Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản với việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn trong các doanh nghiệp nhà nước - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Một nền kinh tế mạnh và vững chắc luôn gắn liền với sự phát triển mạnh
và có hiệu quả của khu vực doanh nghiệp, trong đó hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của DNNN (hiện đang tạo ra hơn 40% GDP, gần 70% giá trị công
nghiệp và nắm giữ phần lớn số vốn sản xuất xã hội) sẽ ảnh hởng rất lớn đến quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH - HĐH. Với thực trạng về vốn
trong các DNNN nh hiện nay thì việc giải quyết nhu cầu bức xúc về vốn cho
khu vực này là rất cần thiết. Song mấu chốt của vấn đề là vốn đa vào đâu và đợc
quản lý sử dụng nh thế nào ? Tình hình sẽ ra sao nếu nh DNNN tiếp tục tạo ra
những sản phẩm thiếu sức cạnh tranh và không tiêu thụ đợc ? Trớc những khó
khăn của khu vực DNNN nh vậy thì lý thuyết tuần hoàn và chủ chuyển của t
bản có ý nghĩa thực tiễn và cũng lớn trong việc quản lý DNNN trong cơ chế thị
trờng hiện nay. Nghiên cứu vấn đề này Nhà nớc và các doanh nghiệp sẽ biết
cách sử dụng vốn một cách hợp lý trong từng giai đoạn của quá trình sản xuất
giúp quay vòng vốn nhanh, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Hoạt động sản xuất
kinh doanh của DNNN có hiệu quả góp phần làm cho đất nớc phát triển nhanh
mạnh trên con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội, rút ngắn khoảng cách tụt hậu so
với các nwocs trong khu vực và trên thế giới. Đây cũng chính là lý do em chọn
đề tài nghiên cứu cho mình là : Lý luận tuần hoàn và chu chuyển T Bản với
việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong các doanh nghiệp Nhà nớc.
Với trình độ, nhận thức cha cao nên trớc một đề tài lớn và phức tạp chắc
chắn bài viết còn nhiều hạn chế, em hy vọng sẽ nhận đợc lời góp ý chân thành
của thầy để bài viết tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nội dung chính
A. Trình bày lý luận tuần hoàn và chu chuyển T Bản
I. Tuần hoàn t bản
1. Ba giai đoạn vận động và sự biến hoá hình thái của T bản
T bản luôn luôn vận động và trong quá trình vận động nó lớn lên không

Website: Email : Tel : 0918.775.368
TLSX đầy đủ thì sẽ không thể sử dụng đợc lao động thừa ra do ngời mua chi
phối, quyền chi phối của ngời mua đối với lao động sẽ không đem lại kết quả
gì. Còn nếu TLSX lại có nhiều hơn lao động có thể sử dụng đợc thì những
TLSX ấy không thoả mãn đợc lòng thèm thuồng lao động của chúng sẽ không
chuyển hoá đợc thành sản phẩm.
Xét quá trình T - SLĐ nhà t bản có tiền, công nhân có sức lao động, hai
bên mua bán với nhau. Đây là một quan hệ mua bán, một quan hệ hàng hoá tiền
tệ thông thờng. Về phía nhà t bản sẽ tiến hành sự kết hợp nhân tố vật và ngời
của sản xuất với nhau chứ ngời nào những nhân tố ấy đều là hàng hoá cả. Muốn
vậy trớc hết ngời này phải mua t liệu sản xuất nh là nhà xởng, máy móc v.v
Trớc khi mua sức lao động vì khi sức lao động đã vào tay hắn chi phối thì t liệu
sản xuất phải có sẵn đấy để hắn có thể dùng đợc sức lao động. Còn về phía ngời
công nhân anh ta chỉ có thể đem ứng dụng sức lao động của anh, ta vào sản xuất
khi nào sức lao động đó, sau khi đã đợc bán đi, kết hợp với t liệu sản xuất. Vậy
trớc khi bán đi, sức lao động của anh ta tồn tại tách rời t liệu sản xuất, tách rời
những điều kiện vật chất của việc ứng dụng sức lao động đó. ở trong trạng thái
tách rời nh vậy nó không thể đem dùng để trực tiếp sản xuất ra những giá trị sử
dụng cho ngời sở hữu nó, cũng không thể đem dùng để sản xuất ra những hàng
hoá mà anh ta đem bán đi để sống. Nhng một khi đem bán đi rồi thì nó trở nên
một bộ phận cấu thành của t bản sản xuất trong tay nhà t bản cũng nh t liệu sản
xuất vậy.
Nh vậy việc mua - bán thông thờng này đồng thời cũng là sự mua bán giữa
một bên mua - bán thông thờng này đồng thời cũng là sự mua bán giữa một bên
là nhà t bản chuyên mua nh thế và một bên là nhà vô sản chuyên bán nh vậy. Sở
dĩ có quan hệ mua bán kiểu đó là vì những điều kiện cần thiết để thực hiện sức
lao động - t liệu sản xuất và t liệu sinh hoạt đã bị tách rời khỏi ngời lao động, đã
trở thành tài sản của ngời không lao động. Tính chất TBCN trong việc buôn bán
trên không phải do bản thân tiền tệ gây nên mà là do qúa trình tách rời đó gây
nên và tiền tệ ở đây đã biến thành t bản tiền tệ chứ không còn là tiền tệ thông

