MỤC LỤC
Trang
2.1.1.1.TÊN, ĐỊA CHỈ CỦA CÔNG TY 34
2.1.1.2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY 34
2.1.2.CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA DOANH NHIỆP 36
2.1.3. ĐẶC ĐIỂM SẢN PHẦM VÀ QUY TRÌNH SẢN XUẤT. KINH DOANH SẢN PHẨM 37
2.1.3.1. ĐẶC ĐIỂM, CHỦNG LOẠI SẢN PHẨM 37
2.1.3.2: QUY TRÌNH SẢN XUẤT. KINH DOANH SẢN PHẨM 37
2.1.4. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN 41
2.1.4.1. CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CHUNG 41
2.1.4.2. TỔ CHỨC VẬN DỤNG HỆ THỐNG CHỨNG TỪ KẾ TOÁN 42
2.1.4.3. TỔ CHỨC VẬN DỤNG HỆ THỐNG TÀI KHOẢN 43
2.1.4.4. TỔ CHỨC VẬN DỤNG HỆ THỐNG SỔ SÁCH KẾ TOÁN 43
2.1.4.5. TỔ CHỨC HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN 44
2.1.4.6. TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN 45
GIÁ THÀNH BAO GỒM 3 KHOẢN MỤC: CHI PHÍ NVLTT, CHI PHÍ NCTT VÀ CHI PHÍ SẢN XUẤT
CHUNG 75
i
DANH MỤC BẢNG BIỂU
2.1.1.1.TÊN, ĐỊA CHỈ CỦA CÔNG TY 34
2.1.1.2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY 34
2.1.2.CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA DOANH NHIỆP 36
2.1.3. ĐẶC ĐIỂM SẢN PHẦM VÀ QUY TRÌNH SẢN XUẤT. KINH DOANH SẢN PHẨM 37
2.1.3.1. ĐẶC ĐIỂM, CHỦNG LOẠI SẢN PHẨM 37
2.1.3.2: QUY TRÌNH SẢN XUẤT. KINH DOANH SẢN PHẨM 37
2.1.4. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN 41
2.1.4.1. CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CHUNG 41
2.1.4.2. TỔ CHỨC VẬN DỤNG HỆ THỐNG CHỨNG TỪ KẾ TOÁN 42
2.1.4.3. TỔ CHỨC VẬN DỤNG HỆ THỐNG TÀI KHOẢN 43
2.1.4.6. TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN 45
2.2.6. Đánh giá sản phẩm dở dang 75
GIÁ THÀNH BAO GỒM 3 KHOẢN MỤC: CHI PHÍ NVLTT, CHI PHÍ NCTT VÀ CHI PHÍ SẢN XUẤT
CHUNG 75
iii
LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá và hội nhập đang là một xu thế khách quan và diễn ra nhanh
chóng. Sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập WTO đánh dấu thời kỳ thuận lợi mà
cũng nhiều thách thức của các doanh nghiệp Việt Nam. Để tồn tại và phát triển trong
nền kinh tế hội nhập này, các doanh nghiệp buộc phải nâng cao năng lực cạnh tranh
của hàng hoá dịch vụ cũng như Nhà nước phải nâng cao năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế để cơ chế thị trường vẫn nằm trong vòng kiểm soát của Nhà nước. Năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế lại phụ thuộc vào cơ chế chính sách của Nhà nước, năng lực
và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp hoạt động có hiệu
quả phải dựa trên cơ sở là hành lang pháp luật ổn định, chặt chẽ, linh hoạt và các chính
sách quản lý có hiệu quả của nhà quản trị doanh nghiệp.
Ngành công nghiệp sản xuất là một ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân,
chiếm một vị trí quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội. Để phát huy vai trò
quan trọng cũng như năng lực của mình, các doanh nghiệp sản xuất cần phải sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực, luôn nắm bắt kịp thời và đầy đủ mọi thông tin chi tiết về
chi phí, giá thành, chất lượng sản phẩm để có những quyết định kinh tế đúng đắn.
Công ty Cổ phần chè Trần Phú là một doanh nghiệp sản xuất điển hình với sản phẩm
chủ yếu là chè xanh, chè đen… Trong nhiều năm hoạt động, cũng như nhiều doanh
nghiệp sản xuất khác, bài toán chi phí, giá thành luôn đặt ra cho Công ty nhiều thách
thức. Vì thế, em chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm chè tại Công ty Cổ phần chè Trần Phú” để tìm hiểu thực tế công tác kế
toán phần hành này tại Công ty.
