Tiểu luận Kỹ đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính - Pdf 28

HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 3
PHẦN KẾT LUẬN 30
Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính
-Trang 1-
HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
LỜI MỞ ĐẦU
Khởi kiện vụ án hành chính là bước tiếp theo của hoạt động khiếu nại của
công dân theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án hành chính. Khi nhắc đến việc khởi kiện vụ án hành chính
thì luật sư không thể không am hiểu về điều kiện khởi kiện vụ án hành
chính vì nếu không đủ điều kiện khởi kiện, luật sư sẽ không thể thực hiện
được việc khởi kiện hành chính theo yêu cầu của thân chủ mình. Vì vậy có
thể nói rằng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính là một bước rất
quan trọng đối với luật sư khi tham gia vào các vụ án hành chính.
Trong các khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại
Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính sửa đổi, bổ sung
năm 1998 và năm 2006 thì khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành
chính là một trong những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án thường gặp nhất trong thực tế, chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Kỹ năng
đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành
chính” nhằm trang bị cho mình một trong kiến thức quan trọng để có thể
bước vào con đường hành nghề luật sư trong tương lai của mình.
Sau đây chúng ta hãy cùng nhau đi vào phân tích “Kỹ đánh giá điều kiện
khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính” của luật sư
nhằm hiểu rõvề vấn đề này.
Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính

HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật tố tụng hành
chính.
I.2. Đặc điểm của khởi kiện vụ án hành chính
Khác với khởi kiện vụ án dân sự, kinh tế, lao động, khởi kiện vụ án
hành chính có những đặc điểm riêng biệt như sau:
- Khởi kiện vụ án hành chính có mối quan hệ mật thiết với khiếu
nại theo thủ tục hành chính. Thực chất, đây là bước khiếu nại tiếp theo của
người khiếu nại nhưng theo trình tự thủ tục tư pháp mà cơ quan nhà nước
có thẩm quyền giải quyết là Tòa án do pháp luật hành chính quy định. Hay
nói cách khác, muốn khởi kiện vụ án hành chính mà trước đó người khởi
kiện phải qua giai đoạn khiếu nại theo các trình tự thủ tục hành chính do
Luật Khiếu nại, tố cáo quy định còn gọi là giai đoạn tiền tố tụng. Đây là
điều kiện cơ bản đầu tiên và là một trong những căn cứ bắt buộc (cần và
đủ) để Tòa án thụ ký vụ án hành chính.
- Đối tượng và phạm vi khởi kiện vụ án hành chính do pháp luật tố
tụng hành chính quy định: Theo pháp luật tố tụng hành chính hiện hành thì
đối tượng khởi kiện vụ án hành chính gồm quyết định hành chính, hành vi
hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức (Điều 11
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính sửa đổi, bổ sung năm
2006). Đây cũng là đối tượng xét xử hành chính của Tòa án nhân dân. Các
quyết định hay hành vi bị khởi kiện là do các cơ quan nhà nước hoặc cán
bộ, công chức trong các cơ quan đó ban hành hay thực hiện mà người khởi
kiện cho rằng xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Khởi kiện vụ án hành chính là hành vi tố tụng thuộc quyền người
khởi kiện làm xuất hiện nghĩa vụ của Tòa án là phải xem xét và giải quyết
yêu cầu của người khởi kiện.
Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính
-Trang 4-

HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
I.3. Điều kiện khởi kiện thụ lý vụ án hành chính
Công dân, tổ chức muốn khởi kiện vụ án hành chính phải bảo đảm
đầy đủ các điều kiện mà pháp luật tố tụng hành chính quy định:
I.3.1. Điều kiện chủ thể
Chủ thể của quyền khởi kiện gọi là người khởi kiện. Người khởi kiện
là các nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp
của mình bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc
cán bộ, công chức cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại
bởi quyết định kỷ luật buộc thôi việc, nên đã khởi kiện vụ án hành chính tại
Tòa án có thẩm quyền (khoản 5 Điều 4 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2006).
I.3.1.1. Đối với cá nhân
Cá nhân khởi kiện gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài và
người không quốc tịch sinh sống tại Việt Nam. Họ phải là người có năng
lực chủ thể, đạt độ tuổi nhất định, sức khỏe bình thường (không bị bệnh
tâm thần, không rối loạn thần kinh chức năng làm mất khả năng nhận thức).
Cá nhân khởi kiện phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp trực tiếp
bị xâm hại do có quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật
gây nên. Người khởi kiện phải trực tiếp ký vào đơn khởi kiện và gửi đến
đúng Tòa án có thẩm quyền. Người khởi kiện có thể ủy quyền cho bất cứ
người nào mà pháp luật không cấm tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình. Do đó, người đại diện của người khởi kiện có thể
thay mặt người khởi kiện để thực hiện các thủ tục khởi kiện vụ án hành
chính tại Tòa án có thẩm quyền.
Nếu người khởi kiện là người chưa thành niên hoặc là người có
nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần thì phải có người đại diện hợp pháp
để tham gia thực hiện quyền khởi kiện hoặc Viện Kiểm sát nhân dân thay
Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính

Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính
-Trang 7-
HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
Cũng như cơ quan nhà nước, người khởi kiện là tổ chức thực hiện
quyền khởi kiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy
quyền.
I.3.1.4. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại bao gồm:
- Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), thủ
trưởng cơ quan thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi
chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định
hành chính, hành vi hành chính của mình, của người do mình có trách
nhiệm quản lý trực tiếp.
- Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền:
o Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi
hành chính của mình;
o Giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp xã, thủ trưởng cơ
quan thuộc UBND cấp huyện đã giải quyết nhưng còn khiếu nại;
- Thủ trưởng cơ quan thuộc Sở và cấp tương đương có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.
- Giám đốc Sở và cấp tương đương thuộc UBND tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) có thẩm quyền:
o Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi
hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp;
o Giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Sở và cấp
tương đương đã giải quyết nhưng còn khiếu nại.
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền:
o Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi
hành chính của mình;

-Trang 9-
HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
Trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến
nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng
biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối
với người vi phạm.
- Chánh Thanh tra các cấp, các ngành có trách nhiệm xác minh, kết
luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của
Thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp.
- Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền:
o Lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại của các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp;
o Xử lý các kiến nghị của Tổng Thanh tra trong việc giúp thủ
trưởng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết
khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
- Thủ tướng Chính phủ giải quyết những tranh chấp về thẩm quyền
giải quyết khiếu nại giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, UBND cấp tỉnh.
- Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết những tranh chấp về
thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi
quản lý của mình.
I.3.2. Điều kiện về thủ tục tiền tố tụng
I.3.2.1. Cá nhân, cơ quan tổ chức có quyền khởi kiện để Tòa án thụ lý
giải quyết các vụ án hành chính về các khiếu kiện quy định tại các khoản
từ khoản 1 đến khoản 16 Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án hành chính trong các trường hợp sau:

do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải
Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính
-Trang 11-
HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
quyết khiếu nại lần đầu, nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết
định giải quyết đó.
I.3.2.2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để Toà án giải
quyết vụ án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 18 Điều 11 của
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính nếu đã khiếu nại với cơ
quan lập danh sách cử tri, nhưng không đồng ý về cách giải quyết của cơ
quan đó.
I.3.2.3. Cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở
xuống theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức có quyền khởi
kiện để Toà án giải quyết vụ án hành chính về khiếu kiện quy định tại
khoản 19 Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính nếu đã
khiếu nại với người đã ra quyết định kỷ luật, nhưng không đồng ý với quyết định giải
quyết đó và không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp
theo.
I.3.2.4. Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện để Toà án giải quyết vụ án
hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 20 Điều 11 của Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án hành chính nếu đã khiếu nại với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết
đó.
I.3.2.5. Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện để Toà án giải quyết vụ án
hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 21 Điều 11 của Pháp lệnh này
nếu đã khiếu nại với Hội đồng cạnh tranh hoặc Bộ trưởng Bộ Thương mại,
nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó.
I.3.2.6. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để Toà án giải
quyết vụ án hành chính về khiếu kiện quy định tại khoản 22 Điều 11 của

thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (Mục 1.3.2.2) là 45 ngày, kể từ
ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu nhưng không đồng
ý với quyết định giải quyết đó;
Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính
-Trang 13-
HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
o Đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (Mục 1.3.2.3) chậm nhất là năm
ngày, trước ngày bầu cử nhưng không đồng ý về cách giải quyết của cơ
quan lập danh sách cử tri;
o Đối với trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 2 của Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (Mục 1.3.2.4) là 30 ngày, kể từ
ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng không đồng
ý với quyết định giải quyết đó. Đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn
thì thời hạn khởi kiện là 45 ngày;
o Đối với trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 2 của Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (Mục 1.3.2.5) là 30 ngày, kể từ ngày nhận
được quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, nhưng không đồng ý
với quyết định giải quyết đó;
o Đối với trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 2 của Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (Mục 1.3.2.6) là 30 ngày, kể từ ngày nhận được
quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh hoặc của Bộ trưởng Bộ
Thương mại, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó;
o Đối với trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 2 của Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (Mục 1.3.2.7) thì thời hiệu khởi kiện theo quy
định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên
về trường hợp đó; nếu pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế không có quy định thời
hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện là 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết
khiếu nại lần đầu hoặc lần hai hay kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại

quan đến xử lý vi phạm hành chính
II.1.1.Khái niệm xử lý vi phạm hành chính và các hình thức xử phạt
hành chính
Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (sau
đây gọi là Pháp lệnh) thì xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi
phạm và các biện pháp xử lý hành chính khác.
Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính
-Trang 15-
HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
- Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ
quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc
vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không
phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
- Các biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với cá
nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng
chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 23,
24, 25, 26 của Pháp lệnh (bao gồm: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa
vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh).
Theo quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh thì các hình thức xử phạt
hành chính gồm:
- Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải
chịu một trong các hình thức xử phạt chính: Cảnh cáo; phạt tiền.
- Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm
hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung:
Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.
- Ngoài các hình thức xử phạt chính hoặc xử phạt bổ sung, cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện
pháp khắc phục hậu quả sau đây:

gian làm thủ tục trục xuất;
- Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường
giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn.
Khi áp dụng các biện pháp trên, người có thẩm quyền phải tuân thủ
nghiêm ngặt quy định tại các điều từ Điều 44 đến Điều 52 của Pháp lệnh;
nếu vi phạm thì bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh.
Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính
-Trang 17-
HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
II.1.3.Về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính
Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định:
- Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị
đình chỉ ngay. Việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh
chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải
được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.
- Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm hành
chính do pháp luật quy định.
- Cá nhân chỉ bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác nếu
thuộc một trong các đối tượng được quy định tại các điều 23, 24, 25, 26 của
Pháp lệnh.
- Việc xử lý vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến
hành theo đúng quy định của pháp luật.
- Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một
lần. Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi
người vi phạm đều bị xử phạt. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm
hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.
- Việc xử lý vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ
vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng
để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp.

điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành
chính thì bị xử phạt hành chính; trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết
định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người đã ra quyết định phải gửi quyết
định cho người có thẩm quyền xử phạt; trong trường hợp này, thời hiệu xử
phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử
phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.
Trong thời hạn được quy định nêu trên mà cá nhân, tổ chức lại thực
hiện vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm
Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính
-Trang 19-
HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu
quy định nêu trên; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ
thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấm dứt hành
vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.
- Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác được quy
định tại các điều 23, 24, 25 và 26 của Pháp lệnh gồm:
o Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
là sáu tháng… (khoản 3 Điều 23 Pháp lệnh);
o Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là sáu
tháng hoặc một năm … tùy từng đối tượng (khoản 3 Điều 24 Pháp lệnh);
o Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục là một
năm … (khoản 3 Điều 25 Pháp lệnh);
o Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh là sáu
tháng … (khoản 3 Điều 26 Pháp lệnh).
II.1.5.Về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
c. Thẩm quyền xử phạt hành chính được quy định cụ thể tại các Điều
từ Điều 28 đến Điều 40d Pháp lệnh và quy định tại các văn bản khác có
quy định về xử phạt vi phạm hành chính.

- Thẩm quyền xử phạt của những người được quy định tại các điều
từ Điều 28 đến Điều 40d của Pháp lệnh là thẩm quyền áp dụng đối với một
hành vi vi phạm hành chính. Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử
phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối
với từng hành vi vi phạm cụ thể.
- Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi
phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc
sau đây:
Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính
-Trang 21-
HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
o Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với từng hành
vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt, thì thẩm quyền xử phạt vẫn
thuộc người đó;
o Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong
các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt, thì người đó phải
chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt;
o Nếu các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người
thuộc các ngành khác nhau, thì quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.
II.1.6.Về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh thì thời hạn ra quyết
định xử phạt là 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính;
đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra
quyết định xử phạt là 30 ngày. Trong trường hợp xét cần có thêm thời gian
để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ
trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải
bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày. Quá thời hạn nói
trên, người có thẩm quyền xử phạt không được ra quyết định xử phạt, trừ

theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
b. Khởi kiện hành chính
Theo quy định tại Điều 119 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì
việc khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định
áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành
chính, quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo
dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh được thực hiện
theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính
-Trang 23-
HV: Nguyễn Đào Thanh Trâm – SBD: LS 8.2MN-220 – Lớp A
HP: Kỹ năng của Luật sư trong vụ án Hành chính
II.2. Các khiếu kiện hành chính liên quan đến Quyết định xử lý vi
phạm hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Theo quy định tại Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006) thì Tòa án
có thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính liên quan đến quyết định xử
lý vi phạm hành chính sau:
II.2.1.Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Theo quy định của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính thì quyết
định xử phạt hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành
chính nhà nước được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc
vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không
phải là tội phạm (chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự) và theo quy
định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hàng chính. Người bị xử phạt
hành chính có quyền khiếu nại và khởi kiện vụ án hành chính tại TAND có
thẩm quyền theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo và Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án hành chính.
II.2.2.Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc
áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc

thức: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào
cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh có quyền khiếu nại và khởi kiện
vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của Luật khiếu
nại, tố cáo và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
Theo quy định tại Điều 119 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2008) thì bị đưa vào trường giáo
dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh cũng có quyền
khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của
Luật khiếu nại, tố cáo và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính
-Trang 25-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status