MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU…………………………………...3
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………………4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG YẾU TRONG KIỂM
TOÁN VÀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU TRONG KIỂM
TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH…………………………………………...5
1.1 Lý luận chung về trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính………5
1.1.1 Khái niệm trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính……………...5
1.1.2 Các tiêu chuẩn đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC……...7
1.1.3 Rủi ro kiểm toán và mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán
trong kiểm toán BCTC………………………………………………14
1.2 Quy trình đánh giá trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính….18
1.2.1 Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu……………………………….19
1.2.2 Phân bổ ước lượng ban đầu về trọng yếu cho các khoản mục……....21
1.2.3 Ước lượng tổng số sai sót trong khoản mục………………………...23
1.2.4 Ước tính sai số kết hợp của toàn bộ BCTC………………………....23
1.2.5 So sánh sai số tổng hợp ước tính với ước lượng ban đầu (hoặc đã điều
chỉnh) về tính trọng yếu……………………………………………..23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU TRONG
KIỂM TOÁN BCTC CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
TẠI VIỆT NAM…………………………………………………………..25
2.1 Thực trạng đánh giá trọng yếu trong kiểm toán BCTC của một số công
ty kiểm toán độc lập tại việt nam………………………………………….25
2.1.1 Ước lượng ban đầu về mức trọng yếu………………………………..25
2.1.2 Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục trên
BCTC……………………………………………………………………....26
2.1.3 Ước tính tổng số sai sót trên từng khoản mục ………………………28
Trần Thị Phúc Kiểm toán 48C
1
2.1.4 Ước tính tổng số sai phạm trên toàn bộ BCTC………………………30
2.1.5 So sánh sai số tổng hợp ước tính với ước lượng ban đầu ( hoặc đã điều
nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước. Chính sự phát triển của các doanh
nghiệp này là động lực khiến cho ngành kiểm toán nói chung và kiểm toán
độc lập nói riêng đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Nhu
cầu của người sử dụng báo cáo kiểm toán luôn ở mức lý tưởng, còn khả
năng đáp ứng của kiểm toán viên thì bị giới hạn bởi nhiều yếu tố trong đó
quan trọng nhất là sự chi phối của yếu tố thời gian và chi phí. Nói điều này
không có nghĩa là kiểm toán viên có thể lấy đây làm nguyên cớ để thực hiện
các cuộc kiểm toán hời hợt, kém chất lượng mà ngược lại người kiểm toán
phải thực hiện các thủ tục kiểm toán sao cho không những đảm bảo mà còn
phải ngày càng nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán. Do báo cáo kiểm toán
chỉ có thể chứng nhận là BCTC “Trung thực và hợp lý trên mọi khía cạnh
trọng yếu” nên bản thân những người kiểm toán viên cũng phải có một “cột
mốc” đo lường mức độ sai lệch thế nào gọi là chấp nhận được để từ đó tiến
hành cuộc kiểm toán sao cho đảm bảo báo cáo tài chính không còn có sai
lệch trọng yếu. Mức sai lệch có thể chấp nhận đó là mức trọng yếu. Đối với
người kiểm toán mức trọng yếu như kim chỉ nam giúp họ lập kế hoạch kiểm
toán, thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp và từ đó đưa ra ý kiến kiểm
toán thích hợp mà vẫn đảm bảo được tính hữu hiệu và hiệu quả của cuộc
kiểm toán.
Chính vì lẽ đó, em đã chọn đề tài “Trọng yếu và qui trình đánh giá
trọng yếu trong kiểm toán BCTC”. với mong muốn được tìm hiểu sâu hơn
về vấn đề này
Trần Thị Phúc Kiểm toán 48C
1
Đề tài này sẽ gồm có ba phần chính sau:
Phần 1: Lý luận chung về trọng yếu trong kiểm toán và qui trình đánh giá
trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Phần 2: Thực trạng về đánh giá trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính
của các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam.
toán chung được thừa nhận. Nguyên tắc này chỉ rõ: “trong quá trình xem xét,
đánh giá BCTC nên chỉ chú trọng đến những vấn đề mang tính trọng yếu,
quyết định bản chất và nội dung của sự vật, không quan tâm tới các yếu tố
có ít tác dụng trong báo cáo tài chính”. Cách tiếp cận của nguyên tắc này đã
Trần Thị Phúc Kiểm toán 48C
3
cho thấy bản chất của trọng yếu. Khi thông tin quyết định “bản chất và nội
dung của sự vật” thay đổi thì “bản chất và nội dung của sự vật” đó sẽ thay
đổi, do vậy quyết định của người sử dụng thông tin cũng thay đổi.
