ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN DUY CƢỜNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƢ
CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY TNHH QUẢN LÝ
QUỸ SSIAM
LUẬN VĂN THẠC SI
̃
QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
̃
QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN THỊ THÁI HÀ
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ
CHẤM LUẬN VĂN
Hà Nội - 2014
MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các biểu đồ iii
Danh mục các sơ đồ, đồ thị iv
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
DANH MỤC ĐẦU TƢ TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ 6
1.1. Những vấn đề cơ bản về quản lý danh mục đầu tƣ tại công ty quản lý
quỹ 6
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tƣ tại TNHH
quản lý quỹ SSIAM 80
3.2.1. Thay đổi nhận thức của cấp lãnh đạp công ty trong quản lý danh
mục đầu tư 80
3.2.2. Nâng cao trình độ nhân lực trong quản lý danh mục đầu tư 82
3.2.3. Hoàn thiện quy trình quản lý danh mục đầu tư 85
3.2.4. Tăng cường quản trị rủi ro trong quản lý danh mục đầu tư 88
3.2.5. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý danh mục đầu tư 91
3.2.6. Hoàn thiện hệ thống thông tin trong quản lý danh mục đầu tư 91
3.3. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tƣ tại công
ty TNHH quản lý quỹ SSIAM 93
3.3.1. Kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước 93
3.3.2. Kiến nghị đối với công ty chứng khoán và ngân hàng lưu ký 96
3.3.3. Kiến nghị đối với những nhà đầu tư uỷ thác 99
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
TT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
APT : Lý thuyết định giá kinh doanh chênh lệch
Lý thuyết định giá kinh doanh chênh lệch
2
CAPM
Mô hình định giá tài sản vốn
3
TS
Tài sản
14
TTCK
Thị trường chứng khoán
15
UBCK
Uỷ ban chứng khoán
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Số hiệu
bảng
Tên bảng, biểu
Trang
1
Bảng 2.1
Kết quả hoạt động của SSIAM trong 5 năm
38
2
Bảng 2.2
Thông tin tổng quát về công ty TNHH quản lý quỹ
SSIAM
63
9
Bảng 2.9
Tăng trưởng NAV danh mục đầu tư của SSIAM so với
các quỹ đầu tư khác và so với chỉ số VN-Index
65
10
Bảng 2.10
Cơ cấu tài sản đầu tư cuối năm 2012 của một số quỹ
đầu tư chứng khoán
67
11
Bảng 2.11
Tổng hợp tăng trưởng giá trị tài sản ròng, lạm phát và
lãi suất huy động VND của các NHTMcuối năm 2012,
2011, 2010
71
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
TT
Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
56
7
Biểu đồ 2.7
Tổng thu nhập của danh mục đầu tư tại SSIAM
giai đoạn 2010-2012
60
8
Biểu đồ 2.8
Tỷ trọng Các loại chi phí của danh mục đầu tư tại
SSIAM
64 iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
TT
Số hiệu sơ
đồ,đồ thị
Tên sơ đồ, đồ thị
Trang
1
Sơ đồ 1.1
Quy trình quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản
công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ. Tuy nhiên, trong thời gian qua,
việc quản lý danh mục đầu tư tại các công ty còn được tổ chức khá là đơn
giản, thiếu khoa học và chưa mang lại hiệu quả, do đó chưa tạo được niềm tin
đối với nhiều nhà đầu tư.