Qua quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần chè Trần Phú, được sự giúp đỡ của
các cô chú phòng Tài chính Kế toán Công ty và sự chỉ bảo của giáo viên hướng dẫn,
em đã hiểu được tầm quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
về lao động vật hóa) dưới sự tác động có mục đích của sức lao động (biểu hiện là hao
phí về lao động sống) qua quá trình biến đổi sẽ tạo nên các sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
tương ứng với các yếu tố hình thành nên các khoản chi phí.
Để đo lượng hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong từng thời kì hoạt động là
bao nhiêu nhằm tổng hợp và xác định kết quả đầu ra phục vụ cho nhu cầu quản lý thì
mọi hao phí cuối cùng đều được biểu hiện bằng thước đo tiền tệ.
Chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, nhiều yếu tố khác nhau song quy lại bao
gồm: chi phí về lao động sống, chi phí về lao động vật hóa và các chi phí cần thiết
khác.
Chi phí về lao động sống là những chi phí về tiền lương, tiền công và các khoản
trích theo lương như: bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công
đoàn (KPCĐ).
Chi phí về lao động vật hóa như: nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, khấu hao tài
sản cố định
Các chi phí cần thiết khác cho sản xuất như: tiền điện, tiền nước
3
Như vậy, chi phí sản xuất là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật
hóa và các chi phí cần thiết khác được biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp chi ra để
tiến hành các hoạt động sản xuất trong một thời kì nhất định. Chi phí sản xuất của
doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động sản
xuất của doanh nghiệp, nhưng để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi
phí sản xuất phải được tính toán tập hợp theo từng thời kì, có thể là hàng tháng, hàng
quý, hàng năm.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc xác định chính xác chi phí sản xuất là một
việc hết sức quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với công tác quản lý của doanh nghiệp.
1.1.2. Phân loại chi phí
Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất bao gồm rất nhiều loại với
những nội dung, tính chất kinh tế cũng như mục đích công dụng khác nhau khi tham
gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó để thuận lợi cho công tác quản
lý và hạch toán chi phí thì cần thiết phải phân loại chi phí sản xuất. Xuất phát từ các
sản xuất ra sản phẩm đã nếu trên.
Trong chi phí sản xuất chung gồm có các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí nhân viên phân xưởng: phản ánh các khoản mục chi phí có liên quan
đến nhân viên phân xưởng như tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản
trích theo lương.
- Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí về nguyên vật liệu đã xuất sử dụng chung
cho phân xưởng như vật liệu để sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định của phân xưởng,
những vật liệu xuất dùng chung cho quản lý ở phân xưởng.
- Chi phí dụng cụ sản xuất: phản ánh chi phí về công cụ dụng cụ dùng cho nhu
cầu sản xuất chung ở phân xưởng, tổ đội sản xuất như khuôn mẫu, dụng cụ cầm tay,
dụng cụ gá lắp, dụng cụ bảo hộ lao động
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: phản ánh toàn bộ số tiền trích khấu hao của
tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định thuê tài chính sử dụng
ở các phân xưởng, tổ đội sản xuất như khấu hao nhà xưởng, máy móc thiết bị
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ những chi phí về lao vụ, dịch vụ
mua ngoài, thuê ngoài phục vụ cho sản xuất chung ở phân xưởng, tổ đội sản xuất như
chi phí tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại
- Chi phí bằng tiền khác: phản ánh các chi phí bằng tiền ngoài những chi phí
nếu trên phục vụ cho yêu cầu sản xuất chung của phân xưởng, tổ đội sản xuất.
5
c. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng
công việc, sản phẩm hoàn thành
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia thành:
* Chi phí cố định (định phí): là những chi phí có tổng không thay đổi so với
khối lượng công việc hoàn thành. Chẳng hạn như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi
phí thuê mặt bằng, phương tiện kinh doanh Các chi phí này nếu tính theo một đơn vị
sản phẩm thì lại biến đổi khi số lượng sản phẩm thay đổi.
* Chi phí biến đổi (biến phí): là những chi phí có sự thay đổi về tổng số so với khối
lượng công việc hoàn thành, chẳng hạn như chi phí nguyên vật liệu, nhân công trực tiếp Các
chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì lại có tính cố định.
