1
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
BỘ MÔN: TÂM LÝ HỌC
SV THỰC HIỆN:
TRẦN VŨ TUYẾT ANH - 1056160001
TRẦN THỊ THANH BÌNH - 1056160004
ĐẶNG MINH DUY - 1056160034
PHAN TƯỜNG YÊN - 1056160110
NÔNG THỊ DUYÊN - 1056160111
2
I. Khái niệm:
Tự kỷ là một bệnh rối loạn phát triển của hệ thần kinh mà thông thường là rối loạn
phát triển của vỏ não. Trẻ bị tự kỷ là những trẻ bị thiếu hay chậm phát triển về khả năng
liên hệ qua lại tron xã hội, không sử dụng được ngôn ngữ trong sinh hoạt xã hội, không
hiểu hình ảnh ký hiệu và không biết chơi các trò chơi cần sức tưởng tượng.
Thuật ngữ tự kỷ Autism có gốc từ Hy Lạp: Autos, có nghĩa là “ tự thân”.
Bs tâm thần Eugen Bleuler đầu tiên sử dụng từ này để mô tả triệu chứng rút lui xã
hội ở những bệnh nhân có xáo trộn nặng nề mà ông quan sát ở vào khoảng đầu của thế kỷ
20, những bệnh nhân này có thể là bệnh nhân tâm thần phân liệt hoặc trầm cảm.
BS tâm thần nhi khoa Leo Kanner (1943) ở Baltimore, Hoa Kỳ, (BS. Leo Kanner
là người sáng lập ra khoa tâm thần nhi khoa của Đại học Y Khoa Johns Hopkins vào năm
1930, ông cũng là thầy thuốc được xác định là bác sĩ tâm thần nhi khoa đầu tiên của Hoa
Kỳ), ông cũng đã sử dụng thuật ngữ để mô tả một nhóm bệnh nhân cùng có 3 đặc tính
quan trọng: Một mình, mong muốn sự giống nhau, có các vấn đề về ngôn ngữ: chậm phát
triển ngôn ngữ, nhại lời, hiểu theo nghĩa đen…
Định nghĩa theo DSM-IV-TR: tự kỷ nằm trong nhóm các rối loạn phát triển lan
toả (PDD: Pervasive Developmental Disorders): Là một nhóm hội chứng được đặc trưng
bởi suy kém nặng nề và lan toả trong những lãnh vực phát triển: tương tác xã hội, giao
tiếp và sự hiện diện của những hành vi và các ham thích rập khuôn .
Suy giảm khả năng hoà nhập xã hội
Trẻ mắc bệnh tự kỷ khó khăn khi tương tác với những người khác.Tách rời
với thực tế và môi trường xung quanh.
Không cười,không nhìn vào mắt người đối diện,không tương tác với người
chăm sóc,không bò/đi đến người chăm sóc để được bế.Không vui
mừng,không có những biểu hiện thể hiện sự thích thú khi được ôm ấp,cũng
như không có biểu hiện đáp lại sự quan tâm của người khác.
Thích chơi một mình,không thích chơi với bạn,ít khi quan tâm đến người
khác,luôn sống trong thế giới riêng kể cả khi đang ngồi giữa bạn bè.
Ít hứng thú và không thích hoạt động.: thích chơi trốn tìm hoặc tìm một đồ
vật được che giấu.
Không thích những đụng chạm thể lý với người khác,kể cả người thân,cha
mẹ.
Trẻ khó hiểu và khó biểu lộ cảm xúc.Có khuynh hướng dùng người khác
như một “dụng cụ” (ví dụ kéo bàn tay người lớn để lấy một đồ vậy trẻ
muốn mà không nói hoặc không nhìn.
Một số trẻ tự kỷ có thể tương tác với người lớn nhưng khó tương tác với
các bạn cùng lứa.
