CÁC YẾU TỐ TRONG ĐỊNH GIÁ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TÍNH MINH BẠCH , RỦI RO CHÍNH TRỊ VÀ SỰ ĐA DẠNG HÓA - Pdf 28

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KHOA TÀI CHÍNH
TIỂU LUẬN
NHÓM MÔN TÀI
CHÍNH CÔNG TY ĐA
QUỐC GIA
Đề tài:
CÁC YẾU TỐ TRONG ĐỊNH GIÁ CÔNG TY ĐA QUỐC
GIA: TÍNH MINH BẠCH , RỦI RO CHÍNH TRỊ VÀ SỰ ĐA
DẠNG HÓA
GVHD: TS. ĐINH THỊ THU HỒNG
THỰC HIỆN: Nhóm 8 K23 lớp Ngày T7
1. Nguyễn Đỗ Ý Nhi
2.Võ Hoàng Oanh
3.Nguyễn Thị Trần Quỳnh
4.Võ Thị Thanh Thủy
5.Văn Thị Thu Thủy
6.Trần Nhật Tường
7.Nguyễn Thị Trọn
TP. HCM THÁNG 3/2015
2
CÁC YẾU TỐ TRONG ĐỊNH GIÁ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA: TÍNH MINH
BẠCH , RỦI RO CHÍNH TRỊ VÀ SỰ ĐA DẠNG HÓA
NyoNyo A. Kyaw , John Manley, Anand Shetty∗
Tóm lược
Bài nghiên cứu này xem xét vai trò của đa dạng hóa địa lý, minh bạch, và rủi ro
chính trị trong việc xác định giá trị của các công ty đa quốc gia (MNCs). Sử dụng
luân phiên các thước đo cho sự đa dạng hóa địa lý, nghiên cứu này cho thấy
những bằng chứng hỗ trợ cho tác động tích cực của mức độ đa dạng hóa quốc gia

Lý thuyết MNH cũng lập luận rằng những lợi ích cơ bản từ các hoạt động
quốc tế hóa có nguồn gốc từ các lựa chọn sẽ được mở ra cho các MNC từ việc mở
rộng. Phạm vi quốc tế trong hoạt động của công ty cung cấp các quyền chọn cho
những hành động chỉ liên quan đến các điều kiện và đặc điểm riêng của chính
công ty, điều mà trước đây không thể thực hiện. Ví dụ, cơ hội để kinh doanh chênh
lệch giá các yếu tố sản xuất qua biên giới là một quyền chọn duy nhất và giá trị,
chẳng hạn như các cơ hội tài trợ nội bộ rẻ hơn (cũng như dễ dàng hơn, thuận tiện
hơn, dễ tiếp cận hơn) cho các công ty con ở nước ngoài so sánh với các nguồn tài
trợ từ thị trường bên ngoài , và / hoặc sự sẵn có của việc chuyển đổi qua biên giới
tài sản khác nhau, bao gồm các báo cáo doanh số (lợi nhuận)
1
(Doukas et al.,
1999). Lý thuyết MNH nhấn mạnh các lợi thế của các công ty có được xét về mặt
tính linh hoạt trong hoạt động mà mạng lưới hoạt động đa quốc gia mang lại.
Trong các tài liệu về sáp nhập và thâu tóm-the merger and acquisition
literature, nhiều tranh luận cho rằng những lợi ích quan trọng để sáp nhập chỉ tồn
1
Xem Rugman (1981) và Buckley và Casson (1998).
