luận văn quản trị nhân lực Một số giảI phấp nhằm hoàn thiện bộ máy quản lý ở công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Nhật Lâm - Pdf 28

Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, nước ta đang từng bước phát triển và hoàn thiện một nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này đặt ra cho các
doanh nghiệp hàng loạt các vấn đề cần phải thay đổi và hoàn thiện. Trong
các vấn đề được đặt ra đối với các doanh nghiệp thì việc nâng cao hiệu quả
hoạt động của bộ máy quản lý doanh nghiệp là một trong những vấn đề nổi
cộm, hết sức phức tạp và quan trọng.
Trong nền kinh tế thị trường thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp được xác định là hiệu quả kinh tế xã hội của các
hoạt động đó. Nhìn chung, mục tiêu của một doanh nghiệp hoạt động trong
nền kinh tế thị trường là lợi nhuận tối đa. Trong khi đó, hiệu quả kinh tế xã
hội, việc tối đa hoá lợi nhuận của các hoạt động sản xuất kinh doanh có đạt
được hay không là phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố hiệu quả hoạt
động của bộ máy quản lý doanh nghiệp là một yếu tố cơ bản và mang tính
quyết định.
Trong khi đó ở nước ta, ảnh hưởng của cơ chế kinh tế cũ vẫn còn tồn
tại xét ở nhiều góc độ. Các ảnh hưởng này thường mang tính tiêu cực, đặc
biệt là trong lĩnh vực quản lý và từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động
sản xuất, kinh doanh.
Trong thực tế, bộ máy quản lý doanh nghiệp ở nước ta được đánh giá
thấp hơn so với bộ máy quản lý doanh nghiệp của các nước có nền kinh tế
thị trường phát triển cao về hiệu quả hoạt động. Do đó, trong điều kiện nền
kinh tế toàn cầu, cạnh tranh khốc liệt thì vấn đề nâng cao hiệu quả của bộ
máy quản lý cụ thể hơn là hoàn thiện bộ máy quản lý doanh nghiệp là một
vấn đề hết sức cấp bách và quan trọng đối với các doanh nghiệp nước ta
ngày nay.
Hoàn thiện bộ máy quản lý doanh nghiệp cú cỏc nội dung là:
Page 1 sur 79 1
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
- Hoàn thiện cơ cấu bộ máy.

chính trị – xã hội; hai là góc độ mang tính thiết thực. Cả hai góc độ này đều
có cơ sở khoa học và thực tế.
Quản lý theo góc độ chính trị, xã hội là sự kết hợp giữa tri thức và lao
động. Lịch sử xã hội loài người từ thời kỳ mông muội đến thời đại văn minh
hiện đại ngày nay cho ta thấy rõ trong sự phát triển đú cú 3 yếu tố được nổi
lên rõ nét là tri thức, lao động và quản lý. Trong ba yếu tố này, quản lý là sự
kết hợp giữa tri thức và lao động. Nếu kết hợp tốt thì xã hội phát triển tốt
đẹp. Nếu sự kết hợp không tốt thì sự phát triển sẽ chậm lại hoặc rối ren. Sự
kết hợp đó được biểu hiện trước hết ở cơ chế quản lý, ở chế độ, chính sách,
biện pháp quản lý và ở nhiều khía cạnh tâm lý xã hội, nhưng tựu trung lại là
quản lý phải biết tác động bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn
hồ hởi, phấn khởi, đem hết năng lực và trí tuệ của mình để sáng tạo ra lợi
Ých cho mình, cho Nhà nước và cho xã hội.
Theo góc độ hành động, góc độ quy trình công nghệ của tác động thì
quản lý là điều khiển. Theo khái niệm này quản lý có ba loại hình. Các loại
hình này đều có xuất phát điểm giống nhau là do con người điều khiển
nhưng khác nhau về đối tượng.
Page 3 sur 79 3
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
- Loại hình thứ nhất là việc con người điều khiển các vật hữu sinh
không phải con người để bắt chúng phải thực hiện theo ý chí của người điều
khiển. Loại hình này được gọi là quản lý sinh học, thiên nhiên, môi trường,
… Ví dụ như các nhà khoa học làm công tác lai tạo giống vật nuôi, cây
trồng; các nhà sản xuất nông sản thực phẩm, …
- Loại hình thứ hai là việc con người điều khiển vật vô tri, vụ giỏc để
bắt chúng phát triển và thực hiện theo ý chí của người điều khiển. Loại hình
này được gọi là quản lý kỹ thuật. Ví dụ việc điều khiển máy tính, vận hành
các loại máy móc thiết bị, …
- Loại hình thứ ba là việc con người điều khiển con người (quản lý nhà
nước, Đảng, đoàn thể, tổ chức chính trị, kinh tế, văn hoá, …). Đó là quản lý

