Luận văn "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tại công ty bảo hiểm dầu khí việt Nam (PVI) " potx - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Khoa kinh tế ngoại thương
Khoá luận tốt nghiệp

ĐỀ TÀI: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hiểm
hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tại công ty bảo hiểm dầu khí việt Nam
(PVI)
Sinh viên thực hiện: Cao Lê Thu
Trang
Lớp: A12 - K38
Giáo viên hướng dẫn: Phạm Thanh Hà
Hà Nội, 2003


08
2.1. Đối tượng
08
2.2. Phạm vi
09
a. Các rủi ro được bảo hiểm
09
b. Các rủi ro loại trừ.
12
3. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
13
4. Phí bảo hiểm và phương pháp xác định phí bảo hiểm
15
5. Giám định và bồi thường tổn thất
27
6. Thủ tục yêu cầu bảo hiểm
29
7. Cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
ở Việt Nam

30
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
3CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM
HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT Ở CÔNG TY BẢO HIỂM
DẦU KHÍ VIỆT NAM (PVI)


1. Thuận lợi
62
2. Khó khăn
63

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI
RO ĐẶC BIỆT TẠI PVI

66
I. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2010
66
I. Phương hướng phát triển của công ty
66
2. Dự báo thị trường Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt ở Việt
67
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
4

Nam
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI PVI
68
1. Một số kiến nghị từ phía Nhà nước
68
2. Một số giải pháp từ phía doanh nghiệp


BẢNG VIẾT TẮT

PVI
Petrovietnam Insurance
BHDK
Bảo hiểm dầu khí
TCT DKVN
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
KTKH
Kinh tế kế hoạch
BHNL
Bảo hiểm năng lượng
BHHH
Bảo hiểm hàng hải
BHKT
Bảo hiểm kỹ thuật

Hợp đồng
KD
Kinh doanh
CN
Chi nhánh
Phòng KD
Các phòng trực tiếp kinh doanh bảo hiểm
Phòng KH
Phòng kế hoạch
Phòng TBH
Phòng tái bảo hiểm
Phòng KT

của hãng Loyds.
Ở Việt Nam, do trình độ nhận thức về sử dụng và quản lý nguồn lửa còn hạn chế,
thêm vào đó là phương tiện phòng cháy còn rất lạc hậu, số lượng nhà lá, nhà tạm bợ
còn nhiều và thường tập trung, ngõ ngách lại rất nhỏ, nguy cơ hoả hoạn là rất cao,
trong khi các biện pháp đề phòng hạn chế rủi ro còn chưa đầy đủ và hiện đại. Trong
những năm gần đây, xã hội Việt Nam càng phát triển thì tình hình hoả hoạn ngày càng
nghiêm trọng hơn và nó đang tác động to lớn đến nhiều mặt đời sống kinh tế xã hội, ví
dụ như: vụ hoả hoạn tại chợ Đồng Xuân năm 1994, vụ hoả hoạn tại Trung tâm thương
mại quốc tế năm 2002. Hoả hoạn với sự tàn phá khốc liệt của nó đã thật sự là nỗi kinh
hoàng của nhân dân ta từ xưa tới nay. Cha ông ta coi giặc lửa cũng nguy hiểm không
kém so với các loại giặc khác. “Thuỷ, hoả, đạo tặc giặc phá không bằng nhà cháy”
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với quy mô của nền kinh tế ngày càng
tăng, công tác phòng cháy chữa cháy cần được các cấp các ngành từ trung ương đến
địa phương quan tâm hơn nữa. Công tác phòng cháy chữa cháy cần phải được phối kết
hợp giữa cơ quan cảnh sát phòng cháy chữa cháy với các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh và người dân. Chỉ có phối kết hợp thường xuyên và chặt chẽ thì công tác này
mới đạt hiệu quả cao.
Có thể nói, hoả hoạn chính là mối đe doạ thường trực rất lớn và tác động sâu sắc
đến hoạt động sản xuất nói chung. Chính vì tính chất đặc biệt nghiêm trọng đó mà bảo
hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt có vai trò và tác dụng sâu sắc. Bảo hiểm hoả hoạn
thực hiện nguyên tắc số đông bù số ít, gây dựng những quỹ bồi thường để bù đắp kịp
thời những thiệt hại do hoả hoạn gây ra, ổn định tài chính cho người được bảo hiểm và
ổn định xã hội. Mặt khác, do tính chất kết hợp đã nêu trên, bảo hiểm hoả hoạn còn có
khả năng thúc đẩy các đơn vị tham gia bảo hiểm thực hiện công tác phòng cháy chữa
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
7