4
tại nếu sự kết hợp của các công ty là do/hoặc cung cấp đặc điểm độc đáo mà
không thể được nhân đôi bởi sự kết hợp với mục đích thâu tóm khác hoặc bởi các
nhà đầu tư độc lập. Khái niệm này đều có thể áp dụng khi các doanh nghiệp mở
rộng ra nước ngoài thông qua mua lại hoặc một khoản đầu tư Greenfield-
Greenfield invesment
2
. Bởi vì các MNC đầu tư vào một thị trường nước ngoài, các
khía cạnh và đặc trưng trong những thị trường này có thể khác thị trường trong
nước của các công ty đa quốc gia. Tuy nhiên, việc mở rộng sẽ cung cấp các lợi ích
như khả năng tiếp cận đối với các tài sản vô hình nội bộ, đầy giá trị nhưng duy
nhất, chẳng hạn như lợi thế gắn với công nghệ, kiến thức nền tảng, hoặc kỹ năng

nội hóa (INT). Nhấn mạnh vào đầu tư công nghệ trong sự kết hợp với khuôn khổ
khuyến khích quản lý, Mishra và Gobeli cũng tìm thấy sự hỗ trợ cho lý thuyết
INT. Tuy nhiên, Hennart (2007) lập luận rằng lý thuyết nội hóa (INT) không ngầm
đưa ra mối tương quan dương giữa đa dạng hóa quốc tế (multinationality) và hiệu
quả hoạt động. Ông lập luận rằng lợi ích của đa dạng hóa quốc tế lớn hơn thể hiện
hình thức rủi ro thấp hơn, nhưng không nhất thiết phải là hiệu quả hoạt động cao
hơn. Pak và Park (2004) thấy rằng kỹ năng quản lý áp dụng cho những kiến thức
từ kinh nghiệm giúp đem lại lợi ích quốc tế hóa và tăng hiệu quả hoạt động công
ty .
Lý thuyết MNH tập trung vào khả năng của các MNC khi khai thác những cơ
hội lợi nhuận được mang lại bởi mạng lưới hoạt động toàn cầu của chính những
công ty này trái ngược với khả năng giảm chi phí hoạt động bằng cách sử dụng
những khả năng độc đáo. Pantzalis (2001) khẳng định "các công ty đa quốc gia đạt
được lợi thế của mình qua các công ty trong nước từ một mạng lưới hoạt động
xuyên quốc gia cung cấp cho họ khả năng điều hành linh hoạt, ví dụ, với khả năng
kinh doanh chênh lệch giá giữa các phân khúc thị trường và / hoặc các thị trường
6
quốc gia không hoàn hảo bằng cách chuyển các yếu tố sản xuất qua biên giới,
bằng cách quyết định nơi cung cấp nguồn đầu vào nhất định hoặc nơi báo cáo lợi
nhuận hoặc lỗ v.v ".
Sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện- The event study approach, Doukas
và Travlos (1988) cho thấy các cổ đông của các công ty đa quốc gia Mỹ đạt được
lợi ích khi những công ty này thực hiện thâu tóm tại các quốc gia mà họ đã không
hoạt động trong quá khứ. Pantzalis (2001) thấy rằng các công ty đa quốc gia với
sự hiện diện tại các nước đang phát triển có giá trị thị trường cao hơn đáng kể so
với những công ty hoạt động chỉ ở các nước phát triển
3
.
Đa dạng hóa quốc tế nên khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô, cung cấp khả
năng tiếp cận nhiều hơn tới các nguồn lực duy nhất, và cho phép việc học hỏi.

hiện bởi các cơ hội khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô, tiếp cận với các nguồn
tài nguyên độc đáo, và việc học hỏi. Tiếp cận với các nguồn tài nguyên độc nhất
cho phép các công ty sử dụng tài nguyên với chi phí rẻ hơn, dựa trên công nghệ,
và / hoặc dễ khai thác một cách hiệu quả nhất. Và, thông qua việc học hỏi, các
công ty có thể tạo ra một cơ sở kiến thức độc đáo cung cấp những nhận thức kinh
nghiệm có giá trị, liên tục theo dõi các đối thủ cạnh tranh, và nâng cao nhận thức
về những tiến bộ của ngành công nghiệp định hướng công nghệ. Doukas và
Travlos (1988) và Allen và Pantzalis (1996) cung cấp hỗ trợ cho các khái niệm về
phạm vi đa dạng hóa địa lý như là một nguồn gốc giá trị cho các MNC. Họ lập
luận rằng mức độ mở rộng của một MNC vào các quốc gia khác cải thiện hiệu quả
hoạt động và giá trị của công ty bằng việc quốc tế hóa việc tiếp cận đến các tài sản
vô hình có giá trị và độc đáo của các MNC sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh. Vermeulen
và Barkema (2002), mở rộng các kết quả nghiên cứu của Tang và Tikoo (1999),
cũng tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa hiệu quả hoạt động MNC và phạm vi
địa lý.
