Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN VIỆN SINH THÁI
VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
CAO VĂN LƢƠNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI CỎ
XOAN Halophila ovalis (R.Br.) Hook. f. TRONG
ĐẦM NUÔI THỦY SẢN HUYỆN CÁT HẢI (HẢI
PHÒNG) VÀ KHẢ NĂNG NẢY MẦM CỦA HẠT
TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
CHUYÊN NGÀNH: THỰC VẬT HỌC
MÃ SỐ NGÀNH: 60420111
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐÀM ĐỨC TIẾN
mong nhận đƣợc những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn.
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Học viên
LỜI CAM KẾT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Tôi xin cam kết đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa đƣợc các tác giả khác công
bố trong bất kỳ công trình nào.
Tôi xin cam kết mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn
gốc.
Học viên thực hiện Luận văn
4
1.1. Tình hình nghiên cứu cỏ biển trên thế giới
4
1.2. Tình hình nghiên cứu cỏ biển ở Việt Nam
13
1.3. Khái niệm và đặc điểm hình thái của cỏ biển
16
1.4. Vai trò của cỏ biển
18
1.5. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, môi trƣờng sống của Cỏ biển
18
1.5.1. Chất đáy
18
1.5.2. Độ muối
20
1.5.3. Nhiệt độ
20
1.5.4. Độ đục
20
1.5.5. Ánh sáng
21
1.6. Một số đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu
21
Chƣơng II – ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
23
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
23
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
24
2.3. Tài liệu nghiên cứu
30
3.1.2. Rễ
30
3.1.3. Lá, phiến lá
31
3.1.4. Vảy lá
31
3.1.5. Hoa
32
3.1.6. Quả và hạt
32
3.2. Một số đặc điểm sinh thái của loài cỏ Xoan
33
3.2.1. Một số thông số môi trƣờng trong đầm nuôi
33
3.2.1.1. Nhiệt độ nƣớc
34
3.2.1.2. Cƣờng độ ánh sáng
34
3.2.1.3. Nồng độ muối
34
3.2.1.4. Nền đáy
35
3.2.2. Sự biến động theo mùa của cỏ biển trong đầm nuôi
36
3.2.2.1. Phân bố và diện tích
36
3.2.2.2. Biến động các chỉ tiêu sinh lƣợng
37
3.2.3. Mùa ra hoa của cỏ Xoan
MỞ ĐẦU
Cỏ biển (Seagrass) là nhóm thực vật bậc cao (ngành Anthophyta, lớp
Monocotyledons, bộ Helobiae), sống trong môi trƣờng nƣớc mặn và lợ. Hệ
sinh thái cỏ biển (Seagrass ecosystem) là một trong những hệ sinh thái
điển hình của vùng biển nhiệt đới (cùng với san hô và rừng ngập mặn), có
năng suất sơ cấp cao, khả năng ổn định nền đáy, tổng hợp các chất hữu cơ
từ vô cơ, tham gia vào chuỗi thức ăn, chu trình dinh dƣỡng và là nơi sống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
cho nhiều loài sinh vật có giá trị kinh tế cao. Ngoài ra, trên các thảm cỏ
biển, con ngƣời thu đƣợc nhiều lợi ích trực tiếp và gián tiếp khác nữa [6].
Cho đến nay, tại các vùng ven biển Việt Nam đã phát hiện đƣợc khoảng
14 loài cỏ biển, trong đó có loài cỏ Xoan - Halophila ovalis (R. Br) Hook. f.
(thuộc chi Halophila, họ Hydrocharitaceae). Về hình thái, loài cỏ Xoan tƣơng
đối giống rong biển (các loài thuộc chi Caulerpa) nhƣng thực chất lại hoàn
toàn khác ở chỗ cỏ biển là thực vật bậc cao có thân, rễ, lá, hoa và quả [8], [9],
[11].
Chi Halophila là một trong số ít các chi có liên quan tới nguồn gốc xuất
hiện sớm nhất của cỏ biển trong quá trình tiến hóa [19]. Halophila có khả
năng tồn tại ở những vùng luôn bị tác động, ánh sáng yếu và độ đục cao.