nó đi từ lĩnh vực lu thông vào lĩnh vực sản xuất.
Qúa trình sản xuất diễn ra ở đây cũng giống nh mọi qúa trình sản xuất của
mọi hình thái xã hội là do kết hợp hai yếu tố ngời lao động và t liệu sản xuất lại
mà có. Song sự kết hợp lại yếu tố vốn hoàn toàn tách rời nhau này là do công
lao của các nhà t bản đã ứng t bản của mình ra để thực hiện. Vì vậy sức lao
động và t liệu sản xuất trở thành hình thái tồn tại của giá trị t bản ứng trớc,
chúng phân thành những yếu tố khác nhau của TBSX. Phơng thức kết hợp đặc
thù đó không chỉ là kết quả mà còn là yêu cầu của sự vận động của TB, qúa
trình sản xuất vì vậy trở thành qúa trình sản xuất TBCN. Trong khi làm chức
năng của mình t bản sản xuất tiêu dùng các thành phần của bản thân nó để biến
các thành phần ấy thành một khối lợng sản phẩm có giá trị lớn hơn. Phần tăng
thêm của giá trị sản phẩm so với giá trị của các yếu tố hình thành ra sản phẩm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
là phần thặng d lên do lao động thặng d đẻ ra. Lao động thặng d của sức lao
động là lao động không còn cho t bản, nó tạo ra giá trị thặng d cho nhà t bản
nghĩa là một giá trị mà nhà t bản không phải trả bằng vật ngang giá. Do đó sản
phẩm không chỉ là hàng hoá mà còn là hàng hoá đã mang trong mình một giá
trị thặng d. Giá trị của nó bằng sản xuất tm tức là bằng giá trị của TBSX hao
phí để chế tạo ra nó cộng với giá trị thặng d (m) do TBSX ấy đẻ ra.
Nh vậy trong giai đoạn vận động này, t bản trút bỏ hình thức t bản sản xuất
để chuyển sang hình thức t bản hàng hoá
Giai đoạn III : H - T
Dới hình thái hàng hoá của nó, t bản nhất định phải hoàn thành chức năng
hàng hoá. Tất cả các vật phẩm cấu thành ra t bản đó đều đợc sản xuất chính là
để cho thị trờng cần phải đem bán đi, phải chuyển hoá thành tiền do đó phải
thông qua vận động H - T.
ở giai đoạn trên hàng hoá đợc sản xuất ra song quá trình vận động của t
bản vẫn tiếp tục. T bản bây giờ tồn tại dới hình thái hàng hoá H nên cần đợc
bán đi để thu tiền về thì mới tiếp tục công việc kinh doanh đợc. Lúc này nhà T
bản lại xã hội trên thị trờng nhng lần này chỉ xã hội trên một thị trờng là thị tr-