MNC ban đầu có thể nhận thấy tốt nhất nên đầu tư vào các quốc gia có văn
hóa tương tự điều mà sẽ làm giảm lợi ích của đa dạng hóa. Hennart (2007) lập
luận, nếu một MNC là phân cấp-hierarchical hơn là phân tán-decentralized, thì
8
chi phí quản lý tăng lên cùng với khoảng cách văn hóa, thể chế và địa lý. Nếu
MNC thích quản trị tập trung, có xu hướng thích những nước chủ nhà-host nation
mà về mặt địa lý, thể chế và văn hóa tương tự như nước chính quốc-home nation.
5
Nếu MNC tiếp tục sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm tương tự như tại nước chính
quốc (đa dạng hóa sản phẩm thấp), thì giảm được rất ít rủi ro bằng việc đa dạng
hóa liên quan đến việc quốc tế hóa ngày càng cao của một công ty. Trong trường
hợp đó, MNC là một phương tiện không hiệu quả để giảm rủi ro hệ thống; các nhà
đầu tư sẽ được khấm khá hơn với một danh mục được đa dạng hóa quốc tế. Như
vậy, sẽ không có một lợi ích có thể đo lường được; thay vào đó, có thể có một chi
phí có thể đo lường liên quan đến hoạt động quốc tế hóa lớn hơn. Ngoài ra, với các

kỳ kiến thức hay năng lực mà một công ty con ở nước ngoài có thể được chuyển
giao đến văn phòng tại chính quốc thì có giá trị nhỏ.
Các nghiên cứu khác trong quá khứ khác nhau về kết quả chung của họ liên
quan đến các mối quan hệ giữa multinationality / đa dạng hóa địa lý và hiệu quả
hoạt động. Denis et al. (2002) và Click và Harrison (2000) tìm thấy một mối quan
hệ tiêu cực; Bodnar et al. (2003) và Tallman và Li (1996) tìm thấy kết quả không
đáng kể; whereasKimand Lyn (1986) tìm thấy một liên kết tích cực giữa đa dạng
hóa địa lý và hiệu quả hoạt động. Đẩy mạnh nghiên cứu để giải quyết những kết
quả trái ngược nhau, Gomes và Ramaswamy (1999) tìm thấy mối quan hệ này là
một hình chữ U đảo ngược; nhưng, Ruigrok và Wagner (2003) tìm thấy các mối
quan hệ hình chữ U; và Contractor et al. (2003) và Lu và Beamish (2004) tìm thấy
các mối quan hệ hình sigma. Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu gần đây tìm thấy
một mối quan hệ tích cực giữa hiệu quả hoạt động và đa dạng hóa quốc tế trong
một số phạm vi.
2.2. Tính minh bạch của công ty
Có lập luận cho rằng sự minh bạch tốt hơn có thể nâng cao giá trị chứng khoán
vì nó có thể dẫn đến một đánh giá đáng tin cậy hơn và giảm rủi ro. Subrahmanyan
và Titman (1999) cho rằng, tính minh bạch có khả năng làm cho một công ty hiệu
10
quả hơn và cũng làm cho sự lựa chọn đầu tư tốt hơn bởi vì chịu sự giám sát với
thông tin họ công bố. Ngoài ra, Easterbrook (1984) lập luận rằng tính minh bạch
có thể làm giảm chi phí đại diện giữa cổ đông và nhà quản lý có tác động tích cực
đến giá trị công ty.