Halophila có vùng phân bố rộng và giữ vai trò “tiên phong” trong khả năng
thải, khai hoang lấn biển, xây dựng, v.v) và các tác động bất lợi từ thiên nhiên
(nhƣ sóng, dòng chảy, phù sa, v.v). Một khó khăn nữa khi trồng phục hồi cỏ
biển bằng chồi là kinh phí rất tốn kém, khó thực hiện trên diện rộng vì không
đủ nguồn giống cung cấp và hiệu quả thấp. Hơn nữa, phƣơng pháp trên còn
làm ảnh hƣởng không nhỏ tới bãi cỏ biển hiện có. Việc trồng bằng hạt các
loài cỏ biển có rất nhiều ƣu thế và có thể trồng đƣợc trên diện tích rộng,
nhƣng việc trồng phục hồi các thảm cỏ biển bằng hạt chƣa đƣợc nghiên cứu
nhiều hoặc mới ở mức ý tƣởng.
Kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm sinh học, sinh thái, biến động
theo mùa, khả năng cho nảy mầm hạt loài cỏ Xoan sẽ góp phần quan trọng
không những trong việc bổ sung những hiểu biết chung về hệ sinh thái cỏ biển
mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc trồng phục hồi loài này ngoài tự nhiên.
Chính vì thế, chúng tôi đã chọn đề tài: “Đặc điểm sinh học loài cỏ Xoan -
Halophila ovalis (R.Br.) Hook. f. trong đầm nuôi thủy sản huyện Cát Hải -
Hải Phòng và khả năng nảy mầm của hạt trong phòng thí nghiệm” làm báo
cáo cho luận văn tốt nghiệp cao học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Chƣơng I - TỔNG QUAN
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vào đầu thế kỷ 20, với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học sinh
học, lần đầu tiên cỏ biển đã đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu tại trạm Sinh
thái học Copenhagen, Đan Mạch. Ngay sau đó, đã đạt đƣợc những thành tựu
đáng kể. Trong đó, Ostenfeld (1905) và Pertersen và Boyer - Jensen (1905) là
những ngƣời đã bƣớc đầu mở rộng việc nghiên cứu sinh thái trên cỏ lƣơn
[52], [53]. Những đặc điểm sinh học và sinh thái của cỏ biển đã sự quan tâm
của các nhà khoa học ngay từ khi đối tƣợng này đƣợc biết đến. Đến nay, công
việc điều tra nguồn lợi biển này đã đƣợc mở rộng trên phạm vi toàn thế giới,
học và di truyền học để giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong định loại cỏ
biển.
Năm 1950, đã có sự thay đổi trong hƣớng nghiên cứu về cỏ biển
với một báo cáo hoàn thiện về sự phân bố và sinh thái của cỏ biển ở bang
Florida (Mỹ). Sau bài báo này, nhiều nhà nghiên cứu bƣớc đầu tập trung
nghiên cứu các thành phần trong hệ sinh thái cỏ biển nhiệt đới. Từ năm
1960 đến năm 1970 nghiên cứu cỏ biển đã rộng hơn về mô tả định tính và
các nghiên cứu về định lƣợng. Các quan niệm về hệ sinh thái cỏ biển đã
đƣợc hoàn chỉnh và đẩy đủ hơn. Một nghiên cứu đồ sộ về cỏ Lƣơn ở
Alaska đã đƣợc hoàn thiện vào năm 1966 bởi McRoy [53].
