Luận văn Thạc sĩ Khoa học sinh học Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cỏ xoan Halophila ovalis (R. Br.) Hook.f. trong đầm nuôi thủy sản huyện Cát Hải (Hải Phòng) và khả năng nảy mầm của hạt trong phòng thí nghiệm - Pdf 30

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chƣơng trình cao học, tôi đã nhận đƣợc sự hƣớng dẫn

góp ý nhiệt tình của quí thầy cô thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
(thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và trƣờng Đại học
Thái Nguyên.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Đàm Đức Tiến đã dành rất
nhiều thời gian và tâm huyết hƣớng dẫn khoa học và giúp tôi hoàn thành luận
văn tốt nghiệp.
Đồng thời, tôi xin cảm ơn quí anh, chị đồng nghiệp và ban lãnh đạo
Viện Tài nguyên và Môi trƣờng biển (thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học và
Công nghệ Việt Nam) nơi tôi công tác, đã tạo điều kiện thời gian và cơ sở vật
chất để hoàn thành những nội dung nghiên cứu.
Xin gửi lời cảm ơn đến đề tài cơ sở: "Nghiên cứu khả năng trồng bằng
hạt loài cỏ Xoan (Halophila ovalis (R. Br.) Hooker, 1858) ở phòng thí
nghiệm"; đề tài: "Nghiên cứu hiện trạng môi trường, biến động nguồn lợi, đa
dạng sinh học hệ sinh thái vùng triều ven biển miền Bắc Việt Nam (từ Quảng
Bình trở ra), đề xuất mô hình khai thác, nuôi trồng, bảo tồn và quản lý bền
vững" và dự án: "Điều tra các loài thực vật thủy sinh biển có khả năng hấp
thụ CO
2
giảm hiệu ứng nhà kính, chống biến đổi khí hậu" đã tạo điều kiện
công tác và tài trợ kinh phí cho tôi khảo sát để có dữ liệu viết luận văn.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình
và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong
nhận đƣợc những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn.
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Học viên
LỜI CAM KẾT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Tôi xin cam kết đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,

h
ì
n
h

n
g
h
i
ê
n

1
1
1
1
.
5
.
1
.
C
h

t
đ
á
y
1
.

5
.
4
.

Độ
đục
1.5
.5.
Án
h
sán
g
1
C
2
2
2
2
2
4
13 16
18 18
18 20
20 20
21 21
23 23
24 25
25 25
Số

Chƣơng III - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm hình thái của loài cỏ Xoan trong đầm nuôi thủy sản
3.1.1. Thân
3.1.2. Rễ
3.1.3. Lá, phiến lá
3.1.4. Vảy lá
3.1.5. Hoa
3.1.6. Quả và hạt
3.2. Một số đặc điểm sinh thái của loài cỏ Xoan
3.2.1. Một số thông số môi trƣờng trong đầm nuôi
3.2.1.1. Nhiệt độ nƣớc
3.2.1.2. Cƣờng độ ánh sáng
3.2.1.3. Nồng độ muối
3.2.1.4. Nền đáy
3.2.2. Sự biến động theo mùa của cỏ biển trong đầm nuôi
3.2.2.1. Phân bố và diện tích
3.2.2.2. Biến động các chỉ tiêu sinh lƣợng
3.2.3. Mùa ra hoa của cỏ Xoan
25
26
27
27
27
28
29
29
29
30
30
30

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ
LỤC
43
43
43
43
44
45
45
46
47
49
50
57
M

ĐẦU
C


b
i

n

(Seagrass) là nhóm thực vật bậc cao
(ngành Anthophyta, lớp Monocotyledons,
bộ Helobiae), sống trong môi trƣờng

