luận văn 10đ khoa kế toán HVTC TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ BIA – RƯỢU – NƯỚC GIẢI KHÁT HÀ NỘI - Pdf 28

i
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Họ và tên: Nguyễn Thu Thủy
Lớp: CQ48/21.06
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHỆ BIA – RƯỢU – NƯỚC GIẢI KHÁT HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kế toán doanh nghiệp
Mã số: 21
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S NGUYỄN THỊ MỸ TRINH
HÀ NỘI – 2014
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đam đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế
của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thu Thủy
iii
MỤC LỤC
Trang bìa i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt trong luận văn vi
Danh mục sơ đồ trong luận văn vii
Danh mục bảng biểu trong luận văn viii
BỘ TÀI CHÍNH I
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH I

8 CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
9 CPNCTT Chi phí nhân công trực tiếp
10 CPSXC Chi phí sản xuất chung
11 PMKT Phần mềm kế toán
12 TSCĐ Tài sản cố định
13 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
14 PX Phân xưởng
15 NVL Nguyên vật liệu
16 GTGT Giá trị gia tăng
17 KKTX Kê khai thường xuyên
18 KKĐK Kiểm kê định kỳ
19 KC Kết chuyển
20 NKC Nhật ký chung
21 NK, PNK Nhập kho, Phiếu nhập kho
22 XK, PXK Xuất kho, Phiếu xuất kho
vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
Số sơ
đồ
Tên sơ đồ Trang
1.1
Sơ đồ các nghiệp vụ kế toán chủ yếu về CPNVLTT
14
1.2
Sơ đồ các nghiệp vụ kế toán chủ yếu về CPNCTT
16
1.3
Sơ đồ các nghiệp vụ kế toán chủ yếu về CPSXC
18
1.4

Nền kinh tế nước ta hiện nay là một nền kinh tế thị trường, các doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển buộc phải đáp ứng tốt nhu cầu thị trường,
hay nói cách khác các doanh nghiệp phải tuân thủ đồng thời các quy luật cung
cầu, quy luật giá trị và đặc biệt là quy luật cạnh tranh trên thị trường. Để sản
phẩm của mình có thể đứng vững trên thị trường, doanh nghiệp phải thúc đẩy
công tác nghiên cứu thị trường, thay đổi mẫu mã sản phẩm cho phù hợp, nâng
cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Muốn làm được điều đó, doanh
nghiệp phải sử dụng và quản lý chi phí sản xuất một cách có hiệu quả, phải
hạch toán chính xác, đầy đủ, kịp thời các chi phí sản xuất bỏ ra để tính chính
xác giá thành sản phẩm. Từ đó có những biện pháp giúp doanh nghiệp nâng
cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, việc hạ giá thành sản phẩm của
doanh nghiệp đem lại sự tăng tích luỹ cho nền kinh tế. Do đó, hạ giá thành
sản phẩm không chỉ là vấn đề của các doanh nghiệp mà còn là vấn đề quan
tâm của toàn ngành, toàn xã hội.
Làm tốt công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ
giúp doanh nghiệp tính toán giá thành một cách chính xác để từ đó xác định
được kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời sẽ cung cấp những
thông tin cần thiết cho bộ máy quản lý để các nhà quản trị đưa ra những biện
pháp chiến lược phù hợp, giúp doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả, chủ động
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển công nghệ Bia- Rượu-Nước giải
khát Hà Nội chuyên đầu tư, sản xuất, mua bán các mặt hàng rượu, bia, nước
giải khát, cồn lương thực, thực phẩm, đường,… Sản phẩm của công ty luôn
gặp phải sự cạnh tranh rất lớn từ các công ty cùng ngành trong và ngoài nước.
ix
Vì vậy, vấn đề hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh là vấn
đề quan tâm hàng đầu của công ty.
Là một sinh viên của trường Học Viện Tài Chính, trải qua quá trình
thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển công nghệ Bia- Rượu-Nước