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động thực tiễn của con
người được biểu hiện thành hai mặt tự nhiên và xã hội. Trong quá trình tác
động vào tự nhiên, từng hành động đơn lẻ của con người thường chỉ mang
lại những kết quả hạn chế. Để cải tạo và chinh phục tự nhiên, tất yếu đòi hỏi
con người phải liên kết lại với nhau cùng hành động. Những tác động tương
hợp của nhiều người vào cùng đối tượng tự nhiên thường mang lại những
kết quả cộng hưởng và có tính tổng hợp.
Cỏc Mỏc đó từng phân tích, mỗi con người riêng lẻ chỉ đơn độc tác
động vào tự nhiên. Không thể có huy vọng thoát khỏi sự ràng buộc và lệ
thuộc vào tự nhiên. Chỉ có thể chế ngự được tự nhiên khi người ta biết kết
hợp các hành động đơn lẻ lại với nhau để cùng hướng theo mét ý đồ thống
nhất.
Người quan hệ với tự nhiên, con người thường xuyên tác động lẫn
nhau, sự tác động này diễn ra theo nhiều chiều và rất đa dạng. Quá trình tác
Page 5 sur 79 5
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
động lẫn nhau buộc người ta phải liên kết với nhau cùng hành động vì một
mục tiêu chung và bảo đảm lợi Ých chung của mỗi người.
Sự thoả hiệp lợi Ých cả theo nghĩa tích cực và nghĩa tiêu cực là động cơ
gắn kết hành động của con người lại với nhau.
Đây là một trong những tính quy định khi xem xét bản chất hoạt động
thực tiễn của con người trong xã hội. Chính vì vậy, Cỏc Mỏc đã nói “Xột về
bản chất, con người là tổng hoà các mối quan hệ”. Hành động của mỗi con
người không chỉ là kết quả chủ quan của mỗi người mà nó còn là kết quả
tổng hợp của các quan hệ xã hội.
Như vậy, xét cả về mặt tự nhiên cũng như xã hội của hoạt động sản
xuất, sự liên kết phụ thuộc và ràng buộc lẫn nhau trong quá trình hoạt động
của con người là một đòi hỏi cần thiết để hoạt động có hiệu quả.
Quá trình liên kết hoạt động thực tiễn của con nguời làm cho hoạt động
của họ mang tính tổ chức. Có thể hiểu tổ chức là một tập hợp mà trong đó