sóng, dòng chảy, phù sa, v.v) nên diện tích phân bố ngày càng bị thu hẹp. Tại
một số vùng trƣớc kia có cỏ Xoan thì đến nay hầu nhƣ không còn nữa [9].
Ở các vùng ven biển Đông Nam Á, các nghiên cứu cho thấy các thảm cỏ
biển đang dần biến mất. Ở Indonesia khoảng 30 - 40% các thảm cỏ biển bị mất
trong khoảng 50 năm qua, trong đó riêng ở Java bị mất khoảng 60% [58]. Ở
Philippin các thảm cỏ biển bị mất khoảng 30 - 50%, còn ở Thái Lan, con số này
khoảng 20 - 30%. Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng trên với 50%
tổng diện tích cỏ biển đã biến mất trên khắp các vùng ven biển cả nƣớc [6].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Cát Hải là một huyện đảo thuộc thành phố Hải Phòng. Trong những
năm trƣớc đây (trƣớc 1995), có thể thu đƣợc mẫu cỏ Xoan tại nhiều nơi (trong
và ngoài đầm nuôi trồng hải sản) nhƣng đến nay, cỏ Xoan chỉ còn thấy trong
một số đầm nuôi. Kết quả nghiên cứu về cỏ biển (nói chung) và cỏ Xoan (nói
riêng) ở nƣớc ta chƣa nhiều và tại Cát Hải thì hầu nhƣ chƣa có. Một vài công
trình về cỏ biển tại Cát Hải chủ yếu nghiên cứu về thành phần loài, phân bố
chƣa nghiên cứu về đặc điểm sinh học, mùa vụ, sinh sản, [1], [10].
Việc phục hồi các hệ sinh thái trên cạn đã đƣợc nghiên cứu từ lâu và
đang có một số kết quả khá tốt, nhƣng phục hồi các hệ sinh thái dƣới nƣớc,
nhất là ở biển mới chỉ đƣợc bắt đầu trong vài thập niên gần đây. Phục hồi hệ
sinh thái cỏ biển còn gặp khó khăn hơn nhiều do cỏ biển thƣờng phân bố tại
các vùng nƣớc nông ven bờ, nơi có nhiều hoạt động của con ngƣời (nhƣ đổ
thải, khai hoang lấn biển, xây dựng, v.v) và các tác động bất lợi từ thiên nhiên
(nhƣ sóng, dòng chảy, phù sa, v.v). Một khó khăn nữa khi trồng phục hồi cỏ
biển bằng chồi là kinh phí rất tốn kém, khó thực hiện trên diện rộng vì không đủ
nguồn giống cung cấp và hiệu quả thấp. Hơn nữa, phƣơng pháp trên còn làm
ảnh hƣởng không nhỏ tới bãi cỏ biển hiện có. Việc trồng bằng hạt các loài cỏ
biển có rất nhiều ƣu thế và có thể trồng đƣợc trên diện tích rộng, nhƣng việc
trồng phục hồi các thảm cỏ biển bằng hạt chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều hoặc
mới ở mức ý tƣởng.
Kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm sinh học, sinh thái, biến động

đặc điểm chung giống nhƣ với thực vật có hoa khác nhƣ: cụm hoa, hoa,
quả, hạt, hệ gân lá, chất tanin, răng cƣa ở mép lá và đỉnh lá [15], [53].
Xác định hệ thống phân loại cỏ biển là rất cần thiết, nó là tiền đề cho các
hƣớng nghiên cứu về cỏ biển ở các khía cạnh khác nhau của hệ thực vật biển
này. Do đó không thể chỉ dựa trên việc giải phẫu hình thái mà ngày nay ngƣời
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
ta còn dựa trên di truyền học, phân tích phân tử [29]. Đó là bƣớc tiến mới
trong khoa học sinh học nói chung và trong nghiên cứu cỏ biển nói riêng.
Nhiều tác giả cũng đã có những bất đồng về số loài thuộc ba chi Halophila,
Zostera và Posidonia [29]. Quả thật, khi sử dụng phƣơng pháp đánh dấu phân
tử Les và cộng sự (1997) nhận thấy sự khác biệt về di truyền giữa
Heterozostera và Zostera giống với các loài thuộc chi Zostera, điều đó cho
thấy 2 chi này nên xác định trong cùng 1 chi [36]. Nhƣng cho đến nay, điều
này vẫn đang tiếp tục bàn luận và cần tiếp tục nghiên cứu. Cũng có thể do sự
phân bố của cỏ biển rộng khắp trên địa cầu, nên nó chịu tác động rất lớn của điều
kiện địa lý và có thể do điều kiện tự nhiên đã tác động đến hình thái ngoài của
cỏ biển. Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm di truyền bộ nhiễm sắc thể của chúng để
phân loại là rất cần thiết. Và cần có sự kết hợp giữa hình thái học và di truyền
học để giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong định loại cỏ biển.
Năm 1950, đã có sự thay đổi trong hƣớng nghiên cứu về cỏ biển với
một báo cáo hoàn thiện về sự phân bố và sinh thái của cỏ biển ở bang Florida
(Mỹ). Sau bài báo này, nhiều nhà nghiên cứu bƣớc đầu tập trung nghiên
cứu các thành phần trong hệ sinh thái cỏ biển nhiệt đới. Từ năm
1960 đến năm 1970 nghiên cứu cỏ biển đã rộng hơn về mô tả định tính và
các nghiên cứu về định lƣợng. Các quan niệm về hệ sinh thái cỏ biển đã
đƣợc hoàn chỉnh và đẩy đủ hơn. Một nghiên cứu đồ sộ về cỏ Lƣơn ở
Alaska đã đƣợc hoàn thiện vào năm 1966 bởi McRoy [53].
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học cỏ biển, thì cần phải có sự
phối hợp, trao đổi kinh nghiệm và kiến thức giữa các nhà khoa học nghiên
cứu về cỏ biển. Do vậy, lần đầu tiên một cuộc hội thảo quốc tế đƣợc tổ chức vào