Có những hành vi dập khuôn và sở thích lặp đi lặp lại:
4
Trẻ thường xuyên lắc lư người ra phía trước hoặc phía sau, đập đầu, giữ
khư khư một đồ vật, bật tắt công tác liên tục, chuyển đồ chơi từ tay này
sang tay khác một cách liên tục.
Có các hành vi dập khuôn với các vận động không có mục đích như vỗ
tay,quay đầu hay đung đưa cơ thể.
Các hành vi đơn điệu, thiếu đa dạng và chống lại sự thay đổi; ví dụ như
thích sắp xếp đồ vật theo thứ tự,ngăn nắp một cách kì lạ, không muốn đồ
chơi chúng bị dịch chuyển và có biểu hiện hung hăng khi thứ tự đó bị xáo
trộn.
Thường say mê một vật gì đó quá đáng,lúc nào cũng giữ và ôm khư khư
5
Có những trẻ đã biết nói nhưng sau này ngưng nói( ví dụ trẻ có thể nói “ba
ba” khi một tuổi nhưng ngưng nói khi được hai tuổi(được gọi là kỹ năng
thoái lui).
Trẻ có thể giỏi trong một số lĩnh vực(ví dụ chơi lắp ghép, đếm số, âm nhạc)
nhưng kỹ năng nói và giao tiếp vẫn thấp so với lưá tuổi.
Trẻ có những hành vi tự gây tổn thương,tự làm đau mình(lấy tay đập đầu, đập đầu
vào tường(một số nghiên cứu tiến hành năm 2007 cho biết có tới 30% trẻ bị bệnh
tự kỷ có những hành vi này).
Khó thích ứng với sự thay đổi hoàn cảnh hoặc những công việc/biễn biễn thường
diễn ra hàng ngày.
III. Thực trạng
1. Trên thế giới:
Lưu hành độ: Một vài chuyên gia ước đoán cứ 110 trẻ tại Mỹ thì có 1 bé bị tự kỷ.
Theo một thống kê sơ bộ, ngươi ta thấy rằng trong 150 trẻ em ở Mỹ thì có 1 em bị tự kỷ.
Các nghiên cứu dịch tễ học ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Á ước tính lưu hành độ của rối
loạn tự kỷ là khoảng 2-13/10.000 trẻ. Khuynh hướng hiện nay báo cáo những con số cao
hơn.
Giới tính: Khuyết tật tự kỷ xuất hiện nhiều ở các bé trai: trong 94 bé trai thì có 1
em tự kỷ, và trong 5 em tự kỷ thì thường có 4 em trai và 1 em gái.
Giai tầng kinh tế - xã hội: Kanner (1943) quan sát thấy đa phần các ca tự kỷ của
ông đều xuất thân từ các gia đình khá giả, thuộc tầng lớp trên của xã hội. Tuy nhiên, các
nghiên cứu sâu rộng trên dân số chung sau này đã cho thấy điều trên là không đúng. Tsai
(1982) nhận thấy các nghiên cứu cho tỷ lệ bệnh cao ở tầng lớp trên hầu hết được thực
hiện trước năm 1970 và sau 1970 các nghiên cứu đều thấy bệnh phân bố đều trong các
thành phần dân chúng (liên quan đến trình độ giáo dục, thu nhập của phụ huynh và sự tổ
chức tốt mô hình chuyển gửi bệnh viện).
Di truyền: Không có chứng cớ rõ ràng nào về việc tự kỷ là khuyết tật di truyền.
Tuy nhiên, trong 100 em tự kỷ, có 5 em sẽ có một hay hơn một anh chị em cũng mang
chứng tự kỷ. Khoảng 25% các trường hợp bị bệnh tự kỷ có nguyên nhân di truyền.
Hiện nay, tất cả đều chấp nhận rằng tự kỷ là một rối loạn phát triển thần kinh có
nền tảng sinh học với nhiều nguyên nhân. Điều này không loại trừ những yếu tố nguy cơ
từ môi trường, những vấn đề về thể chất của mẹ xảy ra trong suốt quá trình mang thai.