chớnh là bộ máy quản lý. Bộ máy quản lý là tổng hợp các bộ phận (đơn vị,
cá nhân) khác nhau có mối quan hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được
chuyên môn hoá và có những trách nhiệm quyền hạn nhất định, được bố trí
theo những cấp, những khâu khác nhau, nhằm đảm bảo thực hiện các chức
năng quản lý và phục vụ mục đích chung xác định của hệ thống. Bộ máy
quản lý là hình thức phân công nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý, có tác động
trực tiếp đến quá trình hoạt động của hệ thống. Bộ máy quản lý, một mặt
phản ánh cơ cấu trách nhiệm của mỗi bộ phận, mỗi người trong hệ thống
quản lý, mặt khác nó có tác động tích cực trở lại đến việc phát triển của toàn
hệ thống quản lý.
Page 7 sur 79 7
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Hệ thống bị quản lý là đối tượng mà sự tác độngcủa bộ máy quản lý
hướng vào nhằm mục đích tăng thêm cho nó những hình thức cụ thể, chỉ đạo
hoạt động của nó để đạt được kết quả định trước. Giữa hệ thống quản lý và
hệ thống bị quản lý có mối quan hệ qua lại rất chặt chẽ. Hệ thống bị quản lý
không chịu sự tác động có hướng đích của hệ thống quản lý mà nú cũn phát
triển theo quy luật vốn có của nó. Do đó hệ thống quản lý phải được tổ chức
cho phù hợp với đối tượng quản lý mà nó phụ trách, điều hành.
Tổ chức bộ máy quản lý là quá trình xác định các chức năng, các bộ
phận tạo thành một bộ máy quản lý nhằm thực hiện được các chức năng
quản lý.
1.2.1 :Các chức năng và lĩnh vực trong quản lý doanh nghiệp.
Quản lý doanh nghiệp bao gồm nhiều nội dung và nhiều cách tiếp cận
khác nhau, do vậy phải phân chia, quy nạp vấn đề quản lý thành những khái
niệm nhất định để có được tiếng nói chung. Căn cứ vào quá trình quản lý,
người ta phân chia vấn đề quản lý doanh nghiệp thành các chức năng quản
lý. Căn cứ vào các nội dung quản lý, người ta phân chia vấn đề quản lý
doanh nghiệp thành các lĩnh vực quản lý.
Chức năng quản lý (phân loại chức năng quản lý theo quá trình quản

tiên trong tiến trình quản trị. Đó là việc dự đoán trước có cơ sở khoa học, sự
phát triển có thể xảy ra của các quá trình, các hiện tượng, xây dựng thành
chương trình hành động (một kế hoạch nhất định) nhằm xác định rõ: sản
xuất cái gì? sản xuất bằng cách nào? bán cho ai? với nguồn tài chính nào?
Như vậy hoạch định là việc xác định các mục tiêu và mục đích mà tổ chức
phải hoàn thành trong tương lai và quyết định cách thức để đạt được mục
tiêu đó.
Page 9 sur 79 9
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình tạo ra một cơ cấu các mối
quan hệ giữa các thành viên, thông qua đó cho phép họ thực hiện các kế
hoạch và hoàn thành các mục tiêu của tổ chức. Chức năng này bao gồm việc
thiết lập một cấu trúc của tổ chức, trang bị tất cả những gì cần cho hoạt động
của doanh nghiệp như vốn, máy móc, thiết bị, lao động, nguyên vật liệu, …
kết hợp, liên kết các yếu tố sản xuất, các bộ phận riêng rẽ trong doanh
nghiệp với nhau thành một hệ thống. Bằng cách thiết lập một tổ chức hoạt
động hữu hiệu, các nhà quản trị có thể phối hợp tốt hơn các nguồn lực.
Chức năng phối hợp: Chức năng này giúp cho tất cả các hoạt động của
doanh nghiệp được nhịp nhàng, ăn khớp, đồng điệu với nhau nhằm tạo ra sự
thuận tiện và hiệu quả.
Chức năng chỉ huy: Sau khi đã hoạch định, tạo ra một tổ chức và phối
hợp các hoạt động, các nhà quản trị phải chỉ huy lãnh đạo tổ chức. Đó là
việc đưa ra và truyền đạt các chỉ thị, truyền đạt thông tin đến cho mọi người
để họ hoàn thành những nhiệm vụ cần thiết, biến khả năng thành hiện thực.
Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi
cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lường các
sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với các mục tiêu và kế hoạch
đã định.
Hoạch định hướng dẫn việc sử dụng các nguồn lực để hoàn thành các
mục tiêu, còn kiểm tra xác định xem chúng hoạt động có phù hợp với mục