Marine Biology and Ecology). Tuy số lƣợng các công trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
nghiên cứu tăng lên nhƣng chƣa đồng đều. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung
ở các nƣớc phát triển, nhất là Châu Âu còn ở các nƣớc đang phát triển thì cỏ
biển thực sự là một đối tƣợng mới mẻ, chƣa đƣợc sự quan tâm đúng đắn của
các tổ chức chính phủ và phi chính phủ [20]. Vì vậy, trong những năm gần
đây, đã có nhiều dự án phối hợp giữa các nƣớc có nền khoa học cỏ biển phát
triển với những nƣớc đang phát triển nhằm đào tạo các nhà nghiên cứu trẻ cho
các nƣớc này để tạo khả năng bảo vệ và quản lý nguồn lợi thực vật biển và để có
đƣợc một mạng lƣới nghiên cứu hệ sinh thái cỏ biển hoàn thiện hơn trên toàn
cầu. Trong đó, Việt Nam cũng là một trong những nƣớc Đông Nam Á bƣớc
đầu đã có sự trao đổi sinh viên trong đào tạo về sinh thái cỏ biển với các nƣớc
trong cộng đồng Châu Âu và các nƣớc trong vùng có hệ sinh thái thực vật biển
này.
Trong các nghiên cứu về cỏ biển, các nhà khoa học đã nhận thấy ý nghĩa
sinh thái của sự biến động cấu trúc thân, rễ, tốc độ sinh trƣởng và sự phân
nhánh của thân cỏ và các cơ quan khác. Vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu tập
trung điều tra tỷ lệ sinh khối trên mặt đất (chồi lá và chồi hoa) và sinh khối
dƣới mặt đất (rễ và thân) của cỏ biển. Trong đó, Verhagen và Nienhuis
(1983), đã mô tả sự thay đổi có tính mùa vụ của sinh khối trên mặt đất và sinh
khối dƣới mặt đất của ở cỏ lƣơn bởi kỹ thuật đánh dấu trên lá [62]. Xác định
sinh khối (sinh khối trên và dƣới mặt đất) của cỏ biển và đánh giá vai trò của
chúng trong hệ sinh thái là rất quan trọng [17], [51]. Trong đó hệ thân, rễ cỏ là
cơ quan giúp cây sinh sản vô tính, một thành phần quan trọng của hệ sinh thái
này. Tuy nhiên, Nelsson (1997) cho rằng sinh khối trên và tổng sinh khối có
mối liên quan chặt chẽ với nhau, nhƣng sinh khối dƣới thì không [48]. Kiểm tra
sinh khối dƣới đƣợc coi nhƣ sự đánh giá khả năng đâm sâu vào trong nền đáy
của cỏ biển và điều đó cũng có thể đƣợc giải thích rằng các chồi mới sinh ra cần
năng lƣợng từ thân hơn là những chồi đã trƣởng thành [17], [64]. Các cơ
quan bên dƣới mặt đất giữ vai trò quan trọng trong dinh dƣỡng, cố định và