cháy, tăng cường tính tự chủ của các đơn vị trong việc phục hồi khả năng sản xuất kinh
doanh sau hoả hoạn và tạo ra sự ổn định lớn trong nền kinh tế.

Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
8

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM HOẢ HOẠN

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM HOẢ HOẠN
1. Tác động của hoả hoạn tới đời sống và sản xuất kinh doanh
Hoả hoạn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sinh hoạt của nhân dân. Hoả hoạn
có thể thiêu huỷ một toà nhà, một công trình kiến trúc, một khối lượng tài sản nhất
định. Ngoài ra, hoả hoạn còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người bị hại. Nếu
không may gặp hoả hoạn thì một gia đình hay một khu vực dân cư có thể gặp nhiều
khó khăn về chỗ ở, điều kiện sinh hoạt. Sau vụ hoả hoạn, cuộc sống của dân cư có thể
bị đảo lộn hoàn toàn và phải mất một khoảng thời gian rất dài mới ổn định cuộc sống.
Cũng cần phải tính đến tác động gây ô nhiễm của nó tới môi trường sống, ảnh hưởng
đến sức khoẻ của dân cư nói chung.
Hoả hoạn cũng gây bất ổn trong xã hội. Việc giữ gìn an ninh chính trị và ổn định
xã hội là mục tiêu của các quốc gia trên toàn thế giới. Khi một xã hội hoặc một bộ phận
của xã hội không ổn định thì chính phủ sẽ tốn rất nhiều công sức tìm ra biện pháp khắc
phục.
Cho dù hoả hoạn xảy ra ở đâu đi chăng nữa thì nó cũng có nhiều tác động xấu đến
an ninh xã hội. Hoả hoạn xảy ra ở một nhà máy, một xí nghiệp sẽ làm đình trệ sản xuất
kinh doanh. Khi sản xuất bị đình trệ, kinh doanh bị gián đoạn kéo theo công nhân của
nhà máy bị thất nghiệp. Nếu hoả hoạn xảy ra ở khu vực dân cư sẽ làm cho cuộc sống
của một số người trở nên khó khăn. Chính những người mất việc hay mất của cải này
là một gánh nặng đối với xã hội.
Chính vì vậy mỗi người dân, mỗi tổ chức, doanh nghiệp nên thực hiện các công
tác đề phòng hạn chế cháy nổ, hạn chế các thiệt hại khi xảy ra hoả hoạn. Trong thực tế
phòng tránh hoả hoạn có thể thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau, tuy nhiên có
ba biện pháp sau là cơ bản:
Loại bỏ rủi ro

một phần trách nhiệm đối với tổn thất bằng trích lập quỹ dự phòng tổn thất nhỏ. Cho
dù bằng cách này hay bằng cách khác thì sự phối hợp giữa công ty bảo hiểm với người
được bảo hiểm là rất cần thiết.
2. Sự cần thiết và tác dụng của Bảo hiểm hoả hoạn
Bảo hiểm hoả hoạn là một biện pháp chuyển giao rủi ro hoả hoạn tối ưu nhất. Nó
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ ổn định hoạt động kinh tế, tăng cường hạn
chế tổn thất và tạo nguồn vốn đầu tư lớn cũng như đóng góp vào nguồn ngân sách quốc
gia. Không ai có thể phủ nhận vai trò của bảo hiểm hoả hoạn, với các đặc tính ưu việt
của mình, bảo hiểm hoả hoạn ngày càng chiếm ưu thế và trở thành một trong những
nghiệp vụ bảo hiểm quan trọng nhất trong hệ thống bảo hiểm nói chung.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
10

Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật càng phát triển, ý thức phòng cháy chữa cháy
(PCCC) tương đối tốt, tuy nhiên không có một sự bảo đảm nào chắc chắn rằng có hệ
thống PCCC có thể ngăn ngừa hoàn toàn các yếu tố rủi ro như sét đánh, sơ suất của con
người, do thời tiết khô hạn. Tại các nước chậm phát triển, công nghệ còn lạc hậu, đặc
biệt là ý thức PCCC của người dân còn kém nên cháy thường xuyên xảy ra nhiều hơn.
Bảo hiểm cháy là một hình thức chuyển giao, tài trợ rủi ro, trong đó người bảo
hiểm chấp nhận gánh vác phần tổn thất tài chính khi rủi ro xảy ra. Thông qua việc bồi
thường một cách hợp lý, kịp thời, chính xác, trung thực đã giúp cho các tổ chức, cá
nhân nhanh chóng khắc phục được thiệt hại. Đặc biệt khi tất cả các công ty phải hạch
toán kinh doanh độc lập trong nền kinh tế thị trường thì bảo hiểm vẫn sẽ là tấm lá chắn
kinh tế cuối cùng tạo sự ổn định sản xuất kinh doanh. Đồng thời bảo hiểm cũng thể
hiện tính cộng đồng tương trợ nhân văn sâu sắc.
Nhờ có bảo hiểm những người tham gia bảo hiểm đóng góp một số phí xây dựng
nên quỹ tiền tệ tập trung. Quỹ này sẽ bồi thường tổn thất cho người được bảo hiểm và
một phần phí bảo hiểm sẽ được các công ty bảo hiểm đầu tư vào các lĩnh vực theo quy
định của pháp luật, nhằm thu hút được lợi nhuận để phát triển và tăng trưởng quỹ, góp

mà con người biết đến sự tàn phá khốc liệt của hoả hoạn, hoả hoạn đã gây ra cho con
người biết bao kinh hoàng. Khi xã hội ngày càng phát triển, của cải vật chất sản xuất ra
nhiều hơn, thiệt hại khi xảy ra hoả hoạn ngày càng lớn hơn thì cũng đã làm phát sinh
nhu cầu bảo hiểm hoả hoạn. Bảo hiểm hoả hoạn là một trong những biện pháp tối ưu
nhất để hạn chế tác động của hoả hoạn.
Năm 1591, hiệp hội Bảo hiểm cháy đầu tiên ra đời ở Đức mang tên Feuercasse.
Một thời gian ngắn sau đó đã xuất hiện thêm một số công ty nữa, nhưng nhu cầu về
bảo hiểm hoả hoạn chưa thật sự lớn nên tính chất và quy mô hoạt động của các công ty
mang nặng tính tự phát và đã không tạo được các bước phát triển quan trọng. Phải đợi
đến gần một thế kỷ sau thì bảo hiểm hoả hoạn mới chính thức ra đời ở Anh.
Giữa thế kỷ XVII (năm 1666) đã xảy ra vụ cháy khủng khiếp ở thành phố Luân
Đôn, thủ đô nước Anh. Vụ cháy kéo dài 7 ngày 8 đêm thiêu huỷ gần như toàn bộ thành
phố. Ngoài ra còn những thiệt hại về người và của vô cùng to lớn không thể thống kê
hết. Những thiệt hại này ảnh hưởng đến một bộ phận lớn dân chúng. Đám cháy là nỗi
kinh hoàng chưa từng thấy của người dân Luân Đôn, nó đã làm xuất hiện nhu cầu bảo
hiểm hoả hoạn. Ý thức được tầm quan trọng của bảo hiểm cháy ngay từ năm 1667, các
nhà chức trách thành phố Luân Đôn đã mở văn phòng bảo hiểm cháy đầu tiên. Sau đó
năm 1681, công ty bảo hiểm cháy đầu tiên ra đời lấy tên là Friendly Society Fire
Office. Công ty hoạt động trên nguyên tắc tương hỗ với hệ thống phí ổn định và quy
định người được bảo hiểm phải chịu một phần tổn thất do hoả hoạn gây ra. Sau đó có
một số công ty bảo hiểm ra đời ở Anh như Amicable (1696), West Minster (1717).
Phần lớn các công ty này vẫn duy trì hoạt động. Các công ty bảo hiểm cháy của nước
Anh hoạt động khá hiệu quả và bảo hiểm cháy đã phát triển rộng sang Châu Âu và Bắc
Mỹ. Công ty bảo hiểm cháy đầu tiên thành công trên đất Mỹ là một công ty bảo hiểm
tương hỗ, do Benjamin Franklin và một số thành viên khác sáng lập năm 1752 mang
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
12