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học cỏ biển, thì cần phải có sự
phối hợp, trao đổi kinh nghiệm và kiến thức giữa các nhà khoa học nghiên
cứu về cỏ biển. Do vậy, lần đầu tiên một cuộc hội thảo quốc tế đƣợc tổ chức
vào năm 1973 tại Leiden, Hà Lan, do Viện Khoa học Quốc gia Hà Lan tài trợ,
bao gồm 38 nhà khoa học từ 11 nƣớc trên thế giới. Hội thảo này chủ yếu đƣa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
ra những kết quả và thảo luận về những nghiên cứu đã đƣợc thực hiện và
những ý kiến đóng góp về những vấn đề sẽ làm trong tƣơng lai. Từ sau hội
thảo quốc tế này, số lƣợng các công trình nghiên cứu cỏ biển đã tăng lên
nhanh chóng ở nhiều nơi trên thế giới đặc biệt ở Nhật, Úc, Pháp, Hà Lan, Ấn
Độ, Canada, Papua New Guinea và Phillipine. Và cho đến năm 1978, các nhà
khoa học đã liệt kê đƣợc một thƣ mục sách tham khảo về nghiên cứu sinh thái
cỏ biển bao gồm hơn 1400 bài trên toàn thế giới [64]. Vào năm 1982, một
phân tích về cỏ biển ở Nam Florida đã bao gồm hơn 550 tài liệu tham khảo
[53]. Điều đó chứng tỏ rằng số lƣợng các nghiên cứu về cỏ biển đã tăng lên
nhanh chóng. Và từ cuộc hội thảo về hệ sinh thái cỏ biển lần thứ I ở Leiden,
Hà Lan cho đến nay, thì các cuộc hội thảo quốc tế về cỏ biển lần thứ II, III và
thứ IV nữa đã lần lƣợt đƣợc diễn ra. Vào năm 1998 - năm quốc tế đại dƣơng,
hơn 100 nhà khoa học đã tập trung tại cuộc hội thảo cỏ biển lần thứ III đƣợc
sinh thái của sự biến động cấu trúc thân, rễ, tốc độ sinh trƣởng và sự phân
nhánh của thân cỏ và các cơ quan khác. Vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu tập
trung điều tra tỷ lệ sinh khối trên mặt đất (chồi lá và chồi hoa) và sinh khối
dƣới mặt đất (rễ và thân) của cỏ biển. Trong đó, Verhagen và Nienhuis
(1983), đã mô tả sự thay đổi có tính mùa vụ của sinh khối trên mặt đất và sinh
khối dƣới mặt đất của ở cỏ lƣơn bởi kỹ thuật đánh dấu trên lá [62]. Xác định
sinh khối (sinh khối trên và dƣới mặt đất) của cỏ biển và đánh giá vai trò của
chúng trong hệ sinh thái là rất quan trọng [17], [51]. Trong đó hệ thân, rễ cỏ là
cơ quan giúp cây sinh sản vô tính, một thành phần quan trọng của hệ sinh thái
này. Tuy nhiên, Nelsson (1997) cho rằng sinh khối trên và tổng sinh khối có
mối liên quan chặt chẽ với nhau, nhƣng sinh khối dƣới thì không [48]. Kiểm
tra sinh khối dƣới đƣợc coi nhƣ sự đánh giá khả năng đâm sâu vào trong nền
đáy của cỏ biển và điều đó cũng có thể đƣợc giải thích rằng các chồi mới sinh
ra cần năng lƣợng từ thân hơn là những chồi đã trƣởng thành [17], [64]. Các
cơ quan bên dƣới mặt đất giữ vai trò quan trọng trong dinh dƣỡng, cố định và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
phát triển của cỏ biển. Sự sinh trƣởng và sự phân nhánh của thân ảnh hƣởng
đến biến động, sinh trƣởng và tồn tại của quần thể sinh sản vô tính [51]. Điều
đó rất cần thiết trong môi trƣờng biển, nơi có nhiều tác động đến những biến
động của hệ thực vật là vô cùng quan trọng.
Bên cạnh sự duy trì và phát triển quần thể bằng cách sinh sản vô tính
bằng thân chồi, cỏ biển còn sinh sản bằng hạt. Cách đánh giá khả năng sinh
sản của cỏ biển là số lƣợng các cây con đƣợc nảy mầm từ hạt vào mùa ra hoa,
hay số lƣợng hạt từ cây mẹ. Những hạt ở trạng thái ngủ dài bị chôn vùi trong
nền đáy và có khả năng hình thành nguồn dự trữ mà cho phép nó nảy mầm
trong điều kiện thích hợp đƣợc gọi là ngân hàng hạt. Theo nghiên cứu của
Hootsmans và cộng sự (1987), hạt thƣờng nảy mầm ở nhiệt độ cao và nồng độ
muối thấp, và sự nảy mầm sẽ giảm ở nhiệt độ thấp và nồng độ muối cao. Vì
vậy, có hiện tƣợng ngủ đông của hạt [30].
0
C).
Orth và Moore (1983) đã kiểm tra sự nảy mầm của hạt thông qua số
lƣợng cây con thu đƣợc trong năm. Tại cùng Thái Bình Dƣơng, số lƣợng hạt
nảy mầm cao nhất trong thời điểm từ tháng 4 đến tháng 7, trong khi ở vùng
biển Đại Tây Dƣơng có hai giai đoạn hạt nảy mầm. Giai đoạn thứ nhất hạt
nảy mầm vào cuối thu, giai đoạn hai có khoảng 66% hạt nảy mầm từ tháng 12
đến tháng 3 năm sau. Các cây con rất dễ bị tổn thƣơng, tỷ lệ sống là rất thấp
(xấp xỉ 2%) và cỏ biển có tỷ lệ sống dạng cổ chai trong suốt vòng đời của nó.