Mặt khác, có thể lập luận rằng kiểm soát chặt chẽ hơn có thể ngăn cản các
công ty khỏi một số dự án có NPV dương, điều này khiến công ty phải tham gia
thị trường tài chính. Trong bài báo NBER, “các bên liên quan, tính minh bạch và
cấu trúc vốn”, Almazán et al. (2003) cung cấp lý thuyết rằng các doanh nghiệp,
phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi phải có (thứ 1 là) các loại nhất định của đầu tư
và (thứ 2 là) nhận thức người lao động của công ty như là một nhà lãnh đạo, cả hai
đều quan trọng cho việc giữ lại các nhân viên có giá trị. Doanh nghiệp có thể tìm

đối xử chống lại các công ty nước ngoài, bảo trợ của chính phủ cho doanh nghiệp
trong nước, những thay đổi về chính sách thuế, thay đổi đối với thương mại và
chính sách tỷ giá hối đoái. Tình trạng bất ổn xã hội và thay đổi chính phủ thường
xuyên ở nước sở tại cũng là những yếu tố rủi ro chính trị ảnh hưởng đến hiệu quả
hoạt động của các MNCs. Từ những năm 1980, các mối đe dọa cho quyền sở hữu
tài sản, từng được coi là một yếu tố nguy cơ chính trị lớn, đã không còn quan trọng
như những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của một MNC. Sự kỳ vọng trực quan
về các rủi ro chính trị là nó phải có tác động tiêu cực đến giá trị công ty. Trực giác
này được hỗ trợ bởi những phát hiện của nghiên cứu trước đây liên kết rủi ro chính
trị cho hoạt động thị trường chứng khoán, FDI và tăng trưởng kinh tế. Rủi ro chính
trị lớn (PR) có nghĩa là sự không chắc chắn lớn hơn về dòng tiền trong tương lai
và tăng chi phí nợ. Với dòng tiền dự kiến hàng năm, chi phí cao hơn sẽ làm giảm
lợi nhuận hoạt động của công ty. Như vậy, giá trị cổ phần của công ty là giá trị
hiện tại của các dòng tiền trong tương lai dự kiến sẽ được chiết khấu theo lãi suất
cao hơn sẽ giảm do rủi ro chính trị gia tăng. Rủi ro chính trị là riêng biệt theo từng
12
công ty-firm_specific vì nó bị ảnh hưởng bởi các thuộc tính của các công ty như
là mức độ của việc mở rộng đối ngoại và sự lựa chọn các nước có rủi ro chính trị
để đầu tư.
2.4. Phát triển giả thuyết
Yếu tố đầu tiên, đa dạng hóa địa lý (GD), là thước đo mức độ quốc tế hóa.
Công ty đa quốc gia cung cấp cho các cổ đông cơ hội để đa dạng hóa quốc tế,
trong đó dự kiến sẽ dẫn đến biến động thu nhập thấp hơn do đó có nghĩa xác suất
phá sản thấp hơn. Như vậy, những lợi ích này dẫn đến việc giảm chi phí nợ và giá
trị vốn chủ sở hữu cao hơn. Theo lý thuyết INT, các công ty đa quốc gia cũng được
hưởng lợi từ việc sử dụng các giá trị tài sản vô hình riêng biệt theo từng công ty,
chẳng hạn như khả năng R & D tốt hơn, kỹ năng sản xuất, kỹ năng tiếp thị, kỹ
năng quản lý và sự tín nhiệm của người tiêu dùng. Ngoài ra, theo lý thuyết MNH,
lợi ích có được từ cơ hội cho một MNC để giành lợi thế từ một tập hợp các quyền
chọn thực trên kết quả bất ngờ có thể không được mua lại bởi các nhà đầu tư. Do

đầu tư, tác giả đưa ra giả thiết rằng chi phí của tính minh bạch đối với các MNC có
thể vượt quá những lợi ích, do đó tính minh bạch sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới giá trị
công ty.
H3. Giá trị công ty đa quốc gia và tính minh bạch tương quan âm.
3. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1. Dữ liệu
Tác giả sử dụng dữ liệu của tất cả các công ty đa quốc gia tại Mỹ năm 1998-
14
2003 có sẵn trong Compustat. Để được bao gồm trong nghiên cứu này, các công ty
phải có ba năm (2001-2003) có doanh số bán hàng trung bình tại nước ngoài bằng
hoặc lớn hơn 20% tổng doanh số trung bình của nó. Ngoài ra, phải có đầy đủ dữ
liệu cho các công ty có sẵn trong Compustat để tính toán các thước đo được lựa
chọn. Các công ty bị loại ra khỏi mẫu nếu các công ty này không có trong cơ sở dữ
liệu tính minh bạch thông tin và thuyết minh S & P (S&P Transparency &
Disclosure). Do những hạn chế này, mẫu dữ liệu bao gồm 574 công ty đa quốc gia
Mỹ. Vì các thước đo thay thế được sử dụng cho các biến cụ thể, số lượng các công
ty đa quốc gia có thể khác nhau từ 561đến 574 công ty.
3.2. Phương pháp và định nghĩa biến
Nghiên cứu kết hợp các quan sát chuỗi thời gian với các quan sát không gian
cho ước lượng tham số. Trong thiết lập dữ liệu bảng, sai số chuẩn được ước tính
bằng cách sử dụng phương pháp hồi qui bình phương nhỏ nhất (OLS) có thể bị
chệch do sự hiện diện của mối tương quan trong sai số giữa các công ty, thời gian
hoặc cả hai. Vì các mối tương quan này rất phổ biến trong dữ liệu tài chính, nghiên
cứu đã giải quyết vấn đề này bằng cách sử dụng một phương pháp điều chỉnh để
xử lí sai số chuẩn khỏi chệch. Tác giả sử dụng phương pháp sai số chuẩn hội tụ
(cụm) -clustered standard errors, cách tiếp cận này cho phép tính toán sai số
chuẩn mạnh đối với mối tương quan giữa các công ty và thời gian được chứng
minh bởi Thompson (2006). Sử dụng mô phỏng Monte Carlo, Thompson cho thấy
sai số chuẩn hội tụ đồng thời giữa các công ty và thời gian dẫn đến suy luận chính
xác hơn.

ro chính trị (PR), tính minh bạch (TR), và đa dạng hóa địa lý (GD). Đa dạng hóa
địa lý được đo lường thay thế nhau là số lượng các quốc gia (NC) mà tại đó các
Nếu sai số chuẩn OLS bị chệch, một số thông tin trong phần dư bị bỏ qua. Như vậy, bằng cách sử dụng phương pháp hội tụ mạnh có thể cải thiện hiệu quả các ước tính, vì có thể có
tương quan giữa các quan sát trên các công ty khác nhau trong cùng một năm. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hội tụ mạnh như mô tả và được tranh luận bởi Petersen (2009).
16
công ty đa quốc gia hoạt động hoặc là tỷ lệ của doanh thu bán hàng tại nước ngoài
trên tổng doanh thu (FSR).
Rủi ro chính trị được đo lường bằng phần trăm rủi ro của các hoạt động quốc
tế. Thước đo phần trăm rủi ro được tính bằng [1 - (số quốc gia an toàn / tổng số
nước ngoài mà công ty hoạt động)], bằng cách sử dụng rủi ro quốc gia mã hóa có
sẵn từ Euromoney, để phân biệt giữa các quốc gia được xem là địa điểm đầu tư rủi
ro so với các quốc gia không được xem là địa điểm đầu tư rủi ro. Danh sách của
các nước đối với mỗi công ty có sẵn từ thư mục của các công ty Mỹ hoạt động ở
nước ngoài. Số quốc gia an toàn là số lượng các nước được xem là 1 trong 20 quốc
gia an toàn nhất trong ba năm liên tiếp từ 2001đến 2003 trong Euromoney.
