Tiểu luận: Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử vi phạm hành chính - Pdf 11

Kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính Tiểu luận

Kỹ năng đánh giá điều kiện
khởi kiện vụ án hành chính về xử
vi phạm hành chính
trước những hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Sự
“phản ứng” này, tùy vào từng giai đoạn lịch sử và sự phát triển kinh tế - xã hội mà Nhà
nước có những nội dung và biện pháp điều chỉnh pháp lý khác nhau. Trước đây, việc khiếu
kiện hành chính chủ yếu được giải quyết bởi các cơ quan và cán bộ công chức hành chính
có thẩm quyền và theo trình tự thủ tục hành chính. Hiện nay, để tăng cường chất lượng và
đảm bảo tính khách quan trong việc giải quyết khiếu nại, Nhà nước ta đã giao thêm thẩm
quyền cho Tòa án tham gia giải quyết khiếu kiện hành chính theo trình tự tư pháp (tố tụng
hành chính).
Như vậy, so với khiếu kiện tư pháp, chỉ giải quyết theo quy định của pháp luật tố
tụng và được thực hiện bởi các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền. Còn khiếu kiện
hành chính được giải quyết qua hai loại trình tự với những thiết chế khác nhau - đó là trình
tự hành chính với cơ quan, cá nhân do cán bộ, công chức có thẩm quyền giải quyết theo
Luật Khiếu nại, tố cáo và trình tự tố tụng do Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Hai loại
trình tự này tuy khác nhau về tính chất song chúng có mối liên hệ hữu cơ, trong đó có quy
trình và hậu quả giải quyết khiếu nại theo thủ tục hành chính là điều kiện tiên quyết cho
việc phát sinh khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện theo trình tự tư pháp.
Tham gia vào quá trình giải quyết khiếu kiện hành chính có nhiều chủ thể khác
nhau (chủ thể tiến hành và chủ thể tham gia) trong đó có vai trò của luật sư ngày càng
được đề cao.
Ở vai trò của người luật sư để giúp khách hàng khởi kiện vụ án hành chính nói
chung và khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng, luật sư cần
có kỹ năng đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính dựa vào các quy định của pháp
luật tố tụng hành chính và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Theo
PLTTGQCVAHC (1996, sửa đổi bổ sung 1998, 2006) tại Điều I quy định cá nhân, cơ
quan nhà nước, tổ chức theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền khởi kiện vụ án hành
chính do yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

II.KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH:
quy định. Theo pháp luật tố tụng hành chính hiện hành thì đối tượng khởi kiện vụ án hành
chính gồm quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc
cán bộ, công chức (Điều 11 PLTTGQCVAHC). Đây cũng là đối tượng xét xử hành chính
của TAND. Các quyết định hay hành vi bị khởi kiện là do các cơ quan nhà nước hoặc cán
bộ, công chức trong các cơ quan đó ban hành hay thực hiện mà người khởi kiện cho rằng
xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Đặc điểm trên đây cho phép xác định một loạt nội dung và vấn đề quan trọng tạo
nên sự khác biệt giữa vụ án hành chính với các vụ án phi hình sự khác nhất là tính chất và
vị trí của người bị kiện.
- Khởi kiện vụ án hành chính là hành vi tố tụng thuộc quyền của người khởi kiện
làm xuất hiện nghĩa vụ của Tòa án là phải xem xét và giải quyết yêu cầu của người khởi
kiện.
Đặc điểm này xác định trách nhiệm và phạm vi xem xét, giải quyết vụ án hành
chính là phải xuất phát từ yêu cầu của người khởi kiện chứ không xem xét yêu cầu của các
đương sự khác. Do đó, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính không thể có hiện
tượng phản tố như các vụ án phi hình sự khác. Việc xem xét yêu cầu của người khởi kiện 4
4

không chỉ xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của Tòa án mà còn giúp định hướng hàng loạt
hành vi tiến hành tố tụng quan trọng của Tòa án nhằm xem quyết định hành chính, hành vi
hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức bị khởi kiện là hợp
pháp hay bất hợp pháp.
- Khởi kiện vụ án hành chính là hành vi tham gia tố tụng thuộc quyền của người
khởi kiện nhưng là loại quyền có điều kiện. Do vậy, để thực hiện việc khởi kiện, người
khởi kiện phải hội đủ các điều kiện cần và đủ theo quy định của pháp luật tố tụng hành
chính. Nếu thiếu một trong những quyền này sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý là làm mất quyền
khởi kiện của người khởi kiện. Đây cũng chính là những điều kiện cần thiết để Tòa án thụ