đú thỡ cú 4 chức năng chủ yếu :
_Chức năng lập kế hoạch
_Chức năng tổ chức.
_Chức năng lãnh đạo.
Page 11 sur 79 11
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
_Chức năng kiểm tra.
1.2.1.2 : Lĩnh vực quản lý.
Đây là sự phân loại chức năng quản lý theo nội dung quản lý. Lĩnh
vực quản lý trong doanh nghiệp được hiểu như các hoạt động quản lý khi
được sắp xếp trong một bộ phận nào đó. ở các bộ phận này có người chỉ huy
và liên quan đến việc ra các quyết định quản trị.
Lĩnh vực quản lý được phân định phụ thuộc vào nhiều yếu tố: truyền
thống quản trị, các yếu tố xã hội và cơ chế kinh tế, quy mô cũng như đặc
điểm kinh tế – kỹ thuật của doanh nghiệp. Nó gắn liền với mỗi quốc gia, mỗi
vùng cụ thể và sự tiến bộ về nhận thức khoa học quản lý.
Cã thể nói lĩnh vực quản lý chính là sự phân chia chức năng quản lý
theo nội dung tác động.
Về cơ bản, các lĩnh vực quản lý trong doanh nghiệp gồm:
* Lĩnh vực vật tư: Nhiệm vụ của cung ứng vật tư là bảo đảm cung cấp
đầy đủ và đồng bộ về số lượng, chủng loại, đúng chất lượng, đúng kỳ hạn,
đúng địa điểm với chi phí Ýt nhất. Nội dung công việc cung ứng vật tư bao
gồm: Phát hiện nhu cầu vật tư, tổ chức mua sắm vật tư, tổ chức cung cấp vật
tư, tổ chức dự trữ và bảo quan vật tư. …
Người ta thường sử dụng phương pháp quy hoạch tuyến tính, phương
pháp dựa trên lý thuyết về dự trữ, phương pháp PERT, hay kiểu cung ứng
đúng kỳ hạn của Nhật để điều khiển cụngviệc cung ứng vật tư.
* Lĩnh vực sản xuất: Sản xuất là việc sử dụng con người lao động để
tác động lên yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (vật chất, tài chính, thông
tin) để làm ra các sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với nhu cầu của thị trường.

* Lĩnh vực tài chính – kế toán:
Page 13 sur 79 13
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Lĩnh vực tài chính gồm các nội dung sau: tạo vốn, sử dụng vốn, quản lý
vốn (chủ yếu là quản lý sự lưu thông, thanh toán và các quan hệ tín dụng).
Lính vực kế toán gồm các nội dung: kế toán sổ sách, tính toán chi phí –
kết quả, xây dựng các bảng cân đối, tính toán lỗ lãi, thẩm định kế hoạch,
thống kê, kiểm tra việc tính toán, bảo hiểm, thuế.
Page 14 sur 79 14
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
* Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển:
Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển gồm các nhiệm vụ sau: thực hiện các
nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào ứng dụng và thẩm định hiệu quả các tiến bộ kỹ thuật được áp dụng.
* Lĩnh vực tổ chức và thông tin:
Gồm các nhiệm vụ sau:
- Lĩnh vực tổ chức: Tổ chức các dự án, phát triển và cải tiến bộ máy tổ
chức cho doanh nghiệp, tổ chức tiến trình hoạt động toàn bộ doanh nghiệp.
- Lĩnh vực thông tin: Xây dựng kế hoạch về các thông tin liên quan cho
doanh nghệp, chọn lọc và xử lý các thông tin, kiểm tra thông tin và giám sát
thông tin.
* Lĩnh vực hành chính pháp chế và các dịch vô chung:
Bao gồm: thực hiện các mối quan hệ pháp lý trong và ngoài doanh
nghiệp, tổ chức các hoạt động quần chúng trong doanh nghiệp, các hoạt
động hành chính và phúc lợi doanh nghiệp.
Sự phân chia trên đây chỉ mang tính khái quát, trên thực tế quản trị, các
lĩnh vực được tiếp tục chia nhỏ nữa cho đến các công việc, nhiệm vụ quản trị
cụ thể; mặt khác có bao nhiêu lĩnh vực quản trị còn phụ thuộc vào đặc điểm
kinh tế – kỹ thuật của từng doanh nghiệp.
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa phân loại theo chức năng và theo các lĩnh vực