các loài cỏ biển thƣờng có hoa thuộc 10 chi cỏ biển khác nhau là: Thalassia,
Thalassodendron, Syringodium, Halodule, Halophila, Enhalus, Zostera,
Amphibolis, Posidonia và Cymodocea. Các thí nghiệm này đƣợc nuôi ngoài
trời và cả trong bể sinh cảnh (ánh sáng đèn điện), nhằm mục đích xem xét khả
năng phát triển thân ngầm, thân đứng, các sự biển đổi về hình thái và khả
năng ra hoa, quả. Các loại cỏ này đƣợc trồng từ cơ quan sinh sản sinh dƣỡng
(thân đứng, thân ngầm) thu hái trong các thảm cỏ ngoài tự nhiên. Yếu tố chất
đáy rất quan trọng. Các thử nghiệm đã dùng nhiều loại chất đáy khác nhau.
Thí nghiệm có kết quả tốt nhất đối với chất đáy là cát mịn có nguồn gốc đá vôi
lục địa của bang Texas, cách vịnh Mexico khoảng 300 km. Sử dụng nƣớc biển
nhân tạo có độ mặn 35‰ và ánh sáng nhân tạo đƣợc duy trì ở mức 8.000 -
40.000 lux. Nhiệt độ đƣợc điều chỉnh giống nhƣ điều kiện nơi lấy giống (18 -
30
0
C).
Orth và Moore (1983) đã kiểm tra sự nảy mầm của hạt thông qua số
lƣợng cây con thu đƣợc trong năm. Tại cùng Thái Bình Dƣơng, số lƣợng hạt
nảy mầm cao nhất trong thời điểm từ tháng 4 đến tháng 7, trong khi ở vùng
biển Đại Tây Dƣơng có hai giai đoạn hạt nảy mầm. Giai đoạn thứ nhất hạt
nảy mầm vào cuối thu, giai đoạn hai có khoảng 66% hạt nảy mầm từ tháng 12
đến tháng 3 năm sau. Các cây con rất dễ bị tổn thƣơng, tỷ lệ sống là rất thấp
(xấp xỉ 2%) và cỏ biển có tỷ lệ sống dạng cổ chai trong suốt vòng đời của nó.
Nghĩa là có khoảng 10% cây trƣởng thành ra hoa, 10% số hoa trên sẽ hình
thành quả, 1% - 10% số quả ấy có hạt hình thành và 1% - 10% số hạt trên sẽ
nảy mầm, 1% - 10% hạt nảy mầm phát triển thành cây con, cuối cùng chỉ có
10% số cây con trên phát triển trƣởng thành và ra hoa [49].
Các yếu tố về hình dạng ngoài và các đặc điểm sinh thái, sinh lý của
từng loài quyết định phƣơng pháp trồng chúng. Có 5 mục tiêu chính đƣợc đặt
ra cho việc nghiên cứu di trồng và trồng phục hồi thảm cỏ biển đó là:
- Độ phủ của các thảm thực vật biển