quan hệ pháp luật hành chính cụ thể. Như vậy, quyết định hành chính là đối tượng xét xử
của Tòa hành chính phải là quyết định cá biệt. Tức là, quyết định áp dụng pháp luật vào
một trường hợp cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc nhiều đối tượng khác
nhau. 5
5

Hai là, quyết định hành chính đó phải tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của
công dân. Khi ban hành quyết định hành chính để giải quyết những công việc cụ thể trong
quản lý hành chính, để áp dụng pháp luật vào các trường hợp cụ thể. Cơ quan hành chính
hoặc người có thẩm quyền đã ban hành quyết định hành chính, nhưng việc ban hành quyết
định này đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Tức là, làm
phát sinh tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức với cơ quan nhà nước về quyết định hành chính.
Ba là, quyết định hành chính đó phải là quyết định hành chính lần đầu. Ngoài
những quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm
quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành lần đầu trong khi giải quyết, xử lý
những việc cụ thể thuộc thẩm quyền của mình, thì những quyết định hành chính được ban
hành thuộc một trong các trường hợp sau đây cũng được coi là quyết định hành chính lần
đầu (NQ số 04/2006/NQ-HĐTP ngày 04 tháng 8 năm 2006).
2. Đặc điểm của Quyết định xử phạt vi phạm hành chính:
Theo khoản 2, Điều 1, PLXLVPHC thì: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng
đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý
hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội
phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Quyết định xử phạt hành chính khi được ban hành sẽ gây ra một hậu quả pháp lý
đặc biệt, làm phát sinh trách nhiệm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính,
tức là buộc họ phải chịu hậu quả bất lợi trước nhà nước về tinh thần (bị hạn chế quyền)
hoặc về tài sản (bi phạt tiền, tịch thu tan vật, phương tiện…).

về thái độ phản ứng trước các hành vi vi phạm hành chính và mức cưỡng chế của Nhà
nước đối với các chủ thể vi phạm.
+ Quyết định xử phạt hành chính được ban hành trong khuôn khổ và phải tuân theo
pháp luật về trình tự, thủ tục hành chính (PLXLVPHC 2002, sửa đổi bổ sung 2007, 2008;
Nghị định 128/2008/NĐ-CP).
3. Hình thức của các quyết định xử phạt hành chính:
Các quy định về hình thức đối với các quyết định xử phạt hành chính là có tính
nguyên tắc, chặt chẽ và cụ thể dựa vào các yếu tố sau:
a) Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định cụ thể từ Điều 28 đến Điều
40 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
b) Về nguyên tắc xác định thẩm quyền được quy định tại Điều 42 của Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính, cụ thể là:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi
phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.
- Các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan quản
lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực có thẩm quyền xử phạt đối với những hành vi vi phạm
hành chính được quy định cụ thể tại các Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm
hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước.
- Thẩm quyền xử phạt của các chức danh theo quy định của Pháp lệnh trên trong
từng trường hợp cụ thể được xác định như sau:
+ Thẩm quyền phạt tiền được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt
quy định cho mỗi hành vi vi phạm hành chính;
+ Thẩm quyền áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
được xác định căn cứ vào bản quy phạm pháp luật về định vi phạm hành chính trong từng
lĩnh vực quản lý nhà nước quy định cho chức danh có thẩm quyền tịch thu tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính đối với một hành vi vi phạm cụ thể. Trường hợp pháp
lệnh quy định thẩm quyền tịch thu theo trị giá của tang vật, phương tiện vi phạm thì phải
căn cứ vào giá trị thực tế của tang vật, phương tiện vi phạm để xác định thẩm quyền.
+ Thẩm quyền áp dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành

đồng thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ.
Quyết định xử phạt phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, địa chỉ của
người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi
phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp
dụng; quyết định này phải được giao cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt một bản. Trường hợp
phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt. Cá nhân, tổ chức vi phạm có thể
nộp tiền phạt tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt; trong trường hợp nộp tiền phạt tại
chỗ thì được nhận biên lai thu tiền phạt.
Việc áp dụng thủ tục này được hiểu là:
- Xử phạt theo thủ tục đơn giản quy định tại Điều 54 của Pháp lệnh là trường hợp
xử phạt, theo đó người có thẩm quyền xử phạt không lập biên bản mà ra quyết định xử
phạt tại chỗ. Những trường hợp được tiến hành xử phạt theo thủ tục đơn giản bao gồm:
+ Hành vi vi phạm hành chính mà mức phạt quy định là cảnh cáo hoặc phạt tiền
đến 200.000 đồng;
+ Nhiều hành vi vi phạm hành chính do một người thực hiện mà hình thức và mức
phạt quy định đối với mỗi hành vi này đều là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 200.000
đồng;
- Trong trường hợp xử phạt theo thủ tục đơn giản, người có thẩm quyền không lập
biên bản mà ra quyết định xử phạt tại chỗ. Quyết định xử phạt phải thể hiện bằng văn bản
theo mẫu quy định. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền phạt tại chỗ cho người có
thẩm quyền xử phạt và được nhận biên lai thu tiền phạt do Bộ Tài chính phát hành. Trong
trường hợp không nộp tiền phạt tại chỗ, cá nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt tại Kho bạc
Nhà nước trong thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều 58 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính.

Hai là, thủ tục lập biên bản (còn gọi là thủ tục thông thường):
- Khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có
thẩm quyền xử phạt đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản, trừ trường hợp xử
phạt theo thủ tục đơn giản.


cần thiết thì tiến hành xác minh trước khi ký vào biên bản.

Ba là, về thời hiệu xử phạt và thời hạn ra quyết định:
- Thời hiệu: Theo quy định hiện hành, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là một
năm kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện; đối với vi phạm hành chính trong các
lĩnh vực tài chính, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, môi trường, an toàn và kiểm soát
bức xạ, nhà ở, đất đai, đê điều, xuất bản, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh hoặc
vi phạm hành chính là hành vi buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả thì thời hiệu là hai
năm. Nếu quá thời hạn trên thì không xử phạt.
Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử nhưng
sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu
vi phạm hành chính thì bị xử phạt hành chính; trong thời hạn ba ngày kể từ ngày ra quyết
định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án người đã ra quyết định phải gửi quyết định cho người
có thẩm quyền xử phạt; trong trường hợp này thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 3
tháng kể từ ngày người có thẩm quyền nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.
- Thời hạn ra quyết định xử phạt.
+ Thời hạn ra quyết định xử phạt la mười ngày, kể từ ngày lập biên bản về vi phạm
hành chính; đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết 9
9

định xử phạt là ba mươi ngày. Trong trường hợp xét cần có thêm thời gian để xác minh,
thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình
bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được
quá ba mươi ngày. Quá thời hạn nói trên, người có thẩm quyền xử phạt không được ra
quyết định xử phạt, trừ trường hợp xử phạt trục xuất; trong trường hợp không ra quyết định
xử phạt thì vẫn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả và tịch thu tang vật vi
phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành.

hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản; thời gian gia hạn không quá 30 ngày;
Cách tính thời hạn, thời hiệu trên được hiểu như sau:
Nếu thời hạn, thời hiệu được quy định là tháng hoặc năm thì khoản thời gian đó
được tính theo tháng, năm dương lịch bao gồm cả ngày nghỉ theo quy định của Bộ Luật
Lao động. 10
10

Những nội dung quy định về thời hạn, thời hiệu điều tra trên đây là cơ sở và là căn
cứ mà luật sư dựa vào đó để đánh giá tính hợp pháp về mặt thời gian của quyết định xử
phạt vi phạm hành chính.