tổng quá trình bắt đầu. Vì thế cho nên tổng quá trình ấy là một quá trình tuần
hoàn.
Tuần hoàn chỉ có thể tiến hành một cách bình thờng chừng nào các giai
đoạn khác nhau của nó không ngừng chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn
khác. Nếu có một sự ngừng lại trong giai đoạn T - H thì t bản tiền tệ sẽ đọng lại
thành tiền tích trữ, tiền không thể chuyển thành hàng hoá sẽ không có các điều
kiện để sản xuất hàng hoá. Nếu ngừng trệ ở giai đoạn II thì TLSX không kết
hợp đợc với sức lao động nên không có sản phẩm mới. Nếu ngừng lại ở giai
đoạn cuối H - T hàng hoá sẽ không bán đợc lu thông tắc ngẽn. Mặt khác theo
bản tính của sự vật, thì bản thân tuần hoàn lại làm cho t bản phải nằm lại ở mỗi
giai đoạn tuần hoàn trong một thời gian nhất định. T bản của mỗi nhà TBCN
trong cùng một lúc tồn tại dới 3 hình thức : t bản tiền tệ, t bản sản xuất, t bản
hàng hoá. Trong khi một bộ phận t bản tiền tệ đang biến thành t bản sản xuất thì
bộ phận khác của TBSX đang biến thành t bản hàng hoá và một bộ phận hàng
hoá lại biến thành t bản tiền tệ. Khi mọi t bản trong xã hội đều nh vậy thì sự vận
động tuần hoàn của t bản là sự vận động liên tục, không ngừng, đồng thời là sự
vận động đứt quãng không ngừng. Chính trong sự vận động mâu thuẫn đó mà t
bản tự bảo tồn, chuyển hoá giá trị và không ngừng lớn lên.
2. Sự thống nhất ba hình thái tuần hoàn của t bản công nghiệp T bản.
Trong quá trình tổng tuần hoàn của nó lần lợt mang lấy các hình thái t bản
tiền tệ, t bản sản xuất, t bản hàng hoá rồi lại trút bỏ ra và mỗi hình thái nh thế
nó hoàn thành chức năng thích hợp, t bản đó là t bản công nghiệp -công nghiệp
với ý nghĩa bao quát mọi ngành sản xuất kinh doanh theo phơng thức t bản chủ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghĩa. Do đó ở đây t bản tiền tệ, t bản sản xuất, t bản hàng hoá không phải là để
nói những loại TB độc lập. ở đây các t bản ấy là để chỉ những hình thái chức
năng đặc thù của t bản CN, t bản này lần lợt mang 3 hình thái ấy và nếu xét
trong quá trìn vận động liên tục thì mỗi một hình thái đều có thể xem là điểm
xuất phát đồng thời là điểm hồi quy của nó, tuần hoàn của TBCN cũng có thể
xem là dạng tuần hoàn của TBSX, hoặc cũng có thể là dạng tuần hoàn của t bản

H cha chuyển hoá trở lại thành tiền đã tăng thêm giá trị nó là hình thái cha
hoàn thành và còn phải tiếp tục tiến hành. Vì vậy chúng đã bao hàm tái sản
xuất. Nhìn vào công thức trên ta còn thấy nó khác hẳn các hình thức tuần hoàn
trớc ở chỗ điểm xuất phát bắt đầu bằng H, một giá trị đã tăng thêm giá trị chứ
không phải là giá trị t bản ban đầu còn đang chờ đợi ngời ra làm tăng thêm giá
trị. Điểm này làm cho nó có một số đặc điểm khác.
Trong hình thái H H sự tiêu dùng toàn bộ sản phẩm hàng hoá đ ợc giả
định là điều kê của kê của quá trình bình thờng của tuần hoàn TB. Toàn bộ hộ
tiêu dùng cá nhân bao gồm tiêu dùng cá nhân của ngời lao động và tiêu dùng
dùng cá nhân đối với bộ phận sản phẩm thặng d không đợc tích luỹ. Vậy là toàn
bộ tiêu dùng - tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng sản xuất gia nhập làm điều kiện
trong tuần hoàn H.
Trong H H, hình thái hàng hoá với TB là điều kiện tiền đề của sản xuất,
là điều tiện tiền đề hình thái đó lại quay trở lại trong nội bộ tuần hoàn cùng với
H thứ hai. Nếu H đó cha đợc sản xuất hay cha đợc tái sản xuất thì tuần hoàn sẽ
bị hãm hại. H này phải đợc sản xuất ra, thờng dới hình thái H của một t bản
công nghiệp khác. Trong tuần hoàn đó, H tồn tại thành điểm xuất phát, điểm
môi giới và điểm cuối cùng của vận động, nh vậy là nó luôn luôn tồn tại. Nó là
điều kiện liên tục của quá trình tái sản xuất.
Mặt khác tuần hoàn của t bản hàng hoá còn là hình thái làm nổi bật lên sự
liên tục của lu thông. H là điểm bắt đầu tuần hoàn và H điểm kết thức tuần
hoàn đều biểu hiện một khối lợng giá trị sử dụng đợc sản xuất ra để bán. Do đó
nếu H điểm bắt đầu tuần hoàn đòi hỏi lu thông thí điểm H cũng đòi hỏi một
quá trình lu thông mới. Hình thái tuần hoàn này còn trực tiếp bộc lộ mối quan
hệ giữa những ngời sản xuất hàng hoá với nhau. Mỗi nhà TB đều ném H vào lu
thông và dùng T đã thu đợc để mua hàng hoá tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng
cá nhân. Cả 2 loại hàng hoá này đều năm trong lu thông và cũng do các nhà TB
công nghiệp cung cấp cho nhau. Do đó hình thái tuần hoàn này không chỉ là
một hình thái vận động chung cho mọi t bản công nghiệp cá biệt mà đồng thời
còn là hình thái vận động của tổng số những t bản cá biệt, tức là hình thái vận

