỆN TÁNH LINH
2.1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH KINH TẾ, VĂN HOÁ, GIÁO DỤC Ở XÃ ĐỨC
BÌNH.
2.1.1. Điều kiện tự nhiên:
Đức Bình là một xã vùng cao của huyện Tánh Linh, dân cư bố trí liên hoàn
theo trục lộ 336 có chiều 7,2 km, cách trung tâm huyện lỵ 5 km. Xã gồm 4 thôn
trong đó có một thôn đồng bào dân tộc thiểu số. Tổng số dân trên địa bàn 1576 hộ /
7425 khẩu. Trong đó đồng bào dân tộc thiểu số 302 hộ / 1656 khẩu.Tổng diện tích
đất tự nhiên 7710 ha. Đa phần là dân sản xuất nông nghiệp chưa thoát khỏi tình
trạng sản xuất nhỏ, còn độc canh độc cư, kinh tế phát triển chậm, trình độ học vấn
của đại bộ phận người dân trong xã còn thấp.
2.1.2. Tình hình văn hóa, xã hội:
Đức Bình trước đây là 1 xã kinh tế mới, người dân các nơi tập trung về đây
sinh sống, có phong tục tập quán khác nhau, đại đa số người dân trước đây có kiến
thức văn hóa thấp, do đó công tác vận động thực hiện quy chế dân chủ còn khó
khăn. Hoạt động thông tin tuyên truyền còn nhiều hạn chế, từ đó người dân chưa
nhạy bén với chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác phát triển giáo dục ở
địa phương.
cao của Đảng, Nhà nước và toàn dân, của thầy cô giáo trong ngành giáo dục đang
công tác tại xã Đức Bình đã nổ lực phấn đấu, góp phần đắc lực vào việc nâng cao
dân trí tại địa phương.
2.2.1.1. Tỷ lệ học sinh ra lớp ngày càng tăng.
Hàng năm, vào đầu tháng 8 công tác vận động “ ngày toàn dân đưa trẻ em
đến trường” được phát động rộng khắp, với công tác thông tin tuyên truyền đến
từng hộ dân trong địa bàn dân cư của Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục tiểu học- chống
mù chữ phối hợp cùng với nhà trường và các ban, ngành trong xã, bên cạnh đó, địa
phương còn tổ chức cấp phát quần áo, đồ dùng học tập cho học sinh nghèo nhằm
động viên khích lệ các em, nhờ đó hàng năm huy động bình quân đạt 99 % trẻ 6
tuổi vào lớp 1, hầu hết trẻ trong độ tuổi đều được đến trường.
Từ công tác vận động tuyên truyền tốt trong toàn dân nên tỷ lệ huy động học
sinh ra lớp năm sau tăng hơn năm trước 0,1% cụ thể là:
Năm học: 2003-2004 huy động được 1087/1109 học sinh, đạt tỷ lệ: 98 %
Năm học: 2004-2005 huy động được 996/1006 học sinh, đạt tỷ lệ: 99 %.
Năm học: 2005-2006 huy động được 920/920 học sinh, đạt tỷ lệ: 100 %.
2.2.1.2. Cơ sở vật chất trường lớp từng bước được tăng cường.
Để phục vụ và đáp ứng yêu cầu sự nghiệp giáo dục trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân đã tập trung đầu tư
cho giáo dục khá nhiều, nhất là về cơ sở vật chất trường lớp cho các vùng cao, vùng
sâu, vùng xa, trong đó có xã Đức Bình. Từ một xã trước đây chỉ có một trường vừa
trung học cơ sở vừa tiểu học, quy mô trường lớp khá tạm bợ. Đến nay, toàn xã đã
9
Th
ự
c hi
ệ
n : Nguy
ễ
n Th
khá 323 học sinh, tỷ lệ 32,4%; giỏi 121 học sinh, tỷ lệ 12,2%; năm học 2005-2006
có 863/920 học sinh, tỷ lệ 94% trong đó khá 208 học sinh, tỷ lệ 22,6%; giỏi 84 học
sinh, tỷ lệ 9,1%.
Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình bậc Tiểu học trong 3 năm từ 2003-
2006 đạt 100 %
10
Th
ự
c hi
ệ
n : Nguy
ễ
n Th
ị
Thu H
ạ
nh
GVHD : Nguyễn Thị Thuỷ Tiểu luận tốt nghiệp
2.2.1.4. Đội ngũ giáo viên khá ổn định.
Nhân tố quyết định chất lượng giáo dục – đào tạo ở các trường chính là đội
ngũ giáo viên. Hiện nay số giáo viên tiểu học trực tiếp đứng lớp ở 2 trường trong
địa bàn xã là 50 giáo viên đạt tỷ lệ 1,4 giáo viên/ lớp (chuẩn quy định là 1,2). Đội
ngũ giáo viên khá ổn định, an tâm công tác, có tinh thần trách nhiệm, luôn hoàn
thành công việc được giao, một số giáo viên đã có ý thức học tập nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị.
Tỷ lệ giáo viên đứng lớp qua 3 năm học như sau:
Năm học 2003-2004, có 54 giáo viên / 43 lớp, tỷ lệ 1,25%; năm học: 2004-
2005, có 49 giáo viên / 38 lớp, tỷ lệ 1,28 %; năm học 2005-2006, có 50 giáo viên /
35 lớp, tỷ lệ 1,42 %
100% giáo viên đạt chuẩn, kết quả xếp loại chuyên môn nghiệp vụ trong 3
GVHD : Nguyễn Thị Thuỷ Tiểu luận tốt nghiệp
nhà trường, không chỉ có giáo dục về mặt học tập mà cả về thể chất, lối sống cũng
được chú ý một cách đáng kể, nhà trường, gia đình và xã hội luôn tạo mọi điều kiện
thuận lợi để các em vừa học tập, vừa vui chơi “ Chơi mà học, học mà chơi” tạo cho
các em một bầu không khí thoải mái khi học ở trường cũng như ở nhà. Xây dựng
cho các em có lối sống lành mạnh, biết nhận ra cái sai, cái xấu trong cuộc sống, có
ý thức vận động bạn bè và người thân có thói quen giữ gìn vệ sinh chung, bảo vệ
cây xanh trong sân trường, tạo cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp trong các
trường học.
2.2.2 Nguyên nhân đạt được:
Thứ nhất là, những kết quả đạt được về sự phát triển giáo dục - đào tạo của
xã nhà trong những năm qua là nhờ vào sự quán triệt sâu sắc về vai trò, vị trí của
giáo dục trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của huyện ủy, HĐND, UBND
huyện, từ đó Đảng bộ và chính quyền địa phương xã Đức Bình đã có chương trình
hành động về sự phát triển giáo dục phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
mình.
Thứ hai là, ngành giáo dục đã có nhiều nỗ lực, xác định rõ vai trò trách
nhiệm của người làm công tác giáo dục, có sự chuyển biến trong cách nghĩ, cách
làm tạo điều kiện cho giáo dục phát triển.
Thứ ba là, trong những năm gần đây nhờ công tác tuyên truyền thông qua
các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động mang tính giáo dục của cấp uỷ
Đảng, Chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể đã làm chuyển biến nhận thức của
nhân dân về giáo dục, từ đó có sự thay đổi đáng kể về cách nhìn nhận của người
dân trong công tác phát triển sự nghiệp giáo dục ở xã nhà, nên người dân đã tham
gia hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất và quan tâm hơn đến chất lượng học tập của con
em mình.
Thứ tư là, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng
cao, năng lực sư phạm, phù hợp với yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giáo
dục trong giai đoạn hiện nay.
12
Điển hình là trường Tiểu học Đức Bình I, có 5 phòng học đã xuống cấp quá
nặng, điều này một phần có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học cũng
như các hoạt động khác của nhà trường.