tên Philadelphia Contribution Ship- công ty chuyên bảo hiểm cháy cho nhà cửa. Sau đó

khách hàng có tiềm năng lớn cho các doanh nghiệp bảo hiểm khai thác. Đặc biệt là
nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn được quy định bắt buộc, với tổng giá trị tham gia bảo
hiểm lên tới 20 tỷ USD.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
13

Nói tóm lại, bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt là nghiệp vụ đang có nhu
cầu lớn trên thị trường và là nguồn doanh thu chính của các công ty bảo hiểm Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay. Trong tương lai không xa khi nhận thức của người dân
về vai trò, tầm quan trọng của bảo hiểm cháy được nâng cao thì bảo hiểm cháy sẽ còn
phát triển mạnh mẽ hơn nữa và có nhiều đóng góp cho sự phát triển của thị trường bảo
hiểm và nền kinh tế Việt Nam.
II. NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HOẢ HOẠN VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT
1.Khái niệm
Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt là bảo hiểm những thiệt hại do cháy và
các rủi ro tương tự hay các rủi ro đặc biệt như: động đất, bão lụt, núi lửa, sét đánh.v v
gây ra cho đối tượng bảo hiểm.
Chúng ta cần nắm bắt một số thuật ngữ:
- Hoả hoạn: là cháy xảy ra không kiểm soát được ngoài nguồn lửa chuyên
dùng, gây thiệt hại cho tài sản và con người.
- Đơn vị rủi ro: là nhóm tài sản tách biệt khỏi nhóm tài sản khác, với khoảng
cách không cho phép từ nhóm này lan sang nhóm khác. Khoảng cách này gần nhất
không dưới 12m, mục đích để quy vùng trách nhiệm bồi thường.
- Tài sản: bao gồm tất cả các loại tài sản trừ những loại tài sản bị thiệt hại do
những rủi ro loại trừ.
Tài sản ở đây phải là tài sản thuộc quyền sử dụng hay quyền quản lý của người
được bảo hiểm ghi trên giấy bảo hiểm. Đồng thời tài sản đó phải nằm trong phạm vi
bảo hiểm.
- Tổn thất toàn bộ, gồm:

+ Những thiệt hại do những rủi ro được bảo hiểm gây ra cho tài sản được bảo
hiểm ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm (hoặc danh mục kèm theo Giấy chứng nhận
bảo hiểm) nếu người được bảo hiểm đã nộp phí bảo hiểm và những thiệt hại ấy xảy ra
trước 16 giờ ngày cuối cùng của thời hạn bảo hiểm ghi trong giấy chứng nhận bảo
hiểm.
+ Chi phí cần thiết và hợp lý nhằm hạn chế tổn thất tài sản được bảo hiểm trong
và sau khi cháy.
+ Ngoài ra nhà bảo hiểm cũng sẽ bồi thường cho người tham gia cả chi phí thu
dọn hiện trường sau khi cháy nếu chi phí này được ghi rõ trong giấy chứng nhận bảo
hiểm là được bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm nộp thêm phí theo một tỷ lệ quy
định.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
15

Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, trách nhiệm của nhà bảo hiểm không vượt quá
số tiền bảo hiểm của mỗi hạng mục tài sản ghi trong danh mục hoặc gộp lại không vượt
quá tổng số tiền bảo hiểm ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm.
a. Các rủi ro được bảo hiểm
Rủi ro bảo hiểm là sự cố không chắc chắn xảy ra, không ai biết xảy ra vào ngày
giờ nào, rủi ro có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào, nó mang tính khách quan và bất ngờ,
nó có thể gây ra hư hỏng và thiệt hại cho đối tượng được bảo hiểm. Trong bảo hiểm
hoả hoạn, các rủi ro bao gồm:
+ Rủi ro chính (rủi ro nhóm A): hoả hoạn
+ Rủi ro phụ: nổ, sét, nổi loạn, bạo lực dân sự, máy bay rơi các rủi ro này đều
thuộc phạm vi bảo hiểm.
Các rủi ro được bảo hiểm.
- Rủi ro chính (rủi ro nhóm A)
 Cháy: theo định nghĩa cháy là phản ứng hoá học có toả nhiệt và phát ra ánh
sáng.