Người ta xem xét phương thức phát triển các nguy cơ, các quá trình nguy cơ, sự xuất hiện
triệu chứng và sự đáp ứng. Các yếu tố di truyền và môi trường đưa đến những bất thường
trong sự phát triển của não, điều này góp phần vào những thay đổi về tương tác giữa trẻ
và môi trường của trẻ.
*Về sinh học:
- Yếu tố môi trường ảnh hưởng lên sinh học:
7
Những biến chứng lúc sinh con (biến chứng nhỏ không giống như những bất
thường bẩm sinh rõ rệt), nhiễm Rubella bẩm sinh… Một số nghiên cứu cho rằng nhiễm
Rubella ở mẹ đang mang thai làm gia tăng tỷ lệ trẻ tự kỷ ở trẻ.
Những vaccine phối hợp quai bị, sởi, rubella cũng được cho là thủ phạm. Tuy
nhiên nghiên cứu này khiến cho cha mẹ ngại không dám sử dụng những thuốc này cho
con mình và làm giảm khả năng bảo vệ trẻ khỏi những căn bệnh trên. Một số nghiên cứu
được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau qua nhiều thời điểm khác nhau về sự liên
quan giữa vaccine và tự kỷ cho thấy không có bằng chứng rõ ràng, nhưng vẫn còn khả
năng vaccine làm khởi phát rối loạn tự kỷ ở trẻ có yếu tố di truyền nhạy cảm với rối loạn
này.
Các nghiên cứu hiện nay đang xem xét vai trò của nội tiết tố, nhiễm trùng, đáp ứng
tự miễn dịch, tiếp xúc với các độc tố và các ảnh hưởng khác từ môi trường có thể làm
thay đổi sự phát triển của não trước hoặc sau khi sinh một mình hoặc đi kèm thêm thay
đổi cả các hoạt động của gene.
- Yếu tố di truyền:
Nếu cha mẹ có 1 trẻ tự kỷ thì nguy cơ có trẻ thứ hai bị tự kỷ cao gấp 15-30 lần cha
mẹ có trẻ phát triển bình thường. Nếu một trẻ sinh đôi cùng trứng bị tự kỷ thì anh chị em
sinh đôi sẽ có khả năng bị tự kỷ cao khoảng 36-91% , nếu sinh đôi khác trứng thì tỷ lệ
này khoảng 0-5%. Không có bằng chứng là tự kỷ được gây ra bởi bất thường của một
gene đơn mà có lẽ do bất thường của nhiều gene khác nhau.
thước bình thường hoặc thậm chí có thể biến mất cũng được cho là nguyên nhân gây tự
kỷ. Tiểu não là phần não liên quan đến khả năng vận động và thăng bằng, tuy nhiên tiểu
não còn liên quan đến ngôn ngữ, học tập, cảm xúc, chú ý…, và theo các nghiên cứu, có
những vùng đặc biệt trong tiểu não ở người tự kỷ nhỏ hơn so với người bình thường.
-Vùng hạnh nhân phụ trách xử lý thông tin về cảm xúc có kích thước lớn hơn một
cách bất thường có thể ảnh hưởng đến sự suy kém về việc ghi nhận biểu lộ nét mặt và
cùng nhau chú ý đến vật thể khác (đây là 2 chức năng nhận thức xã hội đều bị ảnh hưởng
ở trẻ tự kỷ). Các nghiên cứu cũng ghi nhận rằng vùng hạnh nhân lớn hơn ở trẻ tự kỷ từ 3-
4 tuổi thường đi kèm với quá trình rối loạn nặng hơn ở giai đoạn trước khi đến trường.
