luận văn thạc sĩ Phân tích đánh giá đề án chuyển đổi viện khoa học công nghệ xây dựng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động. - Pdf 13

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 7
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 7
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài 9
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4. Phương pháp nghiên cứu 9
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9
6. Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1 11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI VIỆN
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG 11
1.1 Một số khái niệm cơ bản về KHCN [19, 31] 11
1.2 Cơ sở lý luận của việc chuyển đổi 13
1.2.1 Khái quát những đặc điểm kinh tế xã hội [1, 20] 13
1.2.2. Vai trò của KHCN trong việc đổi mới nền kinh tế ở nước ta [1, 12,
16, 17, 18, 22, 25] 15
1.2.2.1. Mối tương tác giữa KHCN với kinh tế 15
1.2.2.2. Sự thích ứng của việc đổi mới quản lý hoạt động KHCN với đổi
mới phát triển kinh tế 20
1.3 Cơ sở thực tiễn của việc chuyển đổi 25
1.3.1 Một số bài học kinh nghiệm quốc tế [27] 25
1.3.2 Các phương án đổi mới tổ chức và quản lý các tổ chức KHCN từ
trước đến nay của nước ta 27
CHƯƠNG 2 46
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG 46
2.1 Thực trạng khoa học và công nghệ Việt Nam [5, 6] 46
2.1.1 Những đổi mới 46

3.3.4. Giải pháp trong tổ chức quản lý 103
KẾT LUẬN 104
KIẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. CNH: Công nghiệp hóa
2. HĐH: Hiện đại hóa
3. Viện KHCNXD: Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng
4. KHCN: Khoa học Công nghệ
5. KH&CN: Khoa học và công nghệ
6. TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
7. TVGS: Tư vấn giám sát
8. NCCB: Nghiên cứu cơ bản
9. CLCS: Chiến lược chính sách
10. KTKT: Kinh tế kỹ thuật
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng thống kê tài sản đến 30/6/2006
Bảng 2.2. Bảng số liệu tài chính các năm 2004-2006
Bảng 2.3. Kết quả sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong các năm 2001-2005
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
H2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức
H3.1. Dự kiến cơ cấu tổ chức Viện KHCNXD sau khi chuyển đổi
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Trong thời đại ngày nay, những bước tiến kỳ diệu và những thành tựu to
lớn của khoa học và công nghệ tác động sâu sắc đến sự phát triển của xã hội
loài người. Đối với nước ta, khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ
quản lý của Nhà nước và tiềm lực lãnh đạo của Đảng.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội những năm qua của nước ta,

nhau. Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật thiếu tập trung và dứt
điểm cho từng mục tiêu. Cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao tuy
còn ít, song chưa được sử dụng tốt.”
Mục tiêu của Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến
năm 2010 là: “Tập trung xây dựng nền khoa học và công nghệ nước ta theo
hướng hiện đại và hội nhập, phấn đấu đạt trình độ trung bình tiên tiến trong
khu vực vào năm 2010, đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành nền tảng
và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.”
Để đạt được mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ nước ta đến năm
2010, phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, tạo bước
chuyển biến căn bản trong quản lý khoa học và công nghệ theo hướng phù
hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với đặc thù của hoạt
động khoa học và công nghệ, với yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
nhằm nâng cao rõ rệt chất lượng, hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ;
tăng cường và sử dụng có hiệu quả tiềm lực khoa học và công nghệ.
Chính vì vậy việc nghiên cứu chuyển đổi Viện Khoa học Công nghệ Xây
dựng (Viện KHCNXD) từ tổ chức Khoa học Công nghệ sự nghiệp có thu
thành tổ chức Khoa học Công nghệ tự trang trải kinh phí là cần thiết để đáp
ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu hoàn thiện giải pháp chuyển đổi Viện KHCNXD từ tổ chức
Khoa học Công nghệ sự nghiệp có thu thành tổ chức Khoa học Công nghệ tự
trang trải kinh phí.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của việc chuyển đổi Viện KHCNXD,
đánh giá thực trạng khoa học công nghệ (KHCN), thực trạng hoạt động của
Viện KHCNXD. Trên cơ sở nghiên cứu đề án chuyển đổi Viện KHCNXD
nghiên cứu giải pháp hoàn thiện trong việc chuyển đổi.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát số liệu, phân tích tổng hợp,