Bốn là, về thể thức văn bản.
Hầu hết các quyết định xử phạt vi phạm hành chính đều được ban hành theo mẫu
quy định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Theo CV số 2297/VPCP-KNTN ngày
10/4/2009 cho phép sử dụng mẫu theo Nghị định 134/2003/NĐ-CP mặc dầu Nghị định 134
đã bị Nghị định 128/2008/NĐ-CP thay thế).
- Trong quyết định xử phạt phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên,
chức vụ của người ra quyết định; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên,
địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm hành chính; những tình tiết liên quan đến
việc giải quyết vụ vi phạm; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng, hình thức xử
phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung (nếu có), các biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có);
thời hạn, nơi thi hành quyết định xử phạt và chữ ký của người ra quyết định xử phạt.
Trong quyết định xử phạt cũng phải ghi rõ cá nhân, tổ chức bị xử phạt nếu không
tự nguyện chấp hành thì bị cưỡng chế thi hành quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết
định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
- Quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trường hợp trong quyết định
quy định ngày có hiệu lực khác.

luật hành chính được thể hiện như sau (Teo Luật Ban hành VBQPPL ngày 03/6/2008 và
Luật Ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03/12/2004):
- Hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.
- Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải phù hợp với hiến pháp, bảo đảm
tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật.
- Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải
phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống các văn bản quy phạm
pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, văn bản liên tịch của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội, văn bản quy phạm pháp luật của
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp được thực hiện như sau:
- Nghị quyết, nghị định cho chính phủ ban hành phải phù hợp với hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lệnh,
nghị quyết của Chủ tịch nước.
- Quyết định, chỉ thị do Thủ tướng Chính phủ ban hành phải phù hợp với hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ.
- Quyết định, chỉ thị, thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ ban hành phải phù hợp với hiến pháp, luật. nghị quyết của Quốc hội,
quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của
Thủ tướng Chính phủ, các văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ về quản lý ngành, lĩnh vực do Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
chính phủ phụ trách.
- Nghị quyết, thông tư liên tịch do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung
ương hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương với tổ chức chính trị - xã hội
ban hành phải phù hợp với hiến pháp, luật, nghi quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, nghị quyết của Chủ tịch nước; nghị quyết, nghị
định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.
- Nghị quyết do Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị do Ủy ban nhân dân các cấp

của hành vi vi phạm hành chính, không có lỗi trong hành vi thì không có chủ thể vi phạm
hành chính.
Điều 5 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định những người từ đủ 14 đến
dưới 16 tuổi là những người bắt đầu có năng lực trách nhiệm hành chính, họ chỉ chịu trách
nhiệm hành chính khi thực hiện vi phạm hành chính với lỗi cố ý. Khoa học pháp lý gọi
những người trong độ tuổi này là tuổi có năng lực chịu trách nhiệm hành chính chưa đầy
đủ và những người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được gọi là những người có năng lực trách
nhiệm hành chính đầy đủ.
Về nguyên tắc, người chưa đạt độ tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hành chính
sẽ luôn luôn được coi là không có lỗi vì chưa có điều kiện để có lỗi và do vậy, không thể là
chủ thể của vi phạm hành chính.
Ngoài ra, có những người tuy đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hành chính nhưng lại
mắc phải bệnh tâm thần, rối loạn hoạt động thần kinh chức năng đến mức mất khả năng
nhận thức hoặc bị một bệnh nào đó làm mất khả năng điều khiển hành vi… cũng được xem
là không có lỗi. Những người trong tình trạng như vậy không thể là chủ thể của vi phạm
hành chính.
- Tổ chức - Chủ thể của vi phạm hành chính.
Khi xác định một cá nhân nào đó có phải là chủ thể của vi phạm hành chính hay
không là xác định cá nhân đó khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có lỗi hay không.
Lỗi chỉ có thể có ở cá nhân, ở con người cụ thể. Tâm lý học mác xít đã chứng minh không
thể có một thái độ tâm lý đặc thù, cụ thể cho một tập thể mặc dù tập thể đó có thể cùng có
chung một quan điểm nào đó. Hoạt động tâm lý của mỗi người là khác nhau. Khoa học
pháp lý xã hội chủ nghĩa cũng xác định rõ lỗi luôn luôn là của cá nhân. Vì vậy, tổ chức,
pháp nhân không thể có lỗi dưới góc độ pháp lý được.
Để đảm bảo cho việc đấu tranh, phòng chống vi phạm hành chính có hiệu quả trong
trường hợp một tổ chức nào đó (cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế,…) có
biểu hiện xem thường pháp luật, vô trách nhiệm với các nghĩa vụ pháp lý mà có những vi
phạm hành chính…thì cũng phải chịu trách nhiệm hành chính như đối với cá nhân. Tổ
chức trong trường hợp này có thể xem như chủ thể đặc biệt của vi phạm hành chính. Trong
cấu thành vi phạm hành chính của tổ chức, do không thể xác định được lỗi của nó nên ở