-Những nghiên cứu cho thấy trẻ tự kỷ có kích thước vòng đầu từ nhỏ cho đến
trung bình vào lúc mới sinh nhưng lại phát triển vượt bậc vào lúc từ 4 tháng tuổi. Sau 12
tháng tuổi thì vòng đầu phát triển không khác so với mẫu bình thường. Như vậy, não của
trẻ tự kỷ lớn hơn và nặng hơn so với não của trẻ phát triển bình thường, phần lớn hơn là
do quá nhiều chất trắng, phần này gồm các mô liên kết liên quan đến sự kết nối giữa các
vùng với nhau, suy kém ở trẻ tự kỷ có thể không phải do một vùng nào đó bị bất thường
nhưng có thể do sự bất thường trong việc tự huỷ những kết nối không cần thiết và phát
triển những nối kết giữa các vùng não với nhau.
9
CÁC GIẢ THUYẾT VỀ CƠ CHẾ GÂY RA RỐI LOẠN TỰ KỶ:
Động cơ xã hội:
Sự phát triển lệch chuẩn ở giai đoạn sớm của não đưa đến suy kém về phát triển
giao tiếp và xã hội bình thường ở trẻ tự kỷ, điều này biểu hiện khá sớm. Những suy kém
về định hướng xã hội, cùng nhau chú ý, đáp ứng với cảm xúc, bắt chước và xử lý nét mặt
được thấy ở giai đoạn tuổi mới biết đi. Theo giả thuyết động cơ xã hội, tất cả đều liên
quan đến giảm chú ý đối với thu nhập thông tin xã hội. Một số những suy kém về xã hội
thấy ở trẻ tự kỷ như suy kém về xử lý nét mặt, không phải là căn bản đầu tiên mà là thứ
phát sau một suy kém ban đầu trong động cơ xã hội hoặc bắt kịp cảm xúc với những kích
thích xã hội tương ứng. Bằng chứng về động cơ xã hội bị suy kém ở trẻ nhỏ bị tự kỷ bao
gồm trẻ ít mỉm cười khi nhìn mẹ trong những tương tác xã hội, ít biểu hiện cảm xúc tích
cực trong các chu kỳ cùng nhau chú ý, không có khả năng biểu hiện những ưa thích bình
năng sinh hoạt cộng đồng cũng như tự chăm sóc bản thân của trẻ.
- Từ những ảnh hưởng bệnh lý trên, tự kỷ dẫn đến một hệ quả tất yếu là trẻ mắc bệnh bị
cô lập khỏi môi trường xã hội, và thường bị xã hội xa lánh, tránh né, đồng nhất với người
mắc bệnh tâm thần, thiểu năng trí tuệ.
2. Đối với gia đình có trẻ tự kỷ
- Việc có con, cháu, người thân mắc bệnh tự kỷ là một nỗi đau rất lớn của bậc làm ông
bà, cha mẹ. Ảnh hưởng trước tiên là những biến động, suy sụp về mặt tinh thần ở người
lớn. Họ dễ bị mặc cảm, bi lụy trước tình trạng của con mình, và trước những soi mói,
dèm pha của xã hội (xuất phát từ định kiến về việc sống không tốt ở tiền kiếp nên con
cháu lãnh hậu quả của người phương Đông). Nhiều phụ huynh phải cố che giấu tâm trạng
nặng nề của mình trong khi chu toàn công việc và tỏ những thái độ phù hợp với vị thế xã
hội của chính họ.
- Không chỉ chịu những tác động về mặt tinh thần, do việc chăm sóc trẻ tự kỷ không hề
đơn giản nên phụ huynh thường tốn nhiều thời gian và công sức, dẫn đến công việc
thường sa sút, nhiều người phải nghỉ hẳn ở nhà để chăm con.