Thước đo tính minh bạch được sử dụng luân phiên giữa Điểm minh bạch
Transparency Score (TRS) và Tỷ lệ % tính minh bạch Transparency Percent
(TRP). Cả hai thước đo này được lấy từ S & P Transparency & Disclosure,
database này cung cấp các kết quả cho câu hỏi khảo sát liên quan đến tính minh
bạch của công ty. Transparency Score (TRS) đại diện cho số lượng câu trả lời
"YES" đối với các câu hỏi và được cho là có mối tương quan với mức độ công bố
thông tin (tính minh bạch) liên quan đến các công ty. Thước đo này được gọi là
TRS. S & P Transparency & Disclosure cũng cung cấp một thước đo thay thế
trong đó số lượng các câu trả lời "YES" cho các câu hỏi được chia trên tổng số các
câu hỏi. Thước đo này được gọi là Transparency Percent (TRP).
4. CÁC BIẾN KIỂM SOÁT
Theo các tài liệu nghiên cứu trước khác, tác giả thừa nhận là 3 biến kiểm soát
(quy mô, đòn bẩy tài chính, và beta) là tương quan âm với giá trị công ty. Như
được tranh luận rằng nó có thể khó khăn hơn cho một công ty tỷ đô tăng gấp đôi
quy mô hơn là cho các công ty triệu đô, quy mô dường như tương quan âm với giá

được lặp lại việc sử dụng log tự nhiên tổng tài sản như là cách đo lường cho quy mô và tổng nợ dài hạn
chia cho tổng tài sản là cách đo lường cho LEV, nhưng các kết quả không được báo cáo ở đây kể vì phát
hiện này tương tự với những người sử dụng báo cáo tổng doanh thu và tổng nợ.
18
Hiệu quả hoạt động công ty là một hàm của PR: rủi ro chính trị (rủi ro quốc
gia), GD: đa dạng hóa địa lý (được đo lường thay thế như là NC hoặc là FSR), và
TR: tính minh bạch (sẵn sàng để báo cáo) được đo lường thay thế với TRS và
TRP; cũng như quy mô công ty, mức độ của đòn bẩy tài chính (LEV), và hệ số
beta của công ty. Cách tiếp cận của một Robust Cluster (cụm) với những cải tiến
trong hiệu quả của các ước tính được thực hiện trên phương trình sau đây:
Q = b
0
+ b
1
Size + b
2
LEV + b
3
Beta + b
4
PR + b
5
TR + b
6
GD.
Để so sánh với cách tiếp cận sai số chuẩn cụm, chúng tôi còn trình bày kết quả
phương trình trên bằng cách sử dụng cách tiếp cận dữ liệu bảng hiệu ứng ngẫu
nhiên.
5. KẾT QUẢ
Các số liệu thống kê tóm tắt cho các biến khác nhau được trình bày trong bảng

20
Bảng 2
Những kết quả này phản ánh việc sử dụng thước đo đầu tiên của Tobin Q, kích thước được
đo bằng log của tổng doanh thu của MNC, mức độ đòn bẩy được đo bằng tổng nợ phải trả, rủi ro
chính trị được đo lường bằng số điểm theo quy định của Euromoney, minh bạch đo bằng hai cách
khác nhau- TRS (điểm số) và TRP (phần trăm), và đa dạng hóa đầu tiên được đo bởi số lượng
của các quốc gia trong đó các MNC hoạt động (NC) và sau đó bởi tỷ lệ doanh thu nước ngoài với
tổng doanh số bán hàng (FSR). Số trong ngoặc đơn là sai số chuẩn.