Mặt khác, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra từ năm 2007,
kéo dài đến hết năm 2009 đã gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình thị
trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua. Chỉ tính riêng trong
năm 2008, chỉ số VN-index đã mất hơn 66% giá trị. Mặc dù trong năm
2009, thị trường có dấu hiệu phục hồi, nhưng những sóng gió của thị
trường vẫn còn tiếp nối với tình trạng ảm đạm trong suốt năm 2010 sau đó
sang năm 2011 và đến năm 2012 thị trường chứng khoán đã hồi phục trở
lại nhưng tốc độ tăng trưởng chưa cao. Mặt khác thị trường chứng khoán
Việt Nam còn khá non trẻ và bộc lộ khá nhiều điểm yếu trong công tác quả
lý của các cơ quan chức năng, làm cho tính minh bạch trên thị trường
chứng khoán Việt Nam còn kém, dẫn tới các hoạt động đầu cơ trên thị
trường diễn ra mạnh mẽ và người chịu thua thiệt ở đây là các nhà đầu tư cá 2
nhân… chính vì điều này làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam là một
trong những thị trường tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Do vậy, nâng cao hiệu quả
quản lý danh mục đầu tư đang là yêu cầu cấp thiết hiện nay, không chỉ đối
với các nhà đầu tư nói chung mà còn với công ty TNHH quản lý quỹ
SSIAM nói riêng, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế đang hội nhập sâu
rộng với thế giới thời hậu khủng hoảng.
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “ Nâng cao hiệu quả quản lý
danh mục đầu tƣ chứng khoán tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM” đã
được tác giả lựa chọn nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại công ty quản lý quỹ là một
TNHH quản lý quỹ SSIAM để làm gì?
Từ đó trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi sẽ đưa ra một số giải
pháp với mong muốn có thể áp dụng được phần nào vào thực tiễn hoạt động,
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM
Các công trình đã công bố có liên quan đến luận văn:
Luận văn thạc sĩ kinh tế „„Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư trên
thị trường chứng khoán Việt Nam‟‟, của tác giả Phan Ngọc Hùng.
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Pha
́
t triển dịch vụ quản lý danh mục đầu tư tại
Công ty cổ phần quản lý quỹ đầu tư chứng khoán An Bình”, của tác
giả Nguyễn Thái Sơn.
Luận văn thạc sĩ kinh tế „„Thực trạng quản lý danh mục đầu tư tại công
ty chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam‟‟, của tác giả
Nguyễn Thanh Bình.
Luận văn thạc sĩ kinh tế „„ Đánh giá hoạt động của quỹ đầu tư chứng
khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam‟‟, của tác giả Mai Phụng
Chiêu 4
3. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại
công ty quản lý quỹ.
- Phân tích và đánh giá hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty
TNHH quản lý quỹ SSIAM.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý danh mục
đầu tư tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM.
4.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Trên cơ sở phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
tại SSIAM, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý danh mục đầu tư chứng khoán tại công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, danh mục và các bảng, biểu, sơ đồ và tài liệu tham
khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả quản lý danh mục đầu tư
tại công ty quản lý quỹ.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại công ty
TNHH quản lý quỹ SSIAM.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý danh mục đầu tư tại
công ty TNHH quản lý quỹ SSIAM.
6
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DANH MỤC
ĐẦU TƢ TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ
1.1. Những vấn đề cơ bản về quản lý danh mục đầu tƣ tại công ty quản lý quỹ
1.1.1. Khái niệm công ty quản lý quỹ
1.1.1.1. Khái niệm quỹ đầu tư
Đầu tư chứng khoán là việc một chủ thể nắm giữ chứng khoán để kỳ
chức dưới dạng một công ty, phát hành cổ phần. Công ty đầu tư sử dụng nhà
tư vấn hay người quản lý đầu tư để quyết định loại chứng khoán nào sẽ đưa
vào danh mục của quỹ. Người quản lý quỹ được toàn quyền quản lý danh mục
đầu tư, mua bán chứng khoán phù hợp với các mục tiêu của quỹ. Công ty
quản lý quỹ được cấu trúc dưới hai dạng: quản lý quỹ đầu tư quỹ dạng đóng
và quỹ dạng mở.
Ở Việt Nam, theo điều 15, Luật số 62/2010/QH12 về sửa đổi bổ sung
một số điều của luật chứng khoán 2006, công ty quản lý quỹ là tổ chức có tư
cách pháp nhân, được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh: cung cấp dịch vụ
quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và tư
vấn đầu tư chứng khoán.