- Chăm lo cho con cái bị tự kỷ cần một sự bao dung và kiên nhẫn rất lớn. Qua một số
khảo sát ở Bệnh viện Nhi Đồng II, kết quả đã thể hiện phần lớn phụ huynh chăm sóc trẻ
Các yếu tố
nhạy cảm
- Gene nhạy cảm
- những yếu tố
nhạy cảm khác
Các quá trình
nguy cơ
- Thay đổi các
kiểu tương tác
giữa trẻ và môi
trường
Kết quả
- Phát triển một
những khó khăn về giao tiếp, ngôn ngữ và hành vi của trẻ. Thuốc không cải thiện được
các dấu hiệu chủ yếu tự kỷ, nhưng có thể giúp kiểm soát các triệu chứng. Việc dùng các
thuốc điều trị tâm thần phải hết sức thận trọng và tùy từng trường hợp mà có sự lựa chọn
thích hợp. Tuyệt đối không tự ý cho trẻ dùng các thuốc kích thích hoặc thuốc an thần khi
chưa có chỉ định của bác sĩ. Các liệu pháp hỗ trợ như: nghệ thuật, âm nhạc, chế độ ăn đặc
biệt, bổ sung vitamin và muối khoáng cần được duy trì và có tác dụng tốt nếu có sự phối
hợp chăm sóc và thể hiện sự quan tâm âu yếm của người thân đối với trẻ.
Hướng điều trị bệnh:
12
- Xây dựng lại cấu trúc tâm lý và nhân cách cá nhân tùy từng trường hợp cụ thể, giúp trẻ
trở lại đúng khung tâm lý của trẻ.
- Xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa trẻ với gia đình (đặc biệt là với mẹ), quan hệ
giữa trẻ với giáo viên, với bạn bè và môi trường xung quanh để thiết lập mối quan hệ
tương tác xã hội.
- Tập cho trẻ có ý thức về bản thân và tự khẳng định bản thân.
- Tập phát triển ngôn ngữ phù hợp với khả năng của trẻ.
- Tìm hiểu xem trẻ thích và không thích gì, để không gây những điều dị ứng với trẻ, nối
kết sở thích và hành động của trẻ, tận dụng điều trẻ thích để tiếp cận giáo dục. Tuy nhiên,
phải tùy theo cách tiếp thu của trẻ mà có cách giao tiếp thích ứng, nhẹ nhàng xâm nhập
vào thế giới của trẻ.
Một điều cần lưu ý là với trẻ tự kỷ thì cần hạn chế sự thay đổi, thường xuyên đổi người
giúp việc hoặc chuyển nhà sẽ làm trẻ hụt hẫng và khó phát triển. Điều quan trọng là điều
trị sớm, trẻ được điều trị trước 3 tuổi sẽ có khả năng hòa nhập rất cao, trước 6 tuổi thì vẫn
còn nhiều hy vọng nhưng sau 6 tuổi thì đã hơi trễ.
Lời khuyên cuối cùng rất quan trọng là bố và mẹ phải cùng chăm lo dạy dỗ, yêu thương
bé. Yếu tố tâm lý có ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành nên căn bệnh này ở trẻ
Phòng tự kỷ: Đặt và gọi tên con khi thai nhi 6 tháng
Các chuyên gia khuyên các bà mẹ sớm tìm hiểu, học hỏi cách chơi và giao tiếp với con.
Thai nhi 6 tháng đã có năng lực nhìn, nghe, vì vậy sau khi siêu âm xác định thai trai hay
gái, bố mẹ nên đặt tên để gọi tên và nói chuyện với con trong thời gian này.
8. Sử dụng từ ngắn gọn khi hỏi: Một trong những khía cạnh ứng xử với trẻ tự kỷ khi nói
chuyện là sử dụng từ ngữ ngắn gọn, trọng tâm. Thêm từ dài dòng hoặc nói khó hiểu, bạn
sẽ không đạt được mục đích truyền tải thông tin tới trẻ.
9. Kiên nhẫn: Bạn cần kiên nhẫn, ít thất vọng và căng thẳng khi tiếp xúc với trẻ tự kỷ.
Cần học cách kiểm soát cảm xúc. Trẻ dù tự kỷ vẫn vô cùng nhạy cảm. Trẻ sẽ nhận ra rất
nhanh nếu thấy bạn tỏ ra mất kiên nhẫn, từ đó trẻ từ chối giao tiếp với bạn.