Nghĩa là có khoảng 10% cây trƣởng thành ra hoa, 10% số hoa trên sẽ hình
thành quả, 1% - 10% số quả ấy có hạt hình thành và 1% - 10% số hạt trên sẽ
nảy mầm, 1% - 10% hạt nảy mầm phát triển thành cây con, cuối cùng chỉ có
10% số cây con trên phát triển trƣởng thành và ra hoa [49].
Các yếu tố về hình dạng ngoài và các đặc điểm sinh thái, sinh lý của
từng loài quyết định phƣơng pháp trồng chúng. Có 5 mục tiêu chính đƣợc đặt
ra cho việc nghiên cứu di trồng và trồng phục hồi thảm cỏ biển đó là:
- Độ phủ của các thảm thực vật biển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
- Cân bằng diện tích bao phủ của các thảm thực vật và các diện tích phân
bố của chúng đã bị suy giảm hoặc mất đi
- Gia tăng diện tích của các thảm thực vật này nếu có thể
- Thay thế đúng loài chúng ta mong muốn vào các khu vực cỏ biển bị
mất đi
- Sau cùng là để bảo đảm sự đa dạng sinh học và phát triển các quần xã
động vật sống trong hệ sinh thái.
Có nhiều phƣơng pháp di trồng cỏ biển nhƣng tổng quát có thể tập hợp
thành 3 phƣơng pháp chính [16]:
- Đào bứng thân đứng cùng với nguyên rễ và phần trầm tích còn dính với
rễ (phƣơng pháp 1)
có thể tạo hoa và quả. Các chi Halodule, Thalassia, Syringodium và
Halophila xuất hiện cơ quan sinh sản trong điều kiện chiếu sáng liên tục và
nhiệt độ từ 20 - 26
0
C. Một vài loài của chi Halophila chỉ ra hoa ở nhiệt độ
26
0
C [43].
Cỏ biển có tuổi thọ trung bình từ vài tuần đến hang chục năm, phụ thuộc
vào kích thước của từng loài. Những loài cỏ có kích thước lớn với thân dày,
lá rộng và rễ dày có thể sống rất lâu trong nhiều năm, nhưng những loài có
kích thước nhỏ thì thời gian sống ngắn hơn chỉ dưới một tháng. Do chu kỳ
sống của chúng rất ngắn, nên những loài cỏ có kích thước nhỏ thường có khả
năng tái sinh chồi rất nhanh, ví dụ kích thước cỏ Halophila ovalis nhỏ nhưng
chu kỳ sống của chúng chỉ khoảng vài tháng, còn Posidonia oceanica có thể
sống tới 11 năm [16].
Cấu trúc của cỏ biển còn phụ thuộc vào đặc điểm vùng phân bố. Các
loài có kích thước nhỏ thường mọc trên các vùng triều, còn cỏ có kích thước
lớn thường thấy ở vùng thấp triều và dưới triều. Thêm vào đó, cỏ trên nền đáy
nhiều cát có lá hẹp hơn cỏ trên nền đáy nhiều bùn. Hơn nữa, vùng nước nông
là nơi chịu ảnh hưởng của sự thay đổi môi trường nhiều hơn vùng nước sâu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Thực vật sống ở vùng nước nông thường bị ảnh hưởng của ánh nắng mặt trời
nhiều, trong khi thực vật vùng nước sâu chỉ nhận được rất ít [38]. Nhưng khả
năng chịu tác động và khả năng phục hồi của thảm cỏ biển ở vùng nước sâu
rất khác với các quần xã cỏ biển ở vùng nước nông, chúng có khả năng chống
chịu trước những cơn bão nhưng khả năng phục hồi thì chậm chạp. Đây là
một đặc trưng rất điển hình đối với cỏ biển vùng nhiệt đới [63].
Cỏ biển là thực vật hạt kín sống hoàn toàn trong môi trường biển.