2.2.3.2. Chất lượng và hiệu quả giáo dục chưa thật vững chắc.
Đức Bình là một xã vùng cao, số học sinh dân tộc thiểu số (K ho, và Rai) và
học sinh người kinh trong diện hộ nghèo chiếm số lượng khá đông, những đối
tượng học sinh này thường xuyên vắng học, dẫn đến tiếp thu bài chậm, chưa nắm
vững kiến thức cơ bản cần đạt của chương trình các em đang học, cộng vào đó là ý
thức tự giác học tập của các em cũng như sự quan tâm của gia đình vẫn còn nhiều
hạn chế, từ đó dẫn đến kết quả học lực chưa cao.
Số học sinh yếu kém trong 3 năm học gần đây đang gia tăng, năm sau tăng
hơn năm trước 2,2%. Cụ thể là:
Năm học: 2003-2004 có 18 em / 1087em, tỷ lệ. 1,7 % ; năm học: 2004-2005 có 38
em / 996 em, tỷ lệ 3,8 % ; năm học 2005-2006 có 57em /920 em, tỷ lệ 6,2 %
13
Th
ự
c hi
ệ
n : Nguy
ễ
n Th
ị
Thu H
ạ
nh
GVHD : Nguyễn Thị Thuỷ Tiểu luận tốt nghiệp
2.2.3.3. Nội dung, chương trình và phương pháp dạy học còn bất cập.
Những năm gần đây, thực hiện đổi mới nội dung chương trình với mục tiêu
là nâng cao giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân
ệ
n : Nguy
ễ
n Th
ị
Thu H
ạ
nh
GVHD : Nguyễn Thị Thuỷ Tiểu luận tốt nghiệp
Trong những năm gần đây, có thể nói rằng toàn ngành giáo dục nói chung và
Xã Đức Bình nói riêng đã chịu một sức ép khá lớn về căn bệnh thành tích trong
ngành giáo dục bởi các chỉ tiêu bất di bất dịch trong thi đua đã làm cho cán bộ quản
lý và giáo viên phần nào đó đã buông lỏng trong việc đánh giá cho điểm học sinh,
tạo cho đội ngũ viáo viên có một sức ỳ trong công tác, từ đó cũng tạo cho học sinh
tính ỷ lại trong học tập, bởi không có khái niệm lưu ban đối với học sinh tiểu học.
Công tác thanh tra, kiểm tra chưa thật sự chặt chẽ, tính trung thực trong báo
cáo chưa cao, đánh giá kết quả chưa mang tính thực chất, lề lối làm việc chưa
nghiêm, như: qua hội thi giáo viên dạy giỏi các cấp, thanh, kiểm tra chuyên môn
nghiệp vụ trường học, thi học sinh giỏi giải 19/4 còn tiêu cực.
2.2.3.6. Công tác quản lý giáo dục chưa hiệu quả.
Đối với ngành giáo dục huyện nhà đã có những bước chuyển đáng kể trong
công tác chỉ đạo sự nghiệp giáo dục ở địa phương, nhưng do công tác quản lý, chỉ
đạo chưa thật sự cương quyết và nhạy bén với tình hình mới nên trong công tác chỉ
đạo vẫn còn chồng chéo, bất cập. Công tác chỉ đạo thanh, kiểm tra trường học thực
hiện thường xuyên hàng năm nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu, chưa nghiêm, còn
áp đặt chung và dựa vào kết quả báo cáo của cấp dưới để đánh giá chất lượng, do
đó đã có những kết quả không thực chất .
Về phía nhà trường chưa có sự đổi mới trong công tác quản lý, còn rập
khuôn theo kế hoạch chung của ngành, chưa có những bước đột phá trong việc
quản lý, chỉ đạo các mặt hoạt động của nhà trường từ con người cho đến chất lượng
2.2.4. Nguyên nhân khó khăn, tồn tại.
Một là đời sống nhân dân trong xã còn nhiều khó khăn, đại đa số làm nông
nghiệp, thiên tai lũ lụt, dịch bệnh thường xuyên xảy ra, gây thiệt hại về kinh tế dẫn
đến mức thu nhập hàng năm của người dân so với các vùng khác còn rất thấp, nên
sự quan tâm của phụ huynh đến việc học hành của con cái có phần hạn chế, làm
cho các em thiếu tinh thần và thái độ học tập đúng đắn bởi đa phần các em là con
em đồng bào dân tộc thiểu số và con em hộ nghèo của xã còn mang tư tưởng trông
chờ ỷ lại vào sự ưu đãi của Nhà nước, ít chú tâm đến việc học tập.