quá trình biêns hoá hình thái tức là tiếp tục sự tuần hoàn liên tục không ngừng.
Sự tuần hoàn của T bản nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới và lặp đi
lặp lại chứ không phải là một quá trình cô lập, riêng lẻ thì gọi là chu chuyển của
T bản.
Thời gian chu chuyển của T bản là khoảng thời gian kể từ khi TB ứng ra d-
ới một hình thức nhất định (tiền tệ, sản xuất, hàng hoá) cho đến khi nó trở về
tay nhà TB cũng dới hình thức nh thế nhng có thêm giá trị, thặng d. Muốn chu
chuyển một vòng TB trải qua 2 giai đoạn lu thông và một giai đoạn sản xuất nên
thời gian chu chuyển của TB là tổng thời gian lu thông và thời gian sản xuất.
a. Thời gian sản xuất của t bản
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thời gian sản xuất của t bản là thời gian TB nằm trong lĩnh vực sản xuất.
Thời gian sản xuất bao gồm :
- Thời gian lao động tức là thời gian mà ngời lao động sử dụng t liệu lao
động tác động vào đối tợng lao động để tạo ra sản phẩm. Đây là thời gian duy
nhất tạo ra giá trị thặng d của nhà TB.
- Thời gian gián đoạn lao động tức là thời gian để đối tợng lao động chịu
tác động của tự nhiên mà không cần lao động của con ngời nh trờng hợp gây
men cho rợu, gạch để phơi khô.
-Thời gian dự trữ sản xuất là thời gian mà TBSX đã sẵn sàng làm điều
kiện cho quá trình sản xuất nhng cha phải là yếu tố hình thành sản phẩm cũng
cha phải là yêú tố hình thành giá trị. Bộ phận TB này là ở nhng tình trạng nay là
điều kiện để tiến hành không ngừng quá trình sản xuất.
ở đây, thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất là thời
gian không tạo ra giá trị và giá trị thặng d. Do đó rút ngắn thời gian này là giảm
bớt sự chênh lệch giữa thời gian sản xuất với thời gian lao động là vấn đề có ý
nghĩa quan trọng đối với các xí nghiệp TBCN. Sự dài ngắn của thời gian lao
động phụ thuộc vào nhiều yếu tố
+ Tổ chức của ngành sản xuất, tính chất công việc, chẳng hạn thì làm việc
để sản xuất đầu máy xe lửa thì dài hơn thời kỳ làm việc để kéo sợi.

2. T bản cố định và t bản lu thông
Thời gian chu chuyển của T bản bằng toàn bộ thời gian chu chuyển của
các bộ phận t bản ứng ra để tiến hành sản xuất. Nhng thực tế phơng thức chu
chuyển của các bộ phận t bản là không giống nhau. Căn cứ vào phơng thức chu
chuyển giá trị của TB ngời ta chia TB thành TB cố định và t bản lu thông.
T bản cố định là bộ phận T bản sản xuất mà bản thân nó tham gia toàn bộ
vào quá trình sản xuất nhng giá trị thì lại không chuyển hết một lần mà chuyển
dần từng phần một vào sản phẩm. Trớc hết bộ phận đợc xếp vào t bản cố định là
bộ phận T bản tồn tại dới hình thái t liệu lao động nh máy móc, thiết bị, nhà x-
ởng đang đợc sử dụng trong quá trình sản xuất. Hình thái sử dụng của những bộ
phận này luôn đợc duy trì và tồn tại nh lúc chúng mới gia nhạo vào quá trình lao
động. Chức năng t liệu lao động trong quá trình sản xuất giữ chúng lại và do
vậy bộ phận giá trị TB ứng ra đợc cố định lại dới hình thái ấy. Bộ phận t bản
này lu thông không phải dới hình thái giá trị sử dụng của nó, mà chỉ giá trị của
nó mới lu thông và chuyển dần từng phần một giá trị đó vào sản phẩm. Phần giá
trị đó không ngừng giảm cho đến khi TLLĐ trở thành vô dụng. Khi t liệu lao
động càng bền thì nó càng chậm hao mòn bằng nhiều giá trị t bản bất biến sẽ đ-
ợc cố định dới hình thái sử dụng ấy trong một thời gian càng lâu bất nhiêu.
Ngoài ra t bản cố định còn bao gồm bộ phận TB tồn tại dới hình thái các
TLSX mà xét về mặt giá trị và cả về phơng thức lu thông giá trị cũng nh TLLĐ
đã nói trên. Đây là trờng hợp những chất dùng để cải tạo chất đất. Những chất
này đem vào trong đất những chất hoá học làm giàu dinh dỡng cho đất và chúng
nằm lại trong đất trong nhiều thời kỳ sản xuất. Trong trờng hợp này không phải
h
H
C
C
n
=
Website: Email : Tel : 0918.775.368