Khoa học (Science): Theo Tổ chức văn hóa – Khoa học – Giáo dục của Liên
hợp quốc (UNESCO), khoa học là một hệ thống các tri thức của nhân loại về
các phạm trù, quy luật vận động và phát triển khách quan của thế giới tự
nhiên, xã hội và bản thân con người; là một loại hình hoạt động xã hội đặc
biệt nhằm đạt tới những hiểu biết mới và vận dụng những hiểu biết đó vào sản
xuất và đời sống trong những điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội nhất định.
Tri thức khoa học biểu hiện chủ yếu dưới hình thức các phạm trù, định luật và
quy luật. Đối tượng nhận thức của khoa học rất rộng lớn, bao gồm mọi lĩnh
vực của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Công nghệ (Technology): là tổng thể các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và
phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo hoặc dịch vụ công nghiệp, dịch
vụ quản lý.
Trong những ngày đầu CNH, người ta sử dụng phổ biến thuật ngữ kỹ thuật
(Technique) với ý nghĩa là các giải pháp thực hiện một loại công việc hay
công cụ được sử dụng trong sản xuất làm tăng hiệu quả sản xuất. Tiếp đó xuất
hiện thuật ngữ công nghệ sản xuất, lúc đầu nó được hiểu là quy trình kỹ thuật
dùng trong dây chuyền sản xuất về sau khái niệm này được hiểu theo nghĩa
rộng hơn và ổn định như ngày nay. Công nghệ là kết quả của quá trình áp
dụng các thành tựu của khoa học vào sản xuất. Công nghệ là sản phẩm của
lao động trí tuệ sáng tạo của con người trong lĩnh vực sản xuất. Công nghệ
được coi là phương tiện, công cụ để biến đổi thế giới tự nhiên phù hợp với lợi
ích của con người; là tác nhân chủ chốt trong quá trình khai thác và chế biến
tài nguyên thiên nhiên thành hàng hoá và dịch vụ. Nói cách khác, công nghệ
gồm hai phần: “phần cứng” và “phần mềm”. Phần cứng bao gồm: máy móc,
thiết bị, nhà xưởng Phần mềm bao gồm: đội ngũ nhân lực có sức khoẻ, kỹ
năng, kỹ xảo, kinh nghiệm sản xuất, ; thông tin về quy trình sản xuất, bản vẽ,
thuyết minh, chỉ dẫn kỹ thuật; trình độ tổ chức quản lý, điều hành sản xuất
của ban quản lý,
Khái niệm công nghệ được sử dụng rộng rãi vào tất cả các lĩnh vực của cuộc
sống con người. Công nghệ được dùng không chỉ trong sản xuất vật chất mà

còn yếu, chưa phát triển, các yếu tố thị trường mới sơ khai, thiếu đồng bộ lại
quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung cứng nhắc nên đã phát sinh sự mất
cân đối, lạm phát cao dẫn đến khủng hoảng và sự tăng trưởng kinh tế chậm.
Những mâu thuẫn nội tại từ nền kinh tế nước ta đòi hỏi phải đổi mới để thoát
khỏi khủng hoảng và thúc đẩy các yếu tố sản xuất hàng hoá phát triển.
Nền kinh tế chỉ huy tồn tại ở nước ta đã huy động một bộ phận nguồn lực
cho sự phát triển ban đầu, nhưng mô hình này bị khép kín, kém hiệu quả,
không phù hợp với xu hướng quốc tế hoá các quan hệ kinh tế của thế giới.
Trong giai đoạn phát triển mới, cơ chế chỉ huy ngày càng bộc lộ những
mâu thuẫn và bế tắc. Đại hội VI đã bắt đầu và đại hội VII đã phát triển những
chủ trương đổi mới với việc chuyển nền kinh tế vận động theo cơ chế chỉ huy
trước đây sang nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường.
Sự hoà nhập trong phân công lao động quốc tế cùng với thành quả của tiến
bộ KHCN của thế giới về công nghệ, về quản lý, về chất lượng và phát triển
môi trường cũng yêu cầu phải chuyển nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị
trường là tất yếu.
Những cải cách chủ yếu trong giai đoạn đầu là:
Đổi mới một bước quan trọng cơ chế kế hoạch hoá theo hướng thu hẹp tập
trung, mở rộng tự chủ kế hoạch và tự chủ về chiến lược sản xuất kinh doanh
của các đơn vị cơ sở.
Cải cách hệ thống giá cả theo hướng tự chủ về giá của các đơn vị sản xuất
kinh doanh, hoà nhập từng bước giá đầu vào và giá đầu ra vào cơ chế thị
trường.
Cải cách hệ thống tài chính theo hướng tự chủ tài chính của các đơn vị sản
xuất kinh doanh, tách dần tài chính Nhà nước với tài chính doanh nghiệp; chế
độ thuế thay các khoản thu từ kinh tế quốc doanh; tín dụng hoá vốn đầu tư;
những cải cách trong lĩnh vực kế toán thống kê, thu chi ngân sách,
Cải cách hoạt động ngân hàng, đưa ngân hàng vào hoạt động kinh doanh,
bước đầu áp dụng cơ chế thị trường trong điều tiết lưu thông tiền tệ.
Đổi mới chính sách lao động và tiền lương.