Hai là công tác quản lý của ngành chưa được chặt chẽ, còn lỏng lẻo, thiếu
kiên quyết .
Ba là trách nhiệm và vai trò của thầy, cô giáo còn hạn chế, chưa toàn tâm
toàn ý với nghề, một vài giáo viên đến lớp chỉ vì kinh tế, năng lực sư phạm, trình
độ nghiệp vụ ở một số giáo viên chưa đáp ứng nhiệm vụ.
16
Th
ự
c hi
ệ
n : Nguy
ễ
n Th
ị
Thu H
ạ
nh
GVHD : Nguyễn Thị Thuỷ Tiểu luận tốt nghiệp
Phần thứ ba
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TIỂU HỌC:
3.1.1. Phương hướng phát triển giáo dục tiểu học của Đảng, Nhà nước ta.
ạ
nh
GVHD : Nguyễn Thị Thuỷ Tiểu luận tốt nghiệp
Bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đổi mới mạnh
mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, khắc
phục lối truyền thụ một chiều.
Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục. Nhà nước tăng cường đầu tư cho các mục
tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, hỗ trợ các vùng đồng
bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, thực hiện miễn
giảm đóng góp và cấp học bổng cho học sinh nghèo, các đối tượng chính sách, học
sinh giỏi
3.1.2. Phương hướng phát triển giáo dục tiểu học của xã Đức Bình huyện
Tánh Linh.
Tiếp tục phát triển quy mô đi đôi với việc không ngừng nâng cao chất lượng
giáo dục, rút ngắn sự chênh lệch giữa các vùng .
Hết sức chú trọng đến việc giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng, đạo
đức cho học sinh.
Đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục- đào tạo ở bậc học, chuyển mô hình
giáo dục hiện nay thành mô hình giáo dục mở, hình thành nhiều con đường, nhiều
cơ hội khác nhau cho người học.
Đẩy mạnh xây dựng kiên cố hóa trường học, đầu tư cơ sở vật chất trang thiết
bị đáp ứng nhu cầu dạy và học. Có chính sách hỗ trợ cho học sinh nghèo vượt khó
học giỏi.
Bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên, đến năm 2010 toàn bộ giáo
viên trong bậc tiểu học đạt chuẩn và trên chuẩn 100 %, chú ý đào tạo giáo viên
người dân tộc thiểu số.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO
DỤC TIỂU HỌC Ở XÃ ĐỨC BÌNH, HUYỆN TÁNH LINH.
3.2.1. Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp:
Từ thực tế trường tiểu học Đức Bình I, một số phòng bị xuống cấp không
cần, nhất là học sinh người dân tộc thiểu số, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, cải
tiến phương pháp giảng dạy, chú ý cá biệt hóa trong học tập; đồng thời thực hiện
thường xuyên công việc phụ đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi, theo dõi
khả năng tiếp thu và sự tiến bộ của các học sinh này. Chú trọng đến công tác thi
đua khen thưởng kịp thời để động viên, khích lệ tinh thần học tập của các em.
3.2.3. Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục:
Thực hiện mục tiêu nâng cao giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học trong
xã, ngoài việc đảm bảo chuẩn kiến thức trên lớp cần tăng cường và đa dạng hóa các
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục truyền thống, tổ chức các hội thi,
qua đó vừa tuyên truyền giáo dục, vừa bổ sung cho các em một số kiến thức về giao
tiếp trong cuộc sống.