Tính chất lượng của chỉ tiêu này được biểu hiện ở chỗ thông qua nó người ta có
thể đánh giá được hiệu quả của quá trình sản xuất; chứng minh được khả năng phát
triển và việc sử dụng các yếu tố vật chất đã thật sự tiết kiệm và hợp lý chưa?
Tính tổng hợp của chỉ tiêu này được biểu hiện ở chỗ thông qua nó người ta có
thể đánh giá được toàn bộ các biện pháp kinh tế tổ chức - kĩ thuật mà các doanh
nghiệp đã đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh.
a. Chức năng thước đo bù đắp chi phí
Giá thành sản phẩm biểu hiện những hao phí vật chất mà các doanh nghiệp đã
bỏ ra để sản xuất sản phẩm. Những hao phí vật chất này cần được bù đắp một cách đầy
đủ, kịp thời để đảm bảo yêu cầu tái sản xuất. Như vậy, việc đi tìm căn cứ để xác định
mức bù đắp những gì mà mình đã bỏ ra để tạo nên sản phẩm và thực hiện được giá trị
của sản phẩm là một yêu cầu khách quan trong hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp. Thông qua chỉ tiêu giá thành được xác định một cách chính xác, các doanh
nghiệp sẽ đảm bảo được khả năng bù đắp theo yêu cầu kinh doanh.
Bù đắp hao phí sản xuất là vấn đề quan tâm đầu tiên của các doanh nghiệp bởi
hiệu quả kinh tế được biểu hiện ra trước hết ở chỗ doanh nghiệp có khả năng bù lại
những gì mình đã bỏ ra hay không. Đủ bù đắp là khởi điểm của hiệu quả và được coi
là yếu tố đầu tiên để xem xét hiệu quả kinh doanh.
b. Chức năng lập giá
Sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất ra là sản phẩm hàng hoá được thực
hiện giá trị trên thị trường thông qua giá cả.
Giá cả sản phẩm được xây dựng trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết,
biểu hiện mặt giá trị sản phẩm. Khi xây dựng giá cả thì yêu cầu đầu tiên là giá cả phải
có khả năng bù đắp hao phí vật chất để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm cho các
doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất bình thường có thể bù đắp được hao phí để thực
7
hiện quá trình tái sản xuất. Để thực hiện được yêu cầu bù đắp hao phí vật chất thì khi
xây dựng giá phải căn cứ vào giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên, giá thành không phải là căn cứ duy nhất để doanh nghiệp xác định
giá cả của sản phẩm mà còn phải căn cứ vào giá thành bình quân của ngành, tính hợp
- Giá thành định mức: cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức được
xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm và đưa vào các định mức bình quân tiên
tiến (kĩ thuật kinh tế), đưa vào các định mức chi phí hiện hành tại thời điểm nhất định
trong kỳ kế hoạch.
Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo
chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong sản xuất
để đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kĩ thuật mà doanh nghiệp đã áp dụng trong
quá trình sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Giá thành thực tế: được xác định khi quá trình sản xuất sản phẩm kết thúc trên
cơ sở chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Giá thành thực tế sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn
đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các phương pháp kinh tế- tổ chức-
kĩ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động
sản xuất của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của doanh nghiệp.
1.1.2.2.2 Xét theo phạm vi tính toán chi phí.
Để phục vụ cho một quyết định cụ thể, chỉ tiêu giá thành có thể được tính toán
theo các phạm vi chi phí khác nhau. Theo tiêu thức này, có các loại giá thành sau:
- Giá thành sản xuất toàn bộ:
Giá thành sản xuất toàn bộ là giá thành bao gồm toàn bộ các chi phí cố định và
chi phí biến đổi thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và
chi phí sản xuất chung. Dùa vào giá thành sản xuất toàn bộ, doanh nghiệp có thể xác
định được kết quả kế toán của sản phẩm là lãi hay lỗ.