Phƣơng pháp 3, dùng thân đứng và phần thân ngầm không có rễ với các
đoạn ngắn từ 2 - 20 cm tuỳ loài. Các đoạn thân này có thể đƣợc trồng riêng lẻ hay
ghép thành nhóm. Có thể dùng một đoạn thép để cắm xuống nền đáy nhƣ là một
cái neo cài. Hoặc 5 - 6 cây có thể đƣợc buộc chung rồi neo cắm xuống đáy bằng
một đoạn thép.
Là thực bậc cao trong môi trƣờng biển, khả năng sinh sản bằng hạt là
cách ƣu việt trong việc bảo tồn giống cũng nhƣ việc phát tán và lan truyền các
thảm cỏ. Sự tạo hoa và quả của các loài cỏ biển phụ thuộc vào nhiều điều kiện
môi trƣờng, chủ yếu là các yếu tố ánh sáng, nhiệt độ và độ mặn. Mc Millan
(1982), đã nghiên cứu thực nghiệm ở Taxas trong các điều kiện để cho các
loài cỏ biển phân bố ở miền Tây Đại Tây Dƣơng và ấn Độ - Thái Bình Dƣơng có
thể tạo hoa và quả. Các chi Halodule, Thalassia, Syringodium và Halophila
xuất hiện cơ quan sinh sản trong điều kiện chiếu sáng liên tục và nhiệt độ từ 20
- 26
0
C. Một vài loài của chi Halophila chỉ ra hoa ở nhiệt độ 26
0
C [43].
Cỏ biển có tuổi thọ trung bình từ vài tuần đến hang chục năm, phụ thuộc
vào kích thước của từng loài. Những loài cỏ có kích thước lớn với thân dày, lá
rộng và rễ dày có thể sống rất lâu trong nhiều năm, nhưng những loài có
kích thước nhỏ thì thời gian sống ngắn hơn chỉ dưới một tháng. Do chu kỳ
sống của chúng rất ngắn, nên những loài cỏ có kích thước nhỏ thường có khả
năng tái sinh chồi rất nhanh, ví dụ kích thước cỏ Halophila ovalis nhỏ nhưng
chu kỳ sống của chúng chỉ khoảng vài tháng, còn Posidonia oceanica có thể
sống tới 11 năm [16].
Cấu trúc của cỏ biển còn phụ thuộc vào đặc điểm vùng phân bố. Các
loài có kích thước nhỏ thường mọc trên các vùng triều, còn cỏ có kích thước
lớn thường thấy ở vùng thấp triều và dưới triều. Thêm vào đó, cỏ trên nền đáy
nhiều cát có lá hẹp hơn cỏ trên nền đáy nhiều bùn. Hơn nữa, vùng nước nông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
cũng chính làm giảm các yếu tố bảo vệ cho nền đáy hay tăng sự xáo trộn nền
đáy vì vậy giảm ánh sáng là làm hạn chế sự phát triển của các thảm cỏ.
Trong giai đoạn từ năm 1968 đến 1981, hàm lượng chlorophyll tăng lên gấp
đôi ở vùng biển phía tây Hà Lan, và điều đó cũng ảnh hưởng đến thực vật
biểu sinh tăng nhanh. Tất cả những điều đó đã tác động tiêu cực đến sự
quang hợp và sự sinh trưởng của cỏ biển gây ra sự cạnh tranh về các-bon và
nguồn dinh dưỡng làm giảm sút chất lượng nguồn lợi cỏ biển [29].
Các loài cỏ biển có kích thƣớc nhỏ thƣờng rất dễ bị tổn thƣơng dƣới sức
ép của nƣớc và sự lắng đọng trầm tích. Đó cũng là một trong những nguyên
nhân làm giảm khả năng phát triển diện tích một cách nhanh chóng của các
thảm cỏ biển ở vùng biển đông nam Châu Á [24]. Sự nhiễu loạn ở các vùng
biển cũng dẫn đến các thảm cỏ biển có hệ số đa dạng Shanon - Weaver thấp
hơn so với các tổ chức thực vật biển khác. Các thảm cỏ biển thƣờng là đơn
loài, với hệ số đa dạng thấp nhất là 0. Chỉ số đa dạng Shanon - Weaver cao
(1,56) là thảm cỏ biển gồm 7 loài ở vùng biển Bolinao (Philippines), và chỉ số lớn
hơn 1 là vùng Ấn Độ - Thái Bình Dƣơng [29].
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam là một nƣớc có vùng bờ biển dài hơn 3000 km thuộc vùng
biển Đông Nam Á, là nơi có sự đa dạng sinh học cao trên thế giới. Trong
những năm gần đây, Đông Nam Á đƣợc coi là vùng có khả năng phát triển
nền khoa học về cỏ biển nhanh bởi sự đa dạng về thành phần loài (nhất là
Philippines, có chỉ số đang dạng thuộc loại cao 1,56) [9]. Cũng nhƣ các vùng
bờ biển khác, Việt Nam cũng có các hệ sinh thái thực vật biển phong phú,
trong đó có hệ sinh thái cỏ biển. Tuy nhiên, những hiểu biết về hệ sinh thái
này vẫn còn hạn chế và chƣa đƣợc sự quan tâm nhiều.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Việc phát hiện và nghiên cứu cỏ biển trƣớc năm 1960 hoàn toàn do
ngƣời nƣớc ngoài thực hiện. Năm 1885, Halophila ovalis đã đƣợc một ngƣời
nƣớc ngoài tên là Balansa phát hiện thấy ở gần Quảng Yên. Năm 1939, Tsang đã