Mặt khác, cần triển khai và thực hiện đúng nội dung chương trình của Bộ
Giáo dục và đào tạo đã ban hành, chương trình thay sách mới, tận dụng tối đa các
thiết bị và đồ dùng dạy học vào giảng dạy sao cho phù hợp với điều kiện thực tế
của địa phương và trường lớp, linh hoạt việc đổi mới phương pháp giảng dạy và
học tập. Muốn vậy, đội ngũ giáo viên phải có sự chuyển biến mạnh mẽ trong cách
nghĩ, cách làm, tránh rập khuôn, áp đặt, giảng dạy theo một cách máy móc, thầy
19
Th
ự
c hi
ệ
n : Nguy
ễ
n Th
ị
Thu H
ạ
nh
GVHD : Nguyễn Thị Thuỷ Tiểu luận tốt nghiệp
20
Th
ự
c hi
ệ
n : Nguy
ễ
n Th
ị
Thu H
ạ
nh
GVHD : Nguyễn Thị Thuỷ Tiểu luận tốt nghiệp
được các tổ chức xã hội, những người có tâm huyết để họ sẵn sàng đóng góp vật
chất lẫn tinh thần cho sự nghiệp phát triển giáo dục tiểu học.
Công tác phối hợp 3 môi trường giáo dục cần phải duy trì thường xuyên, liên
tục để kịp thời phản ánh và trao đổi tình hình học tập của con em mình, nhà trường
có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình, các tổ chức xã hội, giúp họ hiểu và
tiếp cận được nhiệm vụ và yêu cầu giáo dục hiện nay, nắm rõ mục tiêu trọng tâm
của chương trình thay sách để có sự đồng cảm và thấy được tầm quan trọng của
việc học, từ đó họ quan tâm hơn đến phát triển giáo dục nói chung, giáo dục tiểu
học tại địa phương nói riêng.
Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường với các tổ chức kinh tế- xã hội, với
các ban, ngành trong xã, tạo điều kiện để các cá nhân, tập thể có thể đóng góp xây
dựng cơ sở vật chất, góp ý kiến cho quy hoạch phát triển nhà trường, hỗ trợ kinh
phí cho người học, giám sát các hoạt động giáo dục và tạo lập môi trường giáo dục
lành mạnh.
3.2.7. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo.
Đội ngũ nhà giáo là yếu tố hàng đầu quyết định thành công của sự nghiệp
giáo dục. Do vậy, các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước phải chú trọng đến công tác
làm mất lòng tin trong nhân dân.
KẾT LUẬN
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội mà chúng ta
đang chọn và kiên trì xây dựng là chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảng giá trị nhân cách
mà sự nghiệp giáo dục- đào tạo xây dựng cho thế hệ trẻ là bảng giá trị nhân cách xã
hội chủ nghĩa. Sự nghiệp giáo dục có nhiệm vụ đào tạo công dân mới, đầy đủ tài
năng, phẩm chất và bản lĩnh để đưa đất nước ra khỏi tình trạng đói nghèo, tiến lên
đuổi kịp trào lưu phát triển của thế giới. Điều này khẳng định sự nghiệp giáo dục có
vị trí hết sức quan trọng trong chiến lược xây dựng con người, chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước. Giáo dục đã có những đóng góp quan trọng trong sự
nghiệp phát triển chung của đất nước, góp phần nâng cao mặt bằng dân trí, xóa mù
chữ trong toàn dân và từng bước hoàn thiện phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Hệ thống giáo dục đang từng bước đổi mới về
nhiều mặt: đa dạng hóa các hình thức đào tạo, thay đổi cơ cấu và cơ chế tạo cho
nhà trường chủ động trong các hoạt động thích ứng với nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; chương trình giáo dục, hỗ trợ vùng miền núi, vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến tích cực, chất
lượng giáo dục ngày càng đi vào chiều sâu và được nâng lên. Thành quả đạt được
chính là nhờ vào sự quyết tâm nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, Nhà nước và toàn
dân.
Bước sang thế kỷ XXI đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải hướng đến mục tiêu
xây dựng con người Việt nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khỏe,
thẩm mĩ và nghề nghiệp, tuyệt đối trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội, vấn đề này cũng phụ thuộc vào mục tiêu phát triển giáo dục
22
Th
ự
c hi
ệ
n : Nguy
23
Th
ự
c hi
ệ
n : Nguy
ễ
n Th
ị
Thu H
ạ
nh