Như vậy, nhìn chung trọng yếu xét trong mối quan hệ với nội dung
kiểm toán có thể hiểu là khái niệm chung chỉ tầm cỡ và tính hệ trọng của
phần nội dung cơ bản của kiểm toán có ảnh hưởng tới tính đúng đắn của việc
nhận thức, đánh giá đối tượng kiểm toán và việc sử dụng thông tin đá đánh
giá đó để ra quyết định quản lí. Trên góc độ của người sử dụng thông tin, nói
một cách đơn giản, một thông tin quan trọng và cần phải trình bày nếu có
khả năng ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng
1.1.2 Các tiêu chuẩn đánh giá tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC
• Tính trọng yếu biểu hiện qua quy mô của các khoản mục
Quy mô của một sai phạm trên khoản mục, nghiệp vụ là một nhân tố
quan trọng để xác định tính trọng yếu của sai sót.Tuy nhiên, trong kiểm toán
khó có thể ấn định con số cụ thể về tầm cỡ cho những điểm cốt yếu của nội
dung kiểm toán, đặc biệt khi có yếu tố tiềm ẩn. Vì vậy, ranh giới của quy mô
khác nhau của đối tượng kiểm toán được xét chủ yếu trong quan hệ với mức
độ ảnh hưởng của các khoản mục, các nghiệp vụ đến kết luận kiểm toán từ
đó tới việc ra quyết định của người sử dụng thông tin đã được kiểm toán.
Quy mô của tính trọng yếu được xem xét trên hai góc độ: quy mô tuyệt đối
và quy mô tương đối.
Quy mô tuyệt đối là một con số tuyệt đối thể hiện mức quan trọng mà
không cần nhắc thêm bất kỳ một yếu tố nào khác. Tuy nhiên, trên thực tế
một quy mô tuyệt đối không phải là một con số trọng yếu đối với tất cả các
cơ bản sau:
Trần Thị Phúc Kiểm toán 48C
5
Thứ nhất, quy mô trọng yếu phải được xác định. Tuỳ đối tượng cụ thể
(các bảng BCTC hay toàn bộ hệ thống kế toán hay thực trạng tài chính nói
chung) và khách thể kiểm toán (đơn vị kinh doanh công nghiệp, nông
nghiệp, xây lắp, thương mại, sự nghiệp…) và cần có sự am hiểu về tài chính
kế toán của khách thể kiểm toán.
Thứ hai, quy mô của các khoản mục, nghiệp vụ không chỉ xét về quy
mô bằng con số tuyệt đối mà phải trong tương quan với toàn bộ đối tượng
kiểm toán. Về định lượng đó là những tỉ lệ của các khoản mục, nghiệp vụ so
với một cơ sở để tính toán như tổng số tài sản, tổng doanh thu, lợi tức chưa
tính thuế… tuỳ quan hệ cụ thể với đối tượng cụ thể của kiểm toán có thể tính
riêng biệt hay cộng dồn các nghiệp vụ, các khoản mục cụ thể hay những sai
sót có liên quan.
Thứ ba, quy mô trọng yếu còn tuỳ thuộc vào từng cuộc kiểm toán có
đối tượng và mục tiêu khác nhau, chẳng hạn, kiểm toán tài chính hay kiểm
toán hiệu quả với chức năng xác minh hay tư vấn… chẳng hạn, đối với mục
tiêu quyền và nghĩa vụ, KTV luôn xác định một sự sai phạm không quá lớn
của khách hàng trong việc kê khai và nộp thuế cho Nhà nước là trọng yếu.
ngoài ra cần có sự am hiểu về tài chính kế toán của khách thể kiểm toán, các
quy định của pháp luật…
Như vậy, quy mô hay tầm cỡ của trọng yếu phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố khác nhau. Mặc dù không có một chuẩn mực chung nào quy định về qui
mô trọng yếu, nhưng thông thường các hãng kiểm toán quy định qui mô
trọng yếu trong chính sách của mình. Ví dụ như quy định về quy mô trọng
yếu theo đường lối chung của công ty Hillsburg Hardware như sau:
Trần Thị Phúc Kiểm