Các loài cỏ biển có kích thƣớc nhỏ thƣờng rất dễ bị tổn thƣơng dƣới sức
ép của nƣớc và sự lắng đọng trầm tích. Đó cũng là một trong những nguyên
nhân làm giảm khả năng phát triển diện tích một cách nhanh chóng của các
thảm cỏ biển ở vùng biển đông nam Châu Á [24]. Sự nhiễu loạn ở các vùng
biển cũng dẫn đến các thảm cỏ biển có hệ số đa dạng Shanon - Weaver thấp
hơn so với các tổ chức thực vật biển khác. Các thảm cỏ biển thƣờng là đơn
loài, với hệ số đa dạng thấp nhất là 0. Chỉ số đa dạng Shanon - Weaver cao
(1,56) là thảm cỏ biển gồm 7 loài ở vùng biển Bolinao (Philippines), và chỉ số
lớn hơn 1 là vùng Ấn Độ - Thái Bình Dƣơng [29]. 1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam là một nƣớc có vùng bờ biển dài hơn 3000 km thuộc vùng
biển Đông Nam Á, là nơi có sự đa dạng sinh học cao trên thế giới. Trong
những năm gần đây, Đông Nam Á đƣợc coi là vùng có khả năng phát triển
nền khoa học về cỏ biển nhanh bởi sự đa dạng về thành phần loài (nhất là
Philippines, có chỉ số đang dạng thuộc loại cao 1,56) [9]. Cũng nhƣ các vùng
bờ biển khác, Việt Nam cũng có các hệ sinh thái thực vật biển phong phú,
trong đó có hệ sinh thái cỏ biển. Tuy nhiên, những hiểu biết về hệ sinh thái
này vẫn còn hạn chế và chƣa đƣợc sự quan tâm nhiều.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Việc phát hiện và nghiên cứu cỏ biển trƣớc năm 1960 hoàn toàn do
ngƣời nƣớc ngoài thực hiện. Năm 1885, Halophila ovalis đã đƣợc một ngƣời
nƣớc ngoài tên là Balansa phát hiện thấy ở gần Quảng Yên. Năm 1939, Tsang
đã thu đƣợc một loài có phiến lá dài và mỏng ở Hà Cối - Quảng Ninh, đó là
phát hiện đầu tiên về loài Zostera japonica ở Việt Nam; hai loài Thalassia
hemprichii và Halodule pinifolia đƣợc tìm thấy ở Cửa Bé - Khánh Hoà vào
năm 1949 bởi chuyên gia cỏ biển tên là Deroux [9].
Từ những phát hiện bƣớc đầu về sự có mặt của một số loài cỏ biển ở
tràn liên tục qua bể từ 8 giờ sang đến 4 giờ chiều hằng ngày với khả năng có
thể thay đƣợc khoảng 200 lít/giờ (100% nƣớc trong bể/ngày). Dùng ánh sáng
tự nhiên, có che lƣới đen, mỏng để giảm bớt cƣờng độ ánh sáng và nhất là
bức xạ nhiệt. Kết quả sau 10 ngày, hạt cỏ Vích nảy mầm với tỷ lệ 98,4% và
97,2% với cỏ Lá Dừa, các cây mầm khi đƣợc 15 ngày tuổi đều xuất hiện rễ và
có từ một đến ba lá. Sau ba tháng ƣơm nuôi ở điều kiện phòng thí nghiệm,
mật độ các cây mầm cỏ Vích là 927 cây/m
2
, cỏ lá Dừa là 708 cây/m
2
[1].