Công ty quản lý quỹ phải đáp ứng được yêu cầu về mức vốn tối thiểu
25 tỷ VND, cũng như yêu cầu về trang thiết bị, cơ sở vật chất, đội ngũ quản lý
và đội ngũ nhân viên hành nghề nghiệp vụ. Nghị định 84/2010/NĐ-CP quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán, bổ sung mức vốn
pháp định của công ty quản lý quỹ có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công
ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam tối thiểu là 25 tỷ VND. Bộ tài chính
quy định cụ thể mức vốn pháp định của công ty quản lý quỹ dựa trên quy mô
vốn ủy thác quản lý. 8
1.1.2. Các nghiệp vụ kinh doanh của công ty quản lý quỹ
Theo điều 15, luật chứng khoán số 62/2010/QH12 về sửa đổi, bổ sung
một số điều của luật chứng khoán: công ty quản lý quỹ được thực hiện các
nghiệp vụ kinh doanh sau đây:
1.1.2.1. Nghiệp vụ nghiên cứu đầu tư và tư vấn đầu tư
Để đưa ra những quyết định đầu tư chứng khoán, lựa chọn cổ phiếu cho
danh mục đầu tư và thực hiện phấn bố tài sản cho các nhà đầu tư ủy thác, các nhà
quản lý danh mục đầu tư phải dựa trên những nghiên cứu của các chuyên viên
xác định và thông báo định kỳ cho Ủy ban chứng khoán giá trị tài sản ròng của
quỹ; tập trung đầu tư theo danh mục đầu tư; hay quản lý đầu tư chuyên nghiệp.
Các quỹ đầu tư được quản lý bởi các chuyên gia có kỹ năng, giàu kinh
nghiệm được lựa chọn dựa vào tổng lợi nhuận họ làm ra. Những chuyên gia
không tạo ra lợi nhuận sẽ bị thay thế.
1.1.2.3. Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Theo các chuyên gia kinh tế, quản lý danh mục đầu tư là một nghiệp vụ
quan trọng trong kinh doanh chứng khoán của công ty quản lý quỹ. Thực
chất, quản lý danh mục đầu tư là một dạng nghiệp vụ tư vấn đầu tư nhưng ở
mức độ cao hơn vì trong hoạt động này, khách hàng ủy thác cho công ty quản
lý quỹ thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những
nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận.
Trong quản lý danh mục đầu tư, tài sản của các nhà đầu tư ủy thác phải
được quản lý một cách độc lập, tách biệt khỏi tài sản của công ty quản lý quỹ
và tài sản của các nhà đầu tư khác. Kết quả đầu tư của các nhà đầu tư được
hạch toán độc lập và có thể rất khác nhau. Điều này khác biệt với nghiệp vụ
quản lý quỹ đầu tư ở chỗ tài sản của các nhà đầu tư cùng góp vốn vào một
quỹ đầu tư được công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát quản lý thống
nhất trong một quỹ đầu tư chung. Mỗi nhà đầu tư sở hữu một phần danh mục
đầu tư của quỹ và được phân chia lợi nhuận hoặc gánh chịu rủi ro tương ứng
với tỷ lệ góp vốn vào quỹ. 10
1.1.3. Khái niệm quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ
1.1.3.1. Khái niệm danh mục đầu tư
Danh mục đầu tư là sự kết hợp nắm giữ các loại tài sản đầu tư như:
chứng khoán, hàng hóa, bất động sản,….bởi một cá nhân hay một tổ chức.
Mục đích của danh mục đầu tư là làm giảm rủi ro bắng cách đa dạng
hóa đầu tư nhằm tránh các khoản thua lỗ quá lớn. Khi đồng thời đầu tư vào
lý cho các nhà đầu tư ủy thác trên cơ sở họp đồng ủy thác đầu tư được ký kết
giữa các bên và theo nguyên tắc đầu tư của công ty được thể hiện trong điều
lệ công ty. Hợp đồng quản lý đầu tư là hợp đồng mà khách hàng ủy thác do
công ty quản lý đầu tư tài sản của mình.