(ij)
sau:
Page 16 sur 79 16
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Chức nang
Lĩnh vực
Dự kiến
(DK)
Tổ chức
(TC)
Phối hợp
(PH)
Chỉ huy
(CH)
Kiểm tra
(KT)
Vật tư
Sản xuất
Marketing
-
-
-
-
-
H.chíhh, p. chế
DK vật tư
DK sản
xuất
DK ….
TC vật tư

phận (đơn vị và cá nhân) khác nhau, có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn
nhau, được chuyên môn hoỏ, cú những trách nhiệm và quyền hạn nhất định,
Page 17 sur 79 17
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm bảo đảm thực hiện
các chức năng quản trị và phục vụ mục đích chung đã xác định của doanh
nghiệp.
Như vậy, cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp được hiểu là các bộ phận
cấu thành của doanh nghiệp, nói cách khác doanh nghiệp đó bao gồm những
bộ phận, những đơn vị nào, nhiệm vụ của từng bộ phận và các quan hệ giữa
các bộ phận của doanh nghiệp, cơ chế điều hành phối hợp trong doanh
nghiệp.
Giữa cơ cấu tổ chức quản trị và cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp có
mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với nhau. Cơ sở của cơ cấu tổ chức quản trị
trước hết là bản thân cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp. Đây cũng là mối
quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý.
Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức quản trị có tính độc lập tương đối vỡ nú phải
phản ánh được lao động quản lý rất đa dạng. Phải bảo đảm thực hiện những
chức năng quản lý phức tạp nhằm thực hiện mục tiêu quản trị đã quy định.
Cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp hình thành bởi các bộ phận quản
trị và các cấp quản trị.
Bộ phận quản trị là một đơn vị riêng biệt, có những chức năng quản lý
nhất định, ví dụ phòng Kế hoạch, phòng Kiểm tra kỹ thuật, phòng
Marketing, …
Cấp quản trị là sự thống nhất tất cả các bộ phận quản trị ở một trình độ
nhất định như cấp doanh nghiệp, cấp phân xưởng, …
Nh vậy, rõ ràng là số bộ phận quản trị phản ánh sự phân chia chức năng
quản trị theo chiều ngang, còn số cấp quản trị thể hiện sự phân chia chức
năng quản trị theo chiều dọc.
Sự phân chia theo chiều ngang là biểu hiện của trình độ chuyên môn

Page 19 sur 79 19
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
kiểu truyền thống, thích ứng với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp.
Chuyển sang cơ chế thị trường, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp
đã thay đổi. Trong cơ chế thị trường, tính không ổn định của sản xuất kinh
doanh là rất cao, một cơ cấu tổ chức thích ứng với điều kiện này phải là một
cơ cấu tổ chức không cứng nhắc, đảm bảo tính linh hoạt cao, dễ thích ứng
với những thay đổi của môi trường kinh doanh.
- Mục đích, chức năng hoạt động của doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp chịu ảnh hưởng ở mức
khái quát nhất bởi nhân tố mục đích, mục tiêu, chức năng hoạt động của
doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức bao giờ cũng phải phù hợp với mục tiêu, từ
mục tiêu mà đặt ra cấu trúc bộ máy. Mục đích thay đổi hoặc mở rộng mục
tiêu thường dẫn đến thay đổi cơ cấu tổ chức. Ví dụ: một doanh nghiệp tham
gia thị trường sản xuất xe đạp. Sau một thời gian thấy việc sản xuất bàn ghế
cao cấp rất có lãi, doanh nghiệp bắt tay vào việc sản xuất bàn ghế. Nh vậy từ
chỗ có 1, nay doanh nghiệp có 2 mục tiêu phải theo đuổi. Do đó, cơ cấu tổ
chức của doanh nghiệp phải thay đổi theo, bao gồm thêm bộ phận nghiên
cứu thị trường bàn ghế, bộ phận kỹ thuật và các phân xưởng sản xuất bàn
ghế. Trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp sản xuất thỡ cỏc bộ phận sản
xuất chiếm tỷ trọng chủ yếu, bộ máy quản trị doanh nghiệp được thiết lập
hướng vào việc phục vụ tốt nhất cho hoạt động sản xuất. Còn trong doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ, các bộ phận cung cấp đóng vai trò quan trọng, các
hoạt động của bộ máy quản trị hoạt động hướng vào phục vụ tốt cho các hoạt
động này. Có thể nói rằng các doanh nghiệp có mục đích, chức năng hoạt
động không giống nhau thì không thể có cơ cấu tổ chức bộ máy doanh
nghiệp giống nhau được.
- Quy mô của doanh nghiệp.
Page 20 sur 79 20
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp

trong công tác quản trị nhân sự phải biết sử dụng các quản trị viên có năng
lực quản trị phù hợp. Với đội ngũ quản trị viên có trình độ và kinh nghiệm
thì doanh nghiệp chỉ cần sử dụng một số Ýt nhân lực song vẫn bảo đảm hoàn
thành công việc quản trị với chất lượng cao hơn so với việc sử dụng đội ngũ
quản trị viên Ýt được đào tạo và Ýt kinh nghiệm. Tính hiệu quả còn được
nhõn thờm lờn bởi với một lượng quản trị viên Ýt hơn đã làm đơn giản hoá
ngay chính cơ cấu tổ chức bộ máy do giảm bớt đầu mối, giảm bớt các mối
quan hệ giữa các nơi làm việc và các bộ phận quản trị với nhau.
Cùng với yếu tố trình độ của đội ngũ quản trị viên, trình độ trang thiết
bị quản trị cũng tác động trực tiếp đến việc tổ chức bộ máy quản trị. Một
doanh nghiệp sử dụng đội ngũ quản trị viên biết sử dụng thành thạo hệ thống
máy vi tính, và bản thân doanh nghiệp được trang bị đầy đủ hệ thống máy vi
tính cá nhân cần thiết sẽ làm giảm rất lớn thời gian thực hiện một nhiệm vụ
quản trị cụ thể và tăng sức hoạt động sáng tạo của đội ngũ quản trị viên rất
nhiều, và do đó cơ cấu bộ máy quản trị sẽ đơn giản hơn.
- Hình thức pháp lý của doanh nghiệp.
Ngoài các nhân tố trên, hình thức pháp lý của doanh nghiệp cũng có ảnh
hưởng trực tiếp đến việc hình thành cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị. Thông
thường nhân tố này tác động có tính chất bắt buộc, phải thiết kế bộ máy quản
trị theo cỏc tiờu thức nhất định. Hình thức pháp lý của doanh nghiệp sẽ do
luật pháp từng nước quy định. Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (được
Quốc hội thông qua ngày 20/4/1995) thỡ cỏc DNNN của nước ta được phân
làm 2 loại:
Page 22 sur 79 22
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
+ Tổng công ty nhà nước và các doanh nghiệp độc lập có quy mô lớn,
có cơ cấu tổ chức quản lý nh sau: HĐQT, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc
hoặc Giám đốc và bộ máy giúp việc.
+ Các DNNN không quy định tại khoản 1 điều này, có Giám đốc và bộ
máy giúp việc.

xõy dng, hỡnh thnh c cu t chc qun tr doanh nghip trc ht
phi ỏnh giỏ cỏc bin ny, sau ú mi la chn tỡm kim mt mụ hỡnh phự
hp. Tuy nhiờn cỏc bin ny l ng, hay thay i nờn phi cú nhng phõn
tớch nh k v cỏc bin v ỏnh giỏ xem c cu t chc qun tr doanh
nghip cú phự hp hay khụng.
2. C cu t chc qun tr trc tuyn.
S 1: S tng quỏt kiu c cu trc tuyn
1,2,3,4: Nhng ngi hay b phn thc hin nhim v sn xut trc tip
V dụ: Mt i xõy lp bao gm mt i trng ch huy ton din, bờn
di l cỏc nhúm trng, v cui cựng l cỏc cụng nhõn xõy dng.
c im:
Page 24 sur 79
Ngời lãnh đạo
tổ chức
Ngời lãnh đạo
tuyến sản
xuất 1
Ngời lãnh đạo
tuyến sản
xuất 2
1 2 1
2
24
Trường Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
- Người lãnh đạo thực hiện tất cả các chức năng quản lý một cách
tập trung và thống nhất và chịu hoàn toàn trách nhiệm về hệ
thống do mình phụ trách.
- Các mối liên hệ các cấp là mối quan hệ đường thẳng.
- Người thực hiện nhiệm vụ chỉ nhận mệnh lệnh qua một người
chỉ huy trực tiếp và chỉ thi hành mệnh lệnh của người đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status