cho nhà bảo hiểm.
 Rủi ro B: nổ
Khi mua rủi ro B, người được bảo hiểm sẽ được bảo hiểm cho các rủi ro nổ gây ra
tổn thất mặc dù nổ không gây cháy. Trong trường hợp nổ mà gây cháy thì đương nhiên
được bảo hiểm (rủi ro chính).
Các điều kiện loại trừ riêng trong rủi ro B:
+ Tài sản được bảo hiểm bị phá huỷ hay hư hại do nồi hơi, thùng đun nước bằng
hơi đốt, bình chứa, máy móc hoặc thiết bị mà áp suất bên trong hoàn toàn do hơi nước
tạo ra bị nổ (chứ không phải do cháy bắt nguồn từ nổ) nếu nồi hơi và những máy móc
thiết bị đó thuộc quyền sở hữu hay điều khiển của người được bảo hiểm. Chúng bị loại
trừ vì những rủi ro này thuộc bảo hiểm kỹ thuật.
+ Bình chứa, máy móc thiết bị hoặc chất liệu bên trong các dụng cụ đó bị hư hại
hay bị phá huỷ do nổ các chất liệu đó (loại trừ không áp dụng trong trường hợp cháy nổ
xăng dầu). Các rủi ro trên bị loại trừ để tránh bảo hiểm trùng với các đơn bảo hiểm kỹ
thuật.
Áp suất sóng gây ra do máy bay hoặc các phương tiện hàng không khác bay với
tốc độ bằng hay vượt quá tốc độ âm thanh không được coi là nổ.
 Rủi ro C: Máy bay hoặc các phương tiện hàng không khác hay các thiết bị trên
các phương tiện đó rớt trúng, nhưng loại trừ các tài sản bị phá huỷ hay hư hại bởi áp
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
17

suất sóng do máy bay, phương tiện hàng không khác bay với tốc độ ngang hoặc vượt
tiếng động âm thanh gây ra.
 Rủi ro E: Nổi loạn, bạo động dân sự, đình công, bế xưởng, hoặc hành động của
những người tham gia gây rối, bạo động hay hành vi ác ý nhưng không mang tính chất
chính trị.
Loại trừ tài sản bị:
- Mất mát hư hại do bị tịch thu, phá huỷ hoặc trưng dụng theo lệnh của chính

- Bất kỳ tổn thất trực tiếp hay gián tiếp mà nguyên nhân gây ra có liên quan đến:
+ Phóng xạ ion hoá hay nhiễm phóng xạ từ nguyên liệu hạt nhân hay từ chất thải
hạt nhân do việc đốt cháy nhiên liệu hạt nhân.
+ Các thuộc tính phóng xạ, độc, nổ hoặc các thuộc tính nguy hiểm khác của thiết
bị nổ hạt nhân hay các bộ phận của thiết bị đó.
- Những hành động cố ý hay đồng loã của người được bảo hiểm gây ra.
- Những tổn thất về:
+ Hàng hóa nhận uỷ thác hay ký gửi trừ khi những hàng hóa này được xác nhận
trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm và người được bảo hiểm phải trả
thêm phí bảo hiểm theo tỷ lệ phí quy định.
+ Tiền, vàng, bạc, đá quý, chứng khoán, thư bảo lãnh, tem phiếu, tài liệu, bản
thảo, sổ sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính, bản mẫu văn bằng, khuôn
mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế trừ khi những hạng mục này được xác nhận trong giấy
chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm.
+ Chất nổ
+ Người, động vật và thực vật sống
+ Những thiệt hại mà thời điểm xảy ra tổn thất được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm
hàng hải hoặc lẽ ra được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải, trừ phần thiệt hại vượt
quá số tiền được bồi thường theo đơn bảo hiểm hàng hải hoặc lẽ ra được bồi thường
theo đơn bảo hiểm hàng hải và dù có hay không có bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc
biệt.
+ Tài sản bị cướp hay mất cắp
- Những thiệt hại mang tính hậu quả dưới bất kỳ hình thức nào (ví dụ như gián
đoạn kinh doanh, mất thu nhập, ô nhiễm môi trường ) trừ thiệt hại về tiền thuê nhà
nếu tiền thuê nhà được xác nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
19