trên thì quyết định xử phạt là trái pháp luật. IV. KỸ NĂNG ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH:
Công dân, tổ chức muốn khởi kiện vụ án hành chính phải đảm bảo đầy đủ các điều
kiện mà pháp luật tố tụng hành chính quy định:
1. Điều kiện chủ thể
Người khiếu kiện phải đủ năng lực chủ thể hoặc thông qua người đại diện (trong
một số trường hợp Viện kiểm sát nhân dân quyết định khởi tố vụ án hành chính). Người
khiếu kiện phải là người bị thiệt hại do việc áp dụng quyết định xử phạt vi phạm hành
chính trực tiếp gây ra.
Chủ thể của quyền khởi kiện gọi là người khởi kiện. Tại khoản 5 Điều 4
PLTTGQCVAHC quy định người khởi kiện là cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức cho
rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, nên đã
khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền.
a) Đối với cá nhân: 14
14

Cá nhân khởi kiện gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài và người không
quốc tịch sinh sống tại Việt Nam. Họ phải là người có năng lực chủ thể, đạt độ tuổi nhất
định, sức khỏe bình thường (không bị bệnh tâm thần, không rối loạn thần kinh chức năng
làm mất khả năng nhận thức).
Cá nhân khởi kiện phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp trực tiếp bị xâm hại do
có quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật gây nên. Người khởi kiện phải
trực tiếp ký vào đơn khởi kiện và gửi đến đúng Tòa án có thẩm quyền. Người khởi kiện có
thể ủy quyền cho bất cứ người nào mà pháp luật không cấm tham gia tố tụng để bảo vệ

thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền.
2 . Điều kiện về thủ tục tiền tố tụng.
a) Đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định
tại các điều từ Điều 19 đến Điều 25 Luật khiếu nại, tố cáo nhưng hết thời hạn giải quyết
quy định tại Điều 36 Luật khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết và cũng
không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo. 15
15

Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu bao gồm:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), Thủ trưởng
cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của
người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là
cấp huyện) có thẩm quyền:
+ Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình;
Giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại.
- Thủ trưởng cơ quan thuộc Sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ công chức do
mình quản lý trực tiếp.
- Giám đốc Sở và cấp tương đương thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương có thẩm quyền;
+ Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình,
của cán bộ, công chức của mình quản lý trực tiếp;
+ Giải quyết khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương giải
quyết nhưng còn có khiếu nại.

khiếu nại trực tiếp theo.
Tóm lại khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính là loại việc thuộc khoản
1, Điều 11, PLTTGQCVAHC nên việc khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính là
bắt buộc trước khi gởi đơn khợi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Điều kiện về thời hiệu và thủ tục khởi kiện:
Tùy từng trường hợp mà luật sư áp dụng các quy định về thời hạn, thời hiệu để xác
định thời hạn, thời hiệu. Nếu hết thời hạn, thời hiệu thì cần tư vấn cho khách hàng là họ đã
mất quyền khiếu kiện nếu không chứng minh được việc quá thời gian là do trờ ngại khách
quan hay có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại điều 30 PLTTGQCVAHC, để khởi kiện vụ án hành chính, người
khởi kiện phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Người khởi kiện đối với quyết định xủ phạt vi phạm hành chính, phải làm đơn yêu
cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính trong thời gian ba mươi ngày, kể từ
ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo mà
khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu
nại lần đầu mà không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại đó.
- Đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đi lại khó khăn thì các thời hạn khởi kiện nói
trên là bốn mươi lăm ngày.
- Trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì
những trở ngại khách quan khác mà người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn
quy định trên đây thì thời gian có trở ngại do không tính vào thời hiệu khởi kiện.
Vì vậy để được Tòa án thụ lý thì người khởi kiện phải viết đơn và các tài liệu
chứng cứ kèm theo gởi tòa án có thẩm quyền nếu thời hiệu khởi kiện còn trong luật định.
Việc gởi đơn có thể trực tiếp đến Tòa án hoặc gởi qua đường bưu điện, nếu gởi qua bưu
điện thì được tính theo dấu nơi bưu điện gởi.
Về thủ tục khiếu kiện:
- Đơn kiện phải có các nội dung chính sau đây:
+ Ngày, tháng, năm làm đơn;
+ Tòa án được yêu cầu giải quyết vụ ánh hành chính;