Nghiên cứu vừa thực hiện năm 2010 của Bệnh viện Nhi Trung ương đã mở ra một tín
hiệu mới, lạc quan hơn: gia đình, cộng đồng có thể phát hiện sớm nguy cơ mắc tự kỷ
ngay khi trẻ chưa đầy 2 tuổi.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Hương Giang, khoa vật lý trị liệu - phục hồi chức năng Bệnh viện
Nhi T.Ư, cho hay chỉ với 23 câu hỏi nhanh xung quanh hoạt động hằng ngày của trẻ, cha
mẹ hoàn toàn có thể tự kiểm tra cho con em mình, xác định được phần nào nguy cơ trước
khi phải đưa đến cơ sở y tế điều trị.
14
Xác định chỉ bằng bốn câu hỏi:
Nghiên cứu được thực hiện đối với 6.583 trẻ từ 18-24 tháng tuổi tại tỉnh Thái Bình
cho thấy phương pháp có độ nhạy cao (74,4%) - nghĩa là 74,4% trẻ có dấu hiệu nguy cơ
từ phương pháp này thật sự mắc bệnh lý tự kỷ qua những thăm khám, chẩn đoán tỉ mỉ
của đơn vị y tế sau này, và độ đặc hiệu cao (99,9%) - nghĩa là có đến 99,9% trẻ có
những đáp án bình thường từ bộ câu hỏi sẽ không lo mắc bệnh.
Theo kinh nghiệm thăm khám thực tế của các bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương,
không cần đến 23 câu hỏi, phụ huynh của trẻ ở độ tuổi 18-24 tháng có thể xác định nguy
cơ tự kỷ của con mình chỉ bằng bốn câu hỏi:
Trẻ có dùng ngón tay trỏ để chỉ hoặc thể hiện sự quan tâm đến đồ vật không?
Trẻ có mang đồ vật đến khoe với bạn hoặc bố mẹ không?
Trẻ có phản ứng khi được gọi tên không?
Trẻ có nhìn vào đồ vật/đồ chơi ở chỗ khác khi ta chỉ vào hay không?
Kết quả điều tra tại Thái Bình cho thấy số trẻ bị tự kỷ có kết quả bất thường với
bốn câu then chốt này rất cao: 93,3% trẻ không dùng ngón tay trỏ để chỉ hoặc thể hiện
sự quan tâm đến đồ vật; 86,7% trẻ không bao giờ mang đồ vật đến khoe với bạn hoặc bố
theo không)?
14. Trẻ có đáp ứng khi được gọi tên?
15. Trẻ có nhìn vào đồ vật/đồ chơi ở chỗ khác khi ta chỉ vào?
16. Trẻ có biết đi không?
17. Trẻ có nhìn vào đồ vật mà bạn đang nhìn không?
18. Trẻ có làm những cử động ngón tay bất thường ở gần mặt không?
19. Trẻ có cố gắng gây sự chú ý của bạn đến những hoạt động của trẻ?
20. Bạn có bao giờ nghi ngờ trẻ bị điếc?
21. Trẻ có hiểu điều mọi người nói không?
22. Thỉnh thoảng trẻ có nhìn chằm chằm một cách vô cảm hoặc đi tha thẩn không mục
đích?
16
23. Khi đối mặt với những điều lạ, trẻ có nhìn vào mặt bạn để xem phản ứng của bạn
không?
Trên thế giới, bảng kiểm MCHAT-23 đánh giá trẻ tự kỷ lứa tuổi 18-24 tháng sẽ
cho kết quả nguy cơ cao khi trẻ có ít nhất ba câu trả lời bất kỳ hoặc hai câu then chốt
(nằm trong các câu số 2, 7, 9, 13, 14, 15) là không. Tuy nhiên, với các câu 11,18, 20,
22 thì câu trả lời có lại ám chỉ nguy cơ trẻ bị tự kỷ.