- Những thiệt hại gây ra cho bên thứ ba

Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
20

chi trả tổn thất được chính xác và nó giúp cho người được bảo hiểm nhận đúng những
gì mà quyền lợi của họ phải được nhận. Số tiền bảo hiểm phải do người tham gia bảo
hiểm và nhà bảo hiểm thoả thuận trên cơ sở sổ sách kế toán của đơn vị tham gia bảo
hiểm và sự kiểm tra của nhà bảo hiểm. Nó có thể cao hơn (không quá 10%) thấp hơn
hoặc bằng giá trị bảo hiểm. Trong trường hợp người bảo hiểm muốn bảo hiểm tài sản
thấp hơn giá trị (nhưng tối thiểu không dưới 50% giá trị bảo hiểm) thì phải nói rõ và
ghi rõ trong giấy chứng nhận bảo hiểm số tiền bảo hiểm bằng bao nhiêu phần trăm giá
trị của tài sản được bảo hiểm (để khi bồi thường tổn thất bộ phận thì áp dụng nguyên
tắc bồi thường theo tỉ lệ).
Trong trường hợp số lượng tài sản (hàng hóa trong kho, trong cửa hàng )
thường xuyên thay đổi (tăng-giảm) thì có thể bảo hiểm theo giá trị trung bình hoặc giá
trị tối đa (còn gọi là giá trị điều chỉnh).
- Bảo hiểm theo giá trị trung bình
Trường hợp bảo hiểm theo giá trị trung bình, người tham gia bảo hiểm ước tính
và thông báo cho nhà bảo hiểm giá trị của số hàng hoá trung bình có trong kho, trong
cửa hàng trong thời hạn bảo hiểm. Giá trị trung bình này được coi là số tiền bảo hiểm.
Phí bảo hiểm ước tính trên cơ sở giá trị trung bình. Khi có tổn thất xảy ra thuộc trách
nhiệm bảo hiểm, nhà bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng không vượt quá giá
trị trung bình đã khai báo.
- Bảo hiểm theo giá trị tối đa
Trong trường hợp này, số tiền bảo hiểm được xác định như sau:
+ Người tham gia bảo hiểm ước tính và thông báo cho nhà bảo hiểm giá trị của
số hàng hoá tối đa có thể đạt vào một thời điểm nào đó trong thời hạn bảo hiểm. Phí
bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị tối đa này nhưng chỉ thu trước 75%. Khi tổn thất
xảy ra thuộc trách nhiệm bảo hiểm, nhà bảo hiểm sẽ bồi thường thiệt hại thực tế nhưng
không vượt quá giá trị tối đa đã khai báo.
+ Đầu mỗi tháng hoặc mỗi quý (tuỳ theo sự thoả thuận của 2 bên) Người được

Tỉ lệ phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm sẽ là những cơ sở để xác định phí bảo hiểm.
* Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm là cơ sở đầu tiên và rất quan trọng để xác định phí bảo hiểm mà
người tham gia bảo hiểm phải đóng góp. Trong cùng một điều kiện, thì phí bảo hiểm sẽ
tỷ lệ thuận với giá trị của tài sản được bảo hiểm.
* Tỷ lệ phí bảo hiểm
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
22