Lô (vịnh Nha Trang) cho vào các bể thí nghiệm, sau 2 - 4 ngày hạt đƣợc giải
phóng. Số hạt trên đƣợc gieo trong các bể kính có kích thƣớc 40 x 80 x 60
cm, đáy phủ một lớp bùn pha cát dày khoảng 20 cm có tỷ lệ bùn và cát là 1: 3
(bùn nhuyễn ở biển và cát mịn). Nƣớc biển đƣợc để lắng trong và cho chảy tràn
liên tục qua bể từ 8 giờ sang đến 4 giờ chiều hằng ngày với khả năng có thể thay
đƣợc khoảng 200 lít/giờ (100% nƣớc trong bể/ngày). Dùng ánh sáng tự nhiên,
có che lƣới đen, mỏng để giảm bớt cƣờng độ ánh sáng và nhất là bức xạ
nhiệt. Kết quả sau 10 ngày, hạt cỏ Vích nảy mầm với tỷ lệ 98,4% và 97,2% với
cỏ Lá Dừa, các cây mầm khi đƣợc 15 ngày tuổi đều xuất hiện rễ và có từ một
đến ba lá. Sau ba tháng ƣơm nuôi ở điều kiện phòng thí nghiệm, mật độ các
cây mầm cỏ Vích là 927 cây/m
2
, cỏ lá Dừa là 708 cây/m
2
[1].
Tại Phân viện Hải dƣơng học tại Hải Phòng (nay là Viện Tài nguyên
và Môi trƣờng biển), Nguyễn Văn Tiến và cộng sự (1998) [7] đã có những
nghiên cứu về các loài cỏ biển ven bờ biển Việt Nam và ông đã đƣa ra
đƣợc một bức tranh tổng quát về sự phân bố và thành phần cỏ biển nƣớc ta,
đặc biệt là nghiên cứu cỏ biển ở vùng biển phía Bắc Việt Nam. Năm
2002, Nguyễn Văn Tiến và cộng sự đã thử nghiệm trong việc trồng một số loài
cỏ biển mang từ miền Nam ra trồng tại miền Bắc, và đã thu đƣợc một số kết
quả nhất định. Đó cũng là những bƣớc khởi đầu cho các nghiên cứu
về hệ sinh thái quan trọng này ở vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, do còn có
những hạn chế nên mới chỉ ở một số bài báo công bố. Vì vậy, những
hiểu biết đầy đầy đủ về đặc điểm sinh học và sinh thái của cỏ biển ở Việt
Nam, nhất là những nghiên cứu về sinh sản phục hồi vẫn còn những giới
hạn nhất định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
1.3. Khái niệm và đặc điểm hình thái của cỏ biển

Lá hình thành từ mô sinh trƣởng ở các mấu thân; có hình dải dài, ô van
hay trụ tròn. Phiến lá hầu hết đều mỏng, bề mặt phẳng, diện tích lớn, trừ cỏ
Năn biển (Syringodium isetifolium) có lá trụ tròn, tất cả các loài khác đều có lá
dẹp. Ngoài chức năng quang hợp, phiến lá còn có khả năng hấp thụ dinh
dƣỡng và trao đổi khí. Lá cỏ biển còn là nơi sống bám của nhiều loài rong và
động vật không xƣơng sống.
Bẹ lá:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
Bẹ lá là phần cuống lá phình ra ôm lấy chồi đứng (thân đứng) và bọc lấy
những lá non đang phát triển. Bẹ lá có dạng lƣỡi nhỏ, màu trắng do không có
lục lạp nên không có chức năng quang hợp.
Hoa, quả và hạt:
Hoa, quả và hạt là cơ quan sinh sản hữu tính của cỏ biển. Ở cỏ biển, một
số có hoa đực và hoa cái trên cùng một cây (lƣỡng tính), số khác có hoa đực
và hoa cái riêng biệt trên mỗi cây (đơn tính). Quả đƣợc hình thành từ sự phát
triển của bầu sau thụ tinh (giao phấn) và mang các hạt bên trong. Hạt đƣợc
hình thành từ sự phát triển của noãn. Hoa, quả và hạt của mỗi loài tùy vào
điều kiện sống mà chúng có cấu trúc và hình dạng khác nhau.
1.4. Vai trò của cỏ biển
Cỏ biển có vai trò rất quan trọng và là một hệ sinh thái biển điển hình
của vùng biển Nhiệt đới [4] và có những vai trò chính nhƣ sau:
Vai trò điều chỉnh: những thảm cỏ biển có thể làm thay đổi các quá trình
sinh thái thủy vực, đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định vùng đới bờ,
góp phần chống xói lở vùng bờ biển. Chúng còn là chỉ thị sinh học và tham gia
làm sạch nƣớc thải công nghiệp và sinh hoạt.
Vai trò cung cấp: nơi nuôi trồng, khai thác, nơi cƣ trú, bãi đẻ, bãi ƣơng
giống, nguồn thức ăn của nhiều loài sinh vật thủy sinh.
Vai trò sản xuất: vật chất hữu cơ, nguồn gen, thực phẩm, nguyên liệu
công nghiệp và năng lƣợng.
Vai trò thông tin: nghiên cứu học tập, du lịch và giải trí.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status