Tại các công ty quản lý quỹ, có hai dạng quản lý danh mục đầu tư. Một
là, ủy thác đầu tư toàn bộ. Đây là dịch vụ trong đó công ty quản lý quỹ được
ủy quyền toàn bộ từ phía khách hàng. Trên cơ sở mức kỳ vọng về lợi nhuận
và mức độ chấp nhận rủi ro của mỗi nhà đầu tư ủy thác đầu tư, công ty quản
lý quỹ sẽ được toàn quyền quyết định thực hiện đầu tư dựa trên các đánh giá,
phân tích chuyên môn của sản phẩm đầu tư với các danh mục đầu tư là cân
bằng, tăng trưởng hay có thu nhập ổn định. Hai là, ủy thác đầu tư chỉ định của
khách hàng để thực hiện đầu tư một loại chứng khoán cụ thể hoặc và danh
mục các chứng khoán cụ thể.
Để quản lý danh mục đầu tư hiệu quả, mỗi công ty quản lý quỹ luôn
phải để ra quy trình quản lý danh mục rõ ràng, trong đó phân định rõ từng
nhiệm vụ cụ thể trong từng bước của quy trình.
1.1.4. Quy trình quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý quỹ
Mỗi công ty quản lý quỹ đều có quy trình quản lý danh mục đầu tư
riêng, nhưng nhìn chung, việc quản lý danh mục đầu tư tại công ty quản lý
quỹ gồm 4 bước cơ bản được minh họa như sau:
12
Đánh giá
Kết quả
Kết thúc hợp
đồng quản lý
danh mục đầu
tƣ
Kiểm soát quá
trìnhquản lý danh
mục đầu tƣ
Sơ đồ 1.1 Quy trình quản lý danh mục đầu tƣ tại
công ty quản lý quỹ 13
của mình. (3) Mục tiêu bảo toàn vốn: nhà đầu tư muốn tối thiểu hóa rủi ro.
Mục tiêu này phù hợp với những nhà đầu tư rất ngại rủi ro hoặc những nhà
đầu tư có thời hạn đầu tư ngắn.
Về mức độ chấp nhận rủi ro, bên cạnh sự tồn tại của những nhà đầu tư
liều lĩnh sẵn sàng chấp nhận khả năng rủi ro thua lỗ một phần vốn đầu tư để
đổi lấy cơ hội tìm kiếm mức lợi nhuận tiềm năng cao hơn còn có những nhà
đầu tư thận trọng: là nhà đầu tư có mức độ chấp nhận rủi ro nhất định để đổi
lấy cơ hội nhận được mức lợi nhuận cao hơn, họ cân bằng giữa nhà đầu tư
liều lĩnh và nhà đầu tư thận trọng.
Thời hạn thu hồi vốn của một nhà đầu tư là quãng thời gian đầu tư mà
nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận để đạt được mục tiêu đầu tư. Mỗi tài sản đầu tư
có thời hạn thu hồi vốn khác nhau, mỗi nhà đầu tư cũng có yêu cầu về thời
hạn đầu tư khác nhau. Việc xác định thời hạn yêu cầu của nhà đầu tư để lựa
chọn những tài sản đầu tư có tính thanh khoản và thời hạn thu hồi phù hợp
giao dịch cổ phiếu hoặc các nhóm cổ phiếu trong quá khứ trong mối tương
quan về giá và khối lượng và từ đó vẽ ra được bức tranh về xu hướng trong
tương lai.
Có hai chiến lược xây dựng danh mục đầu tư là chiến lược xây dựng
danh mục đầu tư thụ động và chiến lược danh mục đầu tư chủ động.
Đầu tư chủ động, nhà quản lý danh mục đầu tư sử dụng những thông
tin sẵn có và các kỹ thuật dự báo để cố gắng tìm kiếm và nhận dạng các
chứng khoán đã bị đánh giá sai nhằm thay đổi sự kết hợp của các lớp tài sản
khác nhau cho phù hợp với điều kiện của thị trường, sau đó tiền hành cơ cấu
lại một danh mục đầu tư tốt hơn. Để thực hiện chiến lược đầu tư chủ động,
đòi hỏi nhân lực và thời gian nhiều.