Công thức tính giá thành sản xuất toàn bộ như sau:
Do bản chất của nó, giá thành sản xuất toàn bộ thông thường đóng vai trò chủ
yếu trong các quyết định mang tính chất chiến lược dài hạn: quyết định ngừng sản xuất
9
Giá thành Biến phí Biến phí Định phí Định phí
sản xuất = trực tiếp + gián tiếp + trực tiếp + gián tiếp
toàn bộ trong giá trong giá trong giá trong giá
thành thành thành thành
phí quản lý, chi phí bán hàng). Do vậy, giá thành toàn bộ còn được gọi là giá thành
đầy đủ và được tính theo công thức sau:
10
Giá thành toàn bộ = Giá thành + Chi phí quản lý + Chi phí
của sản phẩm tiêu thụ sản xuất doanh nghiệp bán hàng
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là 2 mặt biểu hiện của quá trình sản
xuất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giống nhau về mặt chất vì đều là những hao
phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình
sản xuất; nhưng xét về mặt lượng thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại không
giống nhau. Chi phí sản xuất luôn gắn liền với một thời kì nhất định còn giá thành sản
phẩm gắn liền với một loại sản phẩm, công việc, lao vụ đã sản xuất hoàn thành. Giá
thành sản phẩm chứa đựng cả một phần chi phí của kì trước chuyển sang (chi phí sản
xuất của sản phẩm làm dở đầu kì).
Công thức tính tổng giá thành sản phẩm như sau:
Tổng giá
thành sản
phẩm
= Chi phí sản xuất
của sản phẩm dở
dang đầu kỳ +
Chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ
-
Chi phí sản xuất của
sản phẩm dở dang
đầu kỳ
1.1.4. Nhiệm vụ kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng,
phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất doanh nghiệp cho nên chi phí sản xuất và
Do đặc điểm sản xuất tại công ty Cổ phần chè Trần Phú theo quy trình liên tục
bắt đầu từ khâu chế biến nguyên liệu đến khâu tạo ra thành phẩm nên việc tập hợp chi
phí sẽ được kế toán tính toán chi tiết theo từng sản phẩm, điều này có nghĩa là đối
tượng tập hợp chi phí tại nhà máy theo từng loại sản phẩm cụ thể
Phạm vi (giới hạn) để tập hợp chi phí:
Nơi phát sinh (địa điểm): Phát sinh chi phí tại phân xưởng, tổ đội hoặc bộ phận
sản xuất (gọi chung là trung tâm chi phí).
- Nơi gánh chịu chi phí (đối tượng chi phí): Sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt
hàng, hạng mục công trình…
Để xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, ta cần phải dựa trên
những yếu tố cơ bản sau:
- Địa điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
- Quy trình công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm.
- Địa điểm phát sinh chi phí và mục đích công dụng của chi phí.
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp sản xuất thì đối tượng tập hợp chi phí thường được xác
định là sản phẩm, nhóm sản phẩm ở tại các phân xưởng, bộ phận sản xuất.
1.2.2 Kế toán tập hợp chi phí
Tuỳ theo yêu cầu cụ thể và yêu cầu quản lý của mình mà doanh nghiệp lựa chọn
một trong hai phương pháp hạch toán:
- Phương pháp kê khai thường xuyên.
- Phương pháp kiểm kê định kỳ.
12
1.2.2.1. Tài khoản sử dụng (trong các doanh nghiệp sản xuất)
Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng tài khoản
621: “Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp”. Tài khoản này được mở chi tiết cho từng
phân xưởng hoặc tổ đội sản xuất.
Để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp kế toán sử dụng tài khoản 622:
“Chi phí nhân công trực tiếp”. Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí lao động trực
tiếp tham gia hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Tài khoản được mở chi tiết cho
Việc tập hợp chi phí NVL trực tiếp vào các đối tượng cô thể tiến hành theo
phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp phân bổ gián tiếp.
- Phương pháp trực tiếp được áp dụng cho các chi phí NVL trực tiếp chỉ liên
quan đến một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất (từng phân xưởng, bộ phận, từng sản
phẩm…)
- Phương pháp phân bổ gián tiếp áp dụng trong trường hợp chi phí NVL trực
tiếp có liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau.
Chi phí thực Trị giá NVL Trị giá NVL Trị giá phế
tế NVL TT = xuất đem - còn lại cuối kỳ - liệu thu hồi
trong kỳ vào sử dụng chưa sử dụng (nếu có)
Tiêu chuẩn phân bổ cần lựa chọn thích hợp như: đối với vật liệu chính có thể
chọn chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối lượng sản phẩm sản xuất…, đối với vật
liệu phụ, nhiên liệu có thể chọn tiêu chuẩn phân bổ là: chi phí định mức, chi phí kế
hoạch, chi phí nguyên vật liệu, vật liệu chính…
• Trình tự hạch toán chi phí NVL trực tiếp.