TBCĐ đòi hỏi những chi phí bảo quản đồng bộ. Việc bảo quản ấy đợc thực hiện
một phần ở bản thân qúa trình lao động sử dụng nó, bảo tồn nó và chuyển giá trị
của nó vào sản phẩm. Nhng để bảo quản tốt TBCĐ còn đòi hỏi phải thực sự chi
phí mức lao động nữa. Máy móc yêu cầu thờng xuyên phải đợc lau chùi. Đây là
Website: Email : Tel : 0918.775.368
việc phụ nhng nếu không là thì máy móc sẽ nhanh hỏng. Ngoài ra TBCĐ còn
cần đợc tu bổ, sửa chữa do đó đòi hỏi phải có những khoản chi về TB riêng.
Thờng mỗi TBCĐ đầu t cho một ngành CN nhất định đều đợc dự tính theo
kinh nghiệm những công văn lau chùi, những yêu cầu tu sửa sau những quãng
thời gian lao động nhất định cũng nh sửa chữa thông thờng và bất thờng có thể
xảy ra. Những chi phí cho việc bảo quản và sửa chữa đó đợc phân phối bình
quân vào suốt cuộc đời phục vụ của TB và đợc tính vào giá cả sản phẩm đợc sản
xuất ra. Nh vậy là những chi phí đó đã đợc dự tính trớc dễ phân phối đều cho
các vòng chu chuyển của TB ngay từ vòng đầu. Số TB chi ra cho CN bảo quản,
sửa chữa là một thành phần có tổ chức đặc biệt, nó không thể xếp vào TB cố
định cũng không phải là TB lu động nhng nó là một bộ phận trong chi phí thờng
xuyên nên đợc xếp vào TB lu động.
Trên thực tế ranh giới giữa việc thực sự là sửa chữa và thay thế, giữa chi
phí bảo quản và chi phí đổi mới có phần nào không rõ ràng. Đặc biệt trong nông
nghiệp hôm nay cha sử dụng nhiều cơ khí nên việc phân biệt này càng trở nên
khó thực hiện.
Trong qúa trình sản xuất của các doanh nghiệp để tránh hao mòn vô ích
cũng nh ra sức tiết kiệm các chi phí bảo quản và sửa chữa tăng cờng hiệu suất
các nhà TB tìm mọi cách để thu hồi TB về nhanh và thu nhiều lợi nhuận hơn.
Để thực hiện đợc điều này thì ngoài các thủ đoạn thông thờng nh tăng cờng độ
lao động, kéo dài ngày lao động các nhà TB còn bóc lột cả thời gian nghỉ của
công nhân, buộc công nhân lao động trong điều kiện cực khổ thậm chí không
bảo đảm an toàn lao động cho công nhân. Điều này dẫn tới mâu thuẫn giai cấp
trong XHTB trở nên gay gắt. Dới chế độ XHCN khác hẳn những việc tận dụng
khái niệm công suất của máy móc để tránh hao mòn vô hình, chú ý bảo quản

Còn của TB thứ hai là :
Sở dĩ hiện tợng này là vì tuy hai TB khả biến ứng trớc nh nhau nhng do
chu chuyển khác nhau nên t bản khả biến thực tế sử dụng lại khác nhau và do
đó tuy tỷ suất giá trị thặng d thực tế nh nhau lại dẫn đến tỷ suất giá trị thặng d
hàng năm khác nhau.
Hiện tợng này làm cho ngời ta có ấn tợng rằng tỷ suất giá trị thặng d
không phải chỉ phụ thuộc vào trình độ bóc lột sức lao động do TB khả biến àm
cho hoạt động mà còn phụ thuộc vào những ảnh hởng không thể giải thích đợc
do qúa trình lu thông để ra. Do đó, nhà TB rút ngắn thời gian sản xuất và thời
gian lu thông để tăng tốc độ chu chuyển của TB.
%100100
25000
25000
=
x
%200100
25000
25000
=
x


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status