Theo lãnh thổ: Tòa án nơi “người bị kiện” làm việc, có trụ sở đối với các khiếu
kiện cơ quan cấp tỉnh trở xuống, người đứng đầu, công chức của các cơ quan nầy. Tòa án
nơi “người khởi kiện” làm việc, cư trú đối với các khiếu kiện cơ quan cấp trên tỉnh, người
đứng đầu, cán bộ, công chức của các cơ quan nầy.
Đối với trường hợp vừa khiếu nại tiếp theo vừa có đơn khởi kiện QĐHC liên quan
đến một người và chưa có quyết định giải quyết khiếu nại tiếp theo thì thuộc thẩm quyền
của Tòa án. Đối với QĐHC liên quan đến nhiều người mà họ vừa khởi kiện vừa khiếu nại
đến cấp tiếp theo hoặc có người khiếu nại, có người khởi kiện thì thuộc thẩm quyền giải
quyết của cấp giải quyết khiếu nại tiếp theo nhưng cấp nầy không giải quyết hoặc giải
quyết không thỏa đáng thì thuộc thẩm quyền Tòa án.
Đối với QĐHC liên quan đến nhiều người mà họ vừa khởi kiện vừa khiếu nại đến
cấp tiếp theo hoặc có người khiếu nại, có người khởi kiện thì thuộc thẩm quyền của cấp
giải quyết khiếu nại tiếp theo.

V. NHẬN ĐỊNH CỦA LUẬT SƯ VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN TRONG
VIỆC KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH:
Theo quy định của pháp luật hiện hành, để thực hiện việc khởi kiện vụ án về xử
phạt vi phạm hành chính, thì các rào cản là điều kiện khởi kiện. Việc phải thỏa mãn các
điều kiện khởi kiện này đã khiến tình trạng những vụ kiện sẽ kéo dài lê thê bởi phải qua
các trình tự khiếu nại, tố cáo. Và việc này cũng làm ảnh hưởng đến bộ máy quản lý hành
chính. Hơn nữa một số cơ quan hành chính lại không đi đầu trong việc chấp hành pháp
luật, e sợ bị khiếu kiện ra Tòa nên thay vì phải ra quyết định giải quyết khiếu nại thì họ lại
ban hành các thông báo khiến người dân gặp khó khăn trong việc khiếu kiện ra Tòa vì
không đảm bảo được thủ tục tiền tố tụng. Vì vậy cơ quan ban hành pháp luật cần phải mở
rộng hơn nữa điều kiện khởi kiện cho người dân.
Ở vai trò của mình Luật sư cần không ngừng nâng cao kỹ năng hành nghề nói
chung và kỹ năng phân tích đánh giá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính về xử phạt vi
phạm hành chính nói riêng nhằm góp phần thiết thực vào việc thực hiện cải cách hành
chính, cải cách tư pháp, thực hiện tốt Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ

15. Sổ tay luật sư năm 2004, tập bài giảng về chuyên đề và kỹ năng chung hành nghề luật
sư;
16. Báo pháp luật TP Hồ Chí Minh và các bài viết liên quan trên báo, trên mạng internet;
17. Tự điển tiếng việt phổ thông của Viện Ngôn Ngữ Học-NXB TP HCM.2002;
18. Tạp chí nghề luật; 19
19

19. Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004; Luật Ban hành VBQPPL năm
2008; Nghị định 110/2004/NĐ-CP về công tác văn thư và Nghị định 09/2010/NĐ-CP sử
đổi bổ sung Nghị định 110/2004/NĐ-CP; Nghị định 40/2010/NĐ-CP Về kiểm tra và xử lý
văn bản quy phạm pháp luật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status