Bối cảnh chính trị xã hội đã quy định nội dung của những bước phát triển
trong chính sách KHCN, và có thể nói chính sách KHCN cũng đã và đang trải
qua những cuộc cải cách với đầy đủ những nét đặc trưng cơ bản công cuộc cải
cách kinh tế và xã hội.
Trong nền kinh tế chỉ huy tập trung, do vai trò lãnh đạo của nhà nước chi
phối mọi hoạt động kinh tế và xã hội nên mọi hoạt động KHCN cũng được
quan niệm là một hoạt động do nhà nước độc quyền chủ trì. Nhà nước lập kế
hoạch nghiên cứu và áp dụng kết quả nghiên cứu cho toàn xã hội và do vậy
ngân sách nhà nước được cấp cho mọi hoạt động KHCN trong xã hội. Mặc dù
trên hình thức nhà nước lập kế hoạch nghiên cứu, nhưng trong thực tế thì đó
cũng là những sáng kiến nghiên cứu của các nhà khoa học công nghệ được
đưa lên từ cấp cơ sở, sau đó được “Nhà nước hoá” thông qua một hệ thống
xem xét và phê duyệt theo thang bậc quản lý hành chính.
Cùng với những biến động và khủng hoảng kinh tế xã hội trong các nước
có nền kinh tế chỉ huy, hệ thống KHCN cũng ngày càng bộc lộ tính kém hiệu
quả và cuối cùng nó đã phải bước vào những công cuộc cải cách cùng với hệ
thống kinh tế xã hội.
Ở nước ta mạng lưới các tổ chức KHCN có những biến động và cải cách
khá tương đồng cả trên nội dung và các bước phát triển.
a. Sự tác động của KHCN đối với kinh tế thị trường
Nước ta là một nước nông nghiệp với điểm xuất phát thấp về lực lượng sản
xuất, về trình độ xã hội hoá lao động và xã hội hoá sản xuất. Sự thấp kém này
đã kìm hãm quá trình chuyển biến nền kinh tế nặng tính tự cấp tự túc sang
kinh tế thị trường. Việc phát triển KHCN chính là để thay đổi về chất lực
lượng sản xuất và nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất của đất nước nhằm
thúc đẩy quá trình chuyển biến nền kinh tế từ chậm phát triển sang phát triển,
chuyển nền kinh tế bao cấp kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường.
Dưới tác động của KHCN làm biến đổi về chất lực lượng sản xuất theo hướng
thực hiện từng bước chiến lược đồng bộ hoá giữa tư liệu sản xuất hiện đại với
con người hiện đại, nhằm nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất. Đến lượt nó