Đầu tư thụ động, nhà quản lý danh mục đầu tư sẽ đầu tư theo một chuẩn
có sẵn và ít giao dịch, ít tốn nguồn nhân lực cho việc phân tích và tìm kiếm. 15
Với phương pháp quản lý đầu tư thụ động, khi lựa chọn trái phiếu để
đầu tư, nhà quản lý danh mục sẽ tiến hành mua và nắm giữ trái phiếu cho đến
khi đáo hạn mà không cần quan tâm đến biến động lãi suất. Song nhà quản lý
vẫn cần phân tích để đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro và
xác định số lượng trái phiếu cần đưa vào danh mục phù hợp với độ lớn của
danh mục đầu tư, trong đó, quan trọng là đa ra các chỉ số chuẩn để đầu tư. Các
chỉ số này bao gồm: thời gian đáo hạn bình quân, lãi suất coupon, lĩnh vực
ngành nghề, mức độ tín nhiệm, đặc điểm lãi suất trái phiếu (cố định, trả hàng
kỳ, trả trước…). Cũng với phương pháp quản lý đầu tư thụ động, khi lựa chọn
cổ phiếu cho toàn bộ danh mục đầu tư, nhà quản lý sẽ dựa theo một số chỉ số
chuẩn nào đó và nắm giữ lâu dài. Tuy nhiên điều này không có nghĩa chỉ đơn
thuần mua và nắm giữ cổ phiếu lâu dài mà đôi khi danh mục cũng cần được
cơ cấu lại khi phải tái đầu tư cổ tức nhận về và do có một số cổ phiếu phải ra
khỏi danh mục chứng khoán đầu tư theo chỉ số chuẩn.
nhân chính cần phải tái cấu trúc danh mục đầu tư bao gồm:
Môi trường kinh tế vĩ mô thay đổi, kéo theo sự suy thoái của một loạt
công ty, nhưng cũng tạo cơ hội cho hàng loạt công ty khác có lãi.
Sự biến động của lĩnh vực đầu tư hoặc những biến động của bản thân
các công ty như thay đổi về nhân sự chủ chốt, về hệ thống máy móc thiết bị,
các hợp đồng mới được ký kết… làm ảnh hưởng tới giá cả chứng khoán của
những công ty này.
Phát hiện ra những loại chứng khoán mới có thể mang lại lợi nhuận và
độ an toàn cao hơn hay mức độ rủi ro thấp hơn, khả năng tạo sóng tốt hơn,
tính thanh khoản cao hơn cho toàn bộ danh mục đầu tư.
Xu hướng tâm lý của thị trường thay đổi. Thị trường chứng khoán vận
hành không chỉ theo quy luật cung cầu mà còn chịu ảnh hưởng từ tâm lý của
các nhà đầu tư. Nó là một thực thể đầy sống động. Vì vậy, có trường hợp cổ
phiếu tốt nhưng nếu tâm lý thị trường không muốn mua, thì cũng không ai
mua. Ngược lại cổ phiếu kém nhưng được tung hô, quảng bá thì lại rất nhiều 17
người ưa chuộng. Do đó, việc nắm bắt xu hướng tâm lý để có thể chủ động
mua, bán trước cũng luôn được các công ty quản lý quỹ tính tới trong quá
trình quản lý danh mục đầu tư.
Các tiêu chí thường phải được công ty quản lý quỹ quan tâm trong quá
trình quản lý danh mục đầu tư bao gồm: khả năng tăng trưởng lợi nhuận và
thứ hạng của các công ty hiên có trong danh mục đầu tư, các chỉ số tài chính
cơ bản phản ánh khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, chỉ số giá/ thu nhập
hàng kỳ, những biến động về khối lượng giao dịch chứng khoán hàng ngày…
Việc kiểm soát danh mục đầu tư phải được thực hiện hàng ngày, nhất là
trong trường hợp công ty quản lý quỹ tiến hành đầu tư danh mục theo chỉ số.
Đồng thời, sau một khoảng thời gian, thường là hàng tháng, đánh giá kết quả
của toàn bộ danh mục đầu tư (tính lại giá trị tài sản ròng, đánh giá lại giá trị