14
Sơ đồ 1. Kế toán chi phí NVLTT
TK 152 TK 621 TK 152
Trị giá NVL xuất kho Trị giá NVL còn chưa sử dụng
dùng trực tiếp sản xuất Trị giá phế liệu thu hồi nhập kho
TK 142
NVLTT chờ phân bổ NVLTT phân bổ dần
TK 111,112, 331 TK 154
Giá chưa VAT Kết chuyển hoặc phân bổ CPNVLTT
để tính giá thành
Trị giá NVL mua ngoài
dùng trực tiếp sản xuất TK 133
(không qua kho) Thuế VAT
TK 334, 338 TK 627 TK 154
Chi phí nhân công PX
TK 153, 152, 142
Chi phí NVL, CCDC
Kết chuyển CPSXC để tính giá thành
TK 214
Chi phí khấu hao TSCĐ
Giá chưa VAT
TK 111,112,141,331
TK 133
Chi phí DV
mua ngoài
Chi phí bằng
tiền khác
VAT được
khấu trừ
Chi phí sản xuất chung của phân xưởng hoặc đội sản xuất nào kết chuyển và tính
giá thành của sản phẩm, công việc của phân xưởng hoặc đội sản xuất đó. Trường hợp
một phân xưởng đội sản xuất trong kỳ có sản xuất nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc
thì phải tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung cho các sản phẩm liên quan. Tiêu
chuẩn sử dụng để phân bổ chi phí sản xuất chung có thể là: chi phí NCTT, chi phí NVL
TT, chi phí tiền công và vật liệu trực tiếp, định mức chi phí sản xuất chung.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản xuất phát sinh không chỉ đơn thuần
như đã tập hợp ở các khoản mục chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và
chi phí sản xuất chung mà chi phí sản xuất còn phát sinh rất phức tạp đòi hỏi doanh
nghiệp phải tìm mọi cách để xử lý nhằm mục đích tập hợp được chi phí sao cho giá
thành sản phẩm tương đối ổn định giữa các kỳ hạch toán. Chính vì vậy mà doanh nghiệp
phải hạch toán chi phí trả trước, chi phí phải trả và các khoản thiệt hại trong sản xuất…
*) Hạch toán chi phí phải trả:
TK 334,2413 TK 335 TK 622
TK 627
TK 641
TK 642
TK 133
TK 111,112,331
TK 241
4
2
13
VAT được
khấu trừ
lớn hoặc do bản thân chi phí phát sinh có tác dụng tới kết quả hoạt động của nhiều kỳ
hạch toán.
Chi phí trả trước bao gồm:
- Chi phí phải trả về thuê cửa hàng, nhà xưởng, nhà kho, văn phòng… phục vụ
cho kinh doanh nhiều kỳ.
- Chi phí phải trả về thuê dịch vụ cung cấp cho hoạt động kinh doanh.
-Chi phí mua các loại bảo hiểm và các loại lệ phí mua và trả một lần trong
năm.
- Giá trị công cụ, dụng cụ nhỏ xuất dùng thuộc loại phân bổ nhiều lần
- Giá trị bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê.
- Chi phí mua các tài liệu kỹ thuật, giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn
hiệu thương mại (chưa đủ tiêu chuẩn là TSCĐ vô hình).
- Chi phí trong thời gian ngừng việc không lường trước được.
- Chi phí sửa chữa lớn TSCĐ phát sinh một lần quá lớn.
- Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế đã phát sinh trong kỳ
đối với những hoạt động có chu kỳ kinh doanh dài, nhưng trong kỳ không có hoặc có
ít doanh thu bán hàng.
Các khoản chi phí trả trước được theo dõi trên TK 142 "chi phí trả trước" cụ thể
TK 627
TK 632
Kết chuyển CPSXC
Giá thành sx, lao vụ bán
không qua kho
TK 157
Giá thành sx lao vụ gửi bán
1.2.2.2.2. Kế toán chi phí sản xuất trong trường hợp doanh nghiệp kế toán
hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Theo phương pháp này, cuối kỳ chi phí sản xuất đã tập hợp được trên các TK
621, 622, 627 không kết chuyển sang TK 154 mà kết chuyển sang TK 631 "giá thành
sản xuất" để từ đó tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hoàn thành
trong kỳ còn TK 154 chỉ dùng để phản ánh chi phí sản xuất của những sản phẩm, công
việc, lao vụ còn đang sản xuất dở dang cuối kỳ.
22