Đặc biệt, dưới sự tác động của kinh tế thị trường đã làm thay đổi trình độ
văn minh, góp phần vượt qua văn minh nông nghiệp đi lên trong sự gắn bó
với hai nền văn minh công nghệ và văn minh trí tuệ.
c. Sự phát triển KHCN gắn bó với công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Lịch sử đã khẳng định rằng trong quá trình từ sản xuất nhỏ thủ công lạc
hậu lên sản xuất lớn hiện đại, CNH là bước đi tất yếu mà mỗi dân tộc đều
phải trải qua. Trong thời đại hiện nay, CNH bao hàm trong đó cả HĐH trong
tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế quốc dân.
HĐH chính là cách thức dùng sự phát triển hiện đại mà thế giới đã đạt
được qua cải tạo và chuyển giao công nghệ cho đất nước. Đó là cách thực
hiện cách mạng khoa học công nghệ gắn với quá trình phân công lao động
quốc tế một cách có hiệu quả.
Kinh nghiệm CNH ở nhiều nước trên thế giới cho thấy cái cốt lõi của CNH
là sự đổi mới kỹ thuật (phần cứng) và công nghệ (phần mềm), chuyển từ kỹ
thuật và công nghệ lạc hậu, năng suất và hiệu quả kinh tế xã hội thấp lên trình
độ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến hiện đại có năng suất và hiệu quả kinh tế -
xã hội cao trong các ngành kinh tế quốc dân.
CNH là bước phát triển tất yếu mà mỗi nước phải trải qua. Nó là quá trình
thực hiện phương pháp công nghiệp trong các ngành và các lĩnh vực kinh tế
quốc dân, là quá trình phát triển kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong sản xuất
kinh doanh.
Như vậy, thực chất CNH là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của xã hội.
Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghệ
trong nền kinh tế mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn bản
về công nghệ tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh chóng, hiệu quả cao và
lâu bền của toàn bộ nền kinh tế.
Trên thế giới cách mạng KHCN diễn ra mạnh mẽ, tác động tích cực, sâu
sắc toàn diện đến đời sống kinh tế. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy quá trình
công nghiệp hoá ở từng nước và từng nhóm nước có những đặc điểm rất khác
nhau. Việc nghiên cứu sự đa dạng, tìm ra những nét chung nhất mang tính

chế quản lý KHCN phải phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế trong từng giai
đoạn phát triển kinh tế quốc dân. Cơ chế quản lý kinh tế phải mở đường cho
hoạt động KHCN, phát huy được tác dụng tích cực của mình đối với phát
triển kinh tế và tạo được môi trường, điều kiện để KHCN phát huy được vai
trò động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Cơ chế quản lý kinh tế bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Xác định đường
lối, chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và xác định phương hướng
phát triển nền kinh tế quốc dân; Tổ chức nền kinh tế - xã hội (cơ cấu tổ chức,
bộ máy, cán bộ thông tin); Xác định phương thức trao đổi giữa sản xuất và
tiêu dùng, giữa cung và cầu; Sử dụng các đòn bẩy kinh tế và giải quyết đúng
vấn đề phân chia lợi ích kinh tế; Hạch toán, đánh giá hiệu quả; Chính sách,
biện pháp quản lý cụ thể.
Cũng như cơ chế quản lý chung, cơ chế quản lý KHCN của Nhà nước là
phương thức điều hành hệ thống KHCN quốc gia phù hợp với quy luật khách
quan của tiến trình phát triển KHCN của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện
đại, phù hợp với đặc điểm của hoạt động KHCN, với chính sách kinh tế và cơ
chế quản lý kinh tế, được thể hiện thành thể chế, luật lệ quy định, ràng buộc
đối với các đơn vị, cá nhân tiến hành các hoạt động KHCN nhằm đạt được
mục tiêu, chiến lược phát triển KHCN đặt ra một cách tốt nhất trong môi
trường trong và ngoài nước đầy các biến động.
Tương tự như cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế quản lý KHCN bao hàm các
nội dung sau: Đường lối, chiến lược, mục tiêu phát triển KHCN; Bố trí cơ cấu
tổ chức hệ thống KHCN (hệ thống tổ chức hoạt động và quản lý KHCN) bao
gồm việc bố trí mạng lưới các cơ quan, các đơn vị KHCN trong cả nước theo
hướng tiếp cận thị trường, theo các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, lợi ích
của mỗi đơn vị, cơ quan, nhằm thực hiện đường lối, chiến lược, mục tiêu
phát triển KHCN; Xác định phương thức trao đổi giữa đầu vào và đầu ra của
các cơ quan, đơn vị hoạt động KHCN trong môi trường kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần theo hướng gắn KHCN với sản xuất với môi trường kinh tế
- xã hội; Chính sách KHCN (hạch toán đối với KHCN, sở hữu công nghiệp,