*** mức ý nghĩa 1 %.
** mức ý nghĩa 5%.
Các kết quả hồi quy sử dụng các mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên được báo cáo
trong bảng 4 và 5 nhằm mục đích so sánh. Petersen (2009) chỉ ra rằng khi các số
dư của một hồi quy bảng tương quan, các ước lượng OLS cũng dẫn đến các ước
21
lượng hệ số không hiệu quả và có thể nâng cao tính hiệu quả bằng cách ước lượng
một mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên sử dụng phương pháp tiếp cận bình phương
tổng quát nhỏ nhất (GLS). Chúng tôi báo cáo trong Bảng 4 và 5 các kết quả ước
lượng của mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên sử dụng phương pháp tiếp cận GLS. Việc
so sánh các kết quả của các mô hình sai số chuẩn nhóm- the clustered standard
error model (Bảng 2 và 3) với kết quả của mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Bảng 4
và 5) cho thấy chỉ có sự khác biệt nhỏ trong các hệ số và ước tính sai số chuẩn,
nhưng không có sự thay đổi trong mức ý nghĩa của các hệ số ước lượng trừ hai
trường hợp (điểm số minh bạch (TRS) và đa dạng hóa (FSR)). Các hệ số ước
lượng nói chung cao hơn và sai số chuẩn nói chung thấp hơn trong mô hình hiệu
ứng ngẫu nhiên, xác nhận luận điểm rằng ước ượng hiệu ứng ngẫu nhiên giúp tăng
hiệu quả. Đối với TRS, ý nghĩa tăng từ 1% đến 5% khi tác giả chuyển từ mô hình
ước lượng sai số chuẩn nhóm-the clustered standard error model sang mô hình
hiệu ứng ngẫu nhiên bất kể thước đo đa dạng hóa nào được sử dụng trong hồi quy.
Trong trường hợp của FSR, hệ số không còn có ý nghĩa trong ước lượng hiệu ứng
ngẫu nhiên, một lần nữa, bất kể thước đo minh bạch nào được sử dụng.

Những kết quả này phản ánh việc sử dụng thước đo thứ hai của Tobin Q, kích thước được đo
bằng log của tổng doanh thu của MNC, mức độ đòn bẩy được đo bằng tổng nợ phải trả, rủi ro
chính trị được đo lường bằng số điểm theo quy định của Euromoney, minh bạch đo bằng hai cách
khác nhau- TRS (điểm số) và TRP (phần trăm), và đa dạng hóa đầu tiên được đo bởi số lượng
của các quốc gia trong đó các MNC hoạt động (NC) và sau đó bởi tỷ lệ doanh thu nước ngoài với
tổng doanh số bán hàng (FSR). Số trong ngoặc đơn là sai số chuẩn.
*** mức ý nghĩa 1 %.
** mức ý nghĩa 5%.
Bảng 4
24
Những kết quả này phản ánh việc sử dụng thước đo thứ hai của Tobin Q, kích thước được đo
bằng log của tổng doanh thu của MNC, mức độ đòn bẩy được đo bằng tổng nợ phải trả, rủi ro
chính trị được đo lường bằng số điểm theo quy định của Euromoney, minh bạch đo bằng hai cách
khác nhau- TRS (điểm số) và TRP (phần trăm), và đa dạng hóa đầu tiên được đo bởi số lượng
của các quốc gia trong đó các MNC hoạt động (NC) và sau đó bởi tỷ lệ doanh thu nước ngoài với
tổng doanh số bán hàng (FSR). Số trong ngoặc đơn là sai số chuẩn.
*** mức ý nghĩa 1 %.
** mức ý nghĩa 5%.
Bảng 5
25
Những kết quả này phản ánh việc sử dụng thước đo thứ hai của Tobin Q, kích thước được đo
bằng log của tổng doanh thu của MNC, mức độ đòn bẩy được đo bằng tổng nợ phải trả, rủi ro
chính trị được đo lường bằng số điểm theo quy định của Euromoney, minh bạch đo bằng hai cách
khác nhau- TRS (điểm số) và TRP (phần trăm), và đa dạng hóa đầu tiên được đo bởi số lượng
của các quốc gia trong đó các MNC hoạt động (NC) và sau đó bởi tỷ lệ doanh thu nước ngoài với
tổng doanh số bán hàng (FSR). Số trong ngoặc đơn là sai số chuẩn.
*** mức ý nghĩa 1 %.
** mức ý nghĩa 5%.
6. KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status