Nguyễn Thu Thủy
1
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Sự cần thiết khách quan phải tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
1.1.1. Khái niệm, bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Trong một doanh nghiệp, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
phải có đủ ba yếu tố cơ bản là: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao
động. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình tiêu hao các yếu tố đó để tạo
ra các loại sản phẩm lao vụ và dịch vụ. Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá
trình sản xuất kinh doanh tạo ra các chi phí tương ứng.
CPSX là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống,
lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra
trong quá trình hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc cung cấp lao vụ,
dịch vụ trong một kỳ nhất định.
Như vậy bản chất của CPSX là:
- Những phí tổn (hao phí) về các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất
gắn liền với mục đích kinh doanh.
- Lượng chi phí phụ thuộc vào khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu hao
trong kỳ và giá cả của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí.
- CPSX được đo lường bằng thước đo tiền tệ và được xác định trong một
khoảng thời gian xác định.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những hao phí
về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác được tính trên một
khối lượng sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định.
Như vậy bản chất của giá thành sản phẩm là giá trị của các yếu tố chi
phí được chuyển dịch vào những sản phẩm đã hoàn thành.

dang cuối kỳ
Giá thành sản phẩm mang tính chủ quan, việc giới hạn chi phí tính vào giá
thành sản phẩm gồm những chi phí nào còn tùy thuộc vào quan điểm tính
toán xác định chi phí, doanh thu và kết quả, cũng như quy định của chế độ
quản lý kinh tế - tài chính, chế độ kế toán hiện hành. Những quan điểm và
quy định đó đôi khi không hoàn toàn phù hợp với bản chất của chi phí và tính
giá thành sản phẩm, đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải nhận thức
rõ ràng, đầy đủ để sử dụng thông tin cho thích hợp.
SV: Nguyễn Thu Thủy Lớp: CQ48/21.06
3
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
1.1.2. Yêu cầu quản lý đối với chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm
Trong quản lý, người ta sử dụng nhiều công cụ khác nhau nhưng trong
đó kế toán luôn được coi là công cụ quản lý hữu hiệu nhất. Với chức năng của
nó kế toán cung cấp cho các nhà quản trị số liệu về chi phí của từng bộ phận
cũng như toàn doanh nghiệp để đánh giá, phân tích tình hình thực hiện định
mức, dự toán chi phí trong doanh nghiệp. Xét trên góc độ quản lý, người quản
lí cần biết rõ nội dung cấu thành của chi phí và giá thành từ đó hạn chế ảnh
hưởng của yếu tố tiêu cực, phát huy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tích
cực, khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả lao động vật tư, tiền vốn,
không ngừng nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Đặc biệt, trong nền kinh tế mở với nhiều chủng loại hàng hoá phong
phú đa dạng thì vấn đề quyết định sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp là giá
thành sản phẩm. Do đó, để thực hiện được mục tiêu hạ giá thành sản phẩm, kế
toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm cần thực hiện tốt các yêu cầu
sau:
- Thường xuyên kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất ở các
bộ phận phân xưởng trong doanh nghiệp.
- Xác định đúng đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính giá thành

- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp theo
từng sản phẩm, từng hợp đồng, vạch ra khả năng và các biện pháp hạ giá
thành một cách hợp lý và có hiệu quả .
SV: Nguyễn Thu Thủy Lớp: CQ48/21.06
5
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
- Xác định đúng đắn và bàn giao thanh toán kịp thời cho các hợp đồng
đến hạn. Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng sản phẩm dở dang theo
nguyên tắc quy định.
- Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng hợp
đồng từng bộ phận, tổ, đội sản xuất trong từng thời kỳ nhất định, kịp thời lập
các báo cáo về CPSX và giá thành, cung cấp chính xác kịp thời các thông tin
hữu ích về CPSX và giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo
doanh nghiệp .
1.2. Phân loại CPSX và giá thành sản phẩm
1.2.1. Phân loại CPSX
Trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, CPSX kinh doanh gồm
nhiều loại có nội dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng trong quá
trình sản xuất cũng khác nhau. Do đó yêu cầu quản lý đối với từng loại chi
phí cũng khác nhau. Việc quản lý sản xuất, quản lý CPSX không thể chỉ dựa
vào số liệu phản ánh tổng hợp CPSX mà còn phải căn cứ vào số liệu cụ thể
của từng loại chi phí riêng biệt để phục vụ cho yêu cầu kiểm tra và phân tích
toàn bộ CPSX hoặc từng yếu tố chi phí ban đầu của chúng theo từng sản
phẩm, theo từng nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí.
Do đó, phân loại CPSX là một yêu cầu tất yếu để hạch toán chính xác
CPSX và tính giá thành sản phẩm. Phân loại CPSX một cách khoa học và
thống nhất không những có ý nghĩa quan trọng đối với công tác kế toán CPSX
và tính giá thành sản phẩm mà còn là tiền đề quan trọng để kế hoạch hoá,
kiểm tra và phân tích CPSX của toàn bộ doanh nghiệp, thúc đẩy không ngừng
việc sử dụng tiết kiệm, hợp lý CPSX, hạ giá thành, phát huy hơn nữa vai trò

Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Bao gồm toàn bộ số tiền phải trả về các dịch vụ đã sử dụng vào hoạt
động sản xuất kinh doanh do các đơn vị khác cung cấp như: chi trả tiền điện,
tiền nước, điện thoại
- Yếu tố chi phí bằng tiền khác :
Đó là các chi phí bằng tiền ngoài các chi phí đã trả kể trên như: thuế
môn bài, thuế đất,
Đặc điểm của cách phân loại này là dựa vào hình thái nguyên thuỷ của
toàn bộ chi phí bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh, không phân biệt chi
phí đó dùng ở đâu, dùng cho sản phẩm nào, nếu doanh nghiệp tự sản xuất ra
được một phần nguyên vật liệu và lại dùng nguyên vật liệu đó vào sản xuất thì
những chi phí để tạo ra nguyên vật liệu đó phải được hạch toán vào những
yếu tố liên quan. Vì vậy, qua cách phân loại trên ta thấy rõ được mức chi phí
về lao động sống và lao động vật hoá trong toàn bộ CPSX kinh doanh trong
một thời kỳ của doanh nghiệp và nó còn cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng
yếu tố cấu thành chi phí trong giá thành sản phẩm, lao vụ, làm căn cứ xây
dựng kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch huy động và sử dụng lao động vào
phục vụ cho công tác thống kê theo yếu tố.
* Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế (hay phân loại chi phí
theo khoản mục giá thành)
Mỗi yếu tố chi phí phát sinh đều có mục đích và công dụng nhất định
đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Căn cứ vào mục đích và công dụng
kinh tế của chi phí để sắp xếp thành những khoản mục chi phí khác nhau. Mỗi
khoản mục chi phí chỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích và công
dụng, không phân biệt nội dung kinh tế. Theo cách phân loại này toàn bộ
CPSX kinh doanh trong kỳ được chia thành các khoản mục chi phí sau đây:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
SV: Nguyễn Thu Thủy Lớp: CQ48/21.06
8
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

phí đã nêu trên phát sinh ở phân xưởng, tổ, đội sản xuất như : chi về văn
phòng phẩm, bảo hộ lao động, công tác phí
Phân loại chi phí theo công dụng của chi phí có tác dụng phục vụ cho
yêu cầu quản lý CPSX theo định mức (định mức tiêu hao nguyên, nhiên vật
liệu, định mức tiền lương ), theo dự toán chi phí, theo kế hoạch giá thành.
Kế toán sử dụng cách phân loại này để tập hợp chi phí cấu thành giá thành sản
xuất của sản phẩm, lao vụ, làm tài liệu tham khảo để lập định mức CPSX và
lập kế hoạch giá thành sản xuất cho kỳ sau. Đồng thời thông qua đó có thể
phân tích đánh giá những khoản mục chi phí bất hợp lý từ đó tìm ra biện pháp
thích ứng nhằm giảm bớt từng loại chi phí để hạ giá thành.
Ngoài hai cách phân loại chủ yếu trên, phục vụ cho công tác quản lý và
công tác kế toán CPSX còn có thể phân loại theo các tiêu thức khác như: căn
cứ vào mối quan hệ giữa CPSX kinh doanh với số lượng, khối lượng sản
phẩm hoàn thành để chia CPSX thành chi phí cố định và chi phí biến đổi; căn
cứ vào phương pháp kế toán tập hợp chi phí để chia chi phí thành chi phí trực
tiếp và chi phí phân bổ gián tiếp
1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
Trong sản xuất sản phẩm công nghiệp, để giúp cho việc nghiên cứu và
quản lý tốt giá thành sản phẩm, ta cần phân biệt các loại giá thành.
* Phân loại giá thành theo phạm vi chi phí giá thành:
+ Giá thành sản xuất toàn bộ: là loại giá thành trong đó bao gồm toàn bộ
biến phí và định phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, CPSX chung tính cho sản phẩm hoàn thành.
SV: Nguyễn Thu Thủy Lớp: CQ48/21.06
10
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
+ Giá thành sản xuất theo biến phí: là loại giá thành mà trong đó chỉ bao
gồm biến phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
tiếp, CPSX chung tính cho sản phẩm hoàn thành.
+ Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất: là loại biến

quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất sản phẩm
- Khả năng, trình độ và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Đối tượng kế toán CPSX trong các doanh nghiệp có thể là: Từng sản
phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng; Từng phân xưởng,
giai đoạn công nghệ sản xuất; Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn
doanh nghiệp.
1.3.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Mỗi loại CPSX thường liên quan đến nhiều đối tượng kế toán khác
nhau. Vì vậy phải xác định đúng đắn đối tượng liên quan để tổ chức tập hợp
CPSX chính xác. Thông thường có hai phương pháp tập hợp CPSX sau:
* Phương pháp tập hợp trực tiếp:
Phương pháp này được áp dụng với các chi phí có thể quy nạp, tập hợp
cho từng đối tượng chịu chi phí. Với những chi phí sử dụng có liên quan trực
tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt ( sản phẩm đơn chiếc, hàng
loạt sản phẩm) thì hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng đó.
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp sản
xuất vì nó tạo điều kiện cho kế toán tính giá thành và người quản lý đánh giá
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
* Phương pháp phân bổ gián tiếp:
SV: Nguyễn Thu Thủy Lớp: CQ48/21.06
12
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Phương pháp này được áp dụng đối với các chi phí gián tiếp
(liên quan đến nhiều đối tượng). Do đó phải lựa chọn tiêu thức phân bổ chi
phí cho các đối tượng liên quan theo công thức sau:
Bước 1: H =
T
C

Trong đó: H : hệ số phân bổ chi phí

tế phát sinh
trong kỳ
=
Trị giá
NVLTT
còn lại
đầu kỳ
+
Trị giá
NVLTT
xuất dùng
trong kỳ
-
Trị giá
NVLTT
còn lại cuối
kỳ
-
Trị giá phế
liệu thu hồi
(nếu có)
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chủ yếu là chi phí trực tiếp nên thường
được tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng. Trong trường hợp chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí mà không thể
tập hợp trực tiếp được thì sử dụng phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp.
Chứng từ kế toán sử dụng chủ yếu trong kế toán chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp là: phiếu xuất kho, phiếu báo nguyên vật liệu dùng chưa hết đem lại
nhập kho, chứng từ phản ánh số lượng, đơn giá phế liệu thu hồi,…
Để kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng TK 621- chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp.

15
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
b) Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân
trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ gồm:
tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích BHXH,
BHYT, KPCĐ theo số tiền lương của công nhân sản xuất.
Chi phí nhân công trực tiếp thường là các khoản chi phí trực tiếp nên
nó được tập hợp trực tiếp vào các đối tượng tập hợp chi phí liên quan. Trong
trường hợp không tập hợp trực tiếp được thì chi phí nhân công trực tiếp được
tập hợp chung sau đó kế toán sẽ phân bổ cho từng đối tượng theo một tiêu
chuẩn phân bổ hợp lý.
Chứng từ kế toán thường sử dụng trong kế toán chi phí nhân công trực
tiếp là: bảng phân bổ tiền lương, bảng thanh toán tiền lương, bảng tổng hợp
thanh toán tiền lương,…
Để kế toán chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622 – chi
phí nhân công trực tiếp.
Sơ đồ 1.2
Sơ đồ các nghiệp vụ kế toán chủ yếu về CPNCTT
SV: Nguyễn Thu Thủy Lớp: CQ48/21.06


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status