Tại Phân viện Hải dƣơng học tại Hải Phòng (nay là Viện Tài nguyên
và Môi trƣờng biển), Nguyễn Văn Tiến và cộng sự (1998) [7] đã có những
nghiên cứu về các loài cỏ biển ven bờ biển Việt Nam và ông đã đƣa ra
đƣợc một bức tranh tổng quát về sự phân bố và thành phần cỏ biển nƣớc
ta, đặc biệt là nghiên cứu cỏ biển ở vùng biển phía Bắc Việt Nam. Năm
2002, Nguyễn Văn Tiến và cộng sự đã thử nghiệm trong việc trồng một số
loài cỏ biển mang từ miền Nam ra trồng tại miền Bắc, và đã thu đƣợc một
số kết quả nhất định. Đó cũng là những bƣớc khởi đầu cho các nghiên cứu
về hệ sinh thái quan trọng này ở vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, do còn
có những hạn chế nên mới chỉ ở một số bài báo công bố. Vì vậy, những
hiểu biết đầy đầy đủ về đặc điểm sinh học và sinh thái của cỏ biển ở Việt
Nam, nhất là những nghiên cứu về sinh sản phục hồi vẫn còn những giới
hạn nhất định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
1.3. Khái niệm và đặc điểm hình thái của cỏ biển
Cỏ biển là những thực vật bậc cao, có thân, rễ, lá, hoa, quả và phân bố
chủ yếu ở vùng biển ven bờ. Cỏ biển bao gồm khoảng 60 loài thuộc ngành
Anthophyta, lớp Monocotyledoneae, bộ Hydrocharitales, 2 họ
hay trụ tròn. Phiến lá hầu hết đều mỏng, bề mặt phẳng, diện tích lớn, trừ cỏ
Năn biển (Syringodium isetifolium) có lá trụ tròn, tất cả các loài khác đều có
lá dẹp. Ngoài chức năng quang hợp, phiến lá còn có khả năng hấp thụ dinh
dƣỡng và trao đổi khí. Lá cỏ biển còn là nơi sống bám của nhiều loài rong và
động vật không xƣơng sống.
Bẹ lá:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Bẹ lá là phần cuống lá phình ra ôm lấy chồi đứng (thân đứng) và bọc lấy
những lá non đang phát triển. Bẹ lá có dạng lƣỡi nhỏ, màu trắng do không có
lục lạp nên không có chức năng quang hợp.
Hoa, quả và hạt:
Hoa, quả và hạt là cơ quan sinh sản hữu tính của cỏ biển. Ở cỏ biển, một
số có hoa đực và hoa cái trên cùng một cây (lƣỡng tính), số khác có hoa đực
và hoa cái riêng biệt trên mỗi cây (đơn tính). Quả đƣợc hình thành từ sự phát
triển của bầu sau thụ tinh (giao phấn) và mang các hạt bên trong. Hạt đƣợc
hình thành từ sự phát triển của noãn. Hoa, quả và hạt của mỗi loài tùy vào
điều kiện sống mà chúng có cấu trúc và hình dạng khác nhau.
1.4. Vai trò của cỏ biển
Cỏ biển có vai trò rất quan trọng và là một hệ sinh thái biển điển hình
của vùng biển Nhiệt đới [4] và có những vai trò chính nhƣ sau:
Vai trò điều chỉnh: những thảm cỏ biển có thể làm thay đổi các quá trình
sinh thái thủy vực, đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định vùng đới bờ,
góp phần chống xói lở vùng bờ biển. Chúng còn là chỉ thị sinh học và tham
gia làm sạch nƣớc thải công nghiệp và sinh hoạt.
Vai trò cung cấp: nơi nuôi trồng, khai thác, nơi cƣ trú, bãi đẻ, bãi ƣơng
giống, nguồn thức ăn của nhiều loài sinh vật thủy sinh.
Vai trò sản xuất: vật chất hữu cơ, nguồn gen, thực phẩm, nguyên liệu
công nghiệp và năng lƣợng.
Vai trò thông tin: nghiên cứu học tập, du lịch và giải trí.
Bùn sét bột
Halophila ovalis
Cát Bà (Hải Phòng)
Bùn
Ruppia maritime,
Halophila beccarii
Xuân Lộc (Thanh Hóa),
Kim Trung (Ninh Bình)
Bùn cát
Bột lớn
Halodule pinifolia
Hòn Nôm (Quảng Bình)
Cát nhỏ
Halodule pinifolia
Tam Giang – Cầu Hai,
Lăng Cô (Thừa Thiên –
Huế), Côn Đảo (Bà Rịa
– Vũng Tàu)
Bùn cát
Enhalus acoroides
Cam Ranh (Khánh
Hòa),
Phú Quốc (Kiên Giang)
San hô -
cát
Cát san hô
Cymodocea
serrtulata,
Cồn Đảo (Bà Rịa –
Vũng Tàu)
0
C [8].
1.5.4. Độ đục
Độ đục tác động mạnh đến các hoạt động quang hợp của cỏ biển. Chúng
sẽ không nhận đƣợc năng lƣợng từ ánh sáng cần thiết cho quang hợp nên
không phát triển. Ngoài ra độ đục gia tăng có nghĩa là có nhiều trầm tích bùn
nhuyễn bám lên bề mặt của lá làm giảm quang hợp [8].
1.5.5. Ánh sáng