kỹ thuật.
Với mạng lưới nghiên cứu triển khai phân tán, chồng chéo, với cơ sở vật
chất kỹ thuật thô sơ và lạc hậu, với đội ngũ cán bộ thiếu đồng bộ, thiếu cán bộ
đầu đàn giỏi có năng lực tập hợp lực lượng thành tập thể khoa học mạnh, với
đầu tư chi phí cho hoạt động KHCN nhỏ bé và với sự khan hiếm thông tin và
hạn chế hợp tác cộng với điều kiện sinh hoạt và làm việc như hiện nay thì nền
KHCN của ta không thể nào đủ sức là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã
hội.
Cơ chế quản lý các hoạt động nghiên cứu triển khai KHCN đã được điều
chỉnh bổ sung một số quy định để gắn trực tiếp hơn KHCN với thực tiến sản
xuất và tạo khả năng cho các thành phần kinh tế cùng tham gia vào các hoạt
động KHCN theo nhu cầu tất yếu của phát triển. Song có thể nói đến thời
điểm này, về cơ bản lực lượng tham gia các hoạt động KHCN vẫn chỉ thuộc
về các cơ quan KHCN của nhà nước với cách thức tổ chức quản lý phần lớn
vẫn theo kiểu hành chính như thời kế hoạch hoá tập trung. Như vậy trong
quản lý nghiên cứu triển khai các hoạt động KHCN chưa có những đổi mới cơ
bản để thích ứng với yêu cầu của hoạt động theo cơ chế thị trường với nhiều
thành phần tham gia, đã quá chậm trễ so với tiến trình đổi mới quản lý phát
triển kinh tế. Tình hình đó tất yếu làm hạn chế vai trò tác động tích cực của
KHCN đối với phát triển kinh tế xã hội và cũng chính là lạm hạn chế sự phát
triển của chính bản thân KHCN.
Để KHCN thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội và nghiên
cứu triển khai đi vào thực tiễn sản xuất. Nhà nước phải có những biện pháp
quản lý hữu hiệu nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động KHCN của đội
ngũ cán bộ KHCN - một trong những tiềm năng quý của đất nước. Vì vậy,
việc đổi mới quản lý nhà nước về nghiên cứu triển khai các hoạt động KHCN
là một đòi hỏi tất yếu của đổi mới kinh tế ở nước ta. Việc đổi mới quản lý nhà
nước đối với nghiên cứu triển khai các hoạt động KHCN ở nước ta hiện nay
không chỉ là đòi hỏi tất yếu của đổi mới kinh tế nói chung, đổi mới quản lý
nhà nước nói riêng mà còn là đòi hỏi bức thiết của chính sự phát triển KHCN

vấn đề sắp xếp lại các tổ chức KHCN và đổi mới cơ chế quản lý hoạt động
cho phù hợp với tình hình mới cũng là điều tất yếu. Nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần tạo điều kiện xã hội hóa hoạt động KHCN, đa dạng hóa
nguồn vốn đầu tư, đồng thời cũng đòi hỏi sự nhạy bén, năng động của cán bộ
khoa học cũng như của các tổ chức KHCN trước yêu cầu rất đa dạng, thiết
thực, kịp thời và kịp thời trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường
trong cũng như ngoài nước. Kinh tế hàng hóa phát triển, nhu cầu đổi mới
công nghệ càng cao, sản xuất càng cần đến các nhà khoa học và các tổ chức
KHCN. Vì vậy tiến trình sắp xếp lại tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý hoạt
động KHCN cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất và đời sống càng trở nên
bức xúc.
1.3 Cơ sở thực tiễn của việc chuyển đổi
1.3.1 Một số bài học kinh nghiệm quốc tế [27]
Bài học thứ nhất: Bất kỳ một quốc gia nào, không phụ thuộc vào thể chế
kinh tế, chính trị đều có những ưu tiên riêng của mình theo một thứ tự nhất
định. Căn cứ vào mức độ ưu tiên của trật tự đó nhà nước (chính phủ) hình
thành hệ thống các tổ chức nghiên cứu và phát triển của mình bằng các quy
định hành chính pháp lý bắt buộc với từng loại hình tổ chức nghiên cứu và phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status