Tuỳ vào từng loại công trình khác nhau, điều kiện phòng cháy chữa cháy
(PCCC) khác nhau thì sẽ có tỉ lệ phí khác nhau. Muốn xác định tỷ lệ phí bảo hiểm phải
dựa trên cơ sở sau:
- Vật liệu công trình: người ta chia làm 3 loại
+ Loại 1: vật liệu khó bắt lửa và có khả năng chịu nhiệt tốt như bê tông, cốt thép,
đá ;loại này sử dụng cho công trình loại D (Discount class: là công trình phải đạt các
yêu cầu về bộ phận chịu lửa và bộ phận không chịu lực).
+ Loại 2: vật liệu trung gian là loại vật liệu hỗn hợp chứa nhiều chất hoá học trộn
với vật liệu thiên nhiên, khả năng chịu lửa không tốt bằng vật liệu nặng; loại này sử
dụng cho công trình loại N (Neutral class: không đạt tiêu chuẩn như loại D nhưng ít
nhất các bộ phận chịu lực và các cấu kiện khác cũng phải làm bằng vật liệu khó cháy).
+ Loại 3: vật liệu nhẹ, nhìn chung loại vật liệu này dễ bắt lửa và được sử dụng để
xây dựng công trình loại L (là loại công trình không đạt được các yêu cầu như loại D
và N)
- Hệ thống phòng cháy chữa cháy
Đây là một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến việc xác định tỷ lệ phí.
Công tác phòng cháy chữa cháy là một yếu tố quan trọng nhất làm giảm khả năng
xảy ra tổn thất. Nếu công tác phòng cháy chữa cháy được đảm bảo, trang thiết bị tốt để
hạn chế thấp nhất những rủi ro xảy ra thì tỷ lệ phí bảo hiểm sẽ được tính thấp hơn.
Mặt khác ngày càng có nhiều các công ty bảo hiểm phi nhân thọ xuất hiện làm

cơ bản, các công ty bảo hiểm phải nghiên cứu trên cơ sở thống kê tình hình thực tiễn
xảy ra rủi ro ở địa phương hay ở quốc gia mà công ty tiến hành triển khai nghiệp vụ
bảo hiểm hoả hoạn. Hiện nay biểu phí bảo hiểm hoả hoạn ở Việt Nam được xây dựng
trên cơ sở nghiên cứu áp dụng tại Việt Nam của công ty tái bảo hiểm Munich
(MunichRe).

Bảng 1: Biểu phí áp dụng chung cho tất cả các ngành
Loại công trình
Nhà làm việc, văn phòng
Nhà loại D
Nhà loại N
Phí cơ bản (
0
/
00
)
1,2
1,5
2,0
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Cao Lª Thu Trang A12– K38 §HNT
24

Nhà loại L
Nhà sản xuất đang xây dựng với số tiền bảo hiểm
tăng dần theo tiến độ thi công.
Với số tiền bảo hiểm cố định

1,5
1,2

Kho (bao gồm cả tháp, hầm, bể chứa)
Kho với rủi ro cháy rất thấp
Kho với rủi ro cháy thấp
Kho với rủi ro cháy trung bình
Kho với rủi ro cháy tương đối cao
Kho với rủi ro cháy rất cao

1,0
1,5
2,3
3,5
5,0
(Nguồn: Bộ tài chính)
Đối với các loại kho, mức độ được đánh giá tuỳ theo diện tích của kho, chiều cao
của kho. Các kho 943-: -945 phải cộng thêm 50% phí nếu diện tích chứa hàng vượt quá
7500m² hoặc chiều cao xếp hàng vượt quá 7,5m mà không có các phương tiện phòng
cháy chữa cháy tự động như Sprinkler, hệ thống chữa cháy bằng CO
2
v.v
- Tỷ lệ phí bảo hiểm còn phụ thuộc vào hình thức bao gói của hàng hóa. Bao bì
hàng hoá chia làm 5 loại:
p1: Không có bao bì
p2: Bao bì bằng chất không cháy, phủ kín hàng hoá và có độ dày bằng nhau. Nếu
không phủ kín hoặc không có độ dày bằng nhau thì được xếp vào p1
p3: Bao bọc một phần bằng nhựa dễ cháy
p4: Bọc kín bằng nhựa xếp
Để nhận biết ta dựa vào các dấu hiệu sau:
+ Nếu hàng hoá được chứa trên giá gỗ thì được xếp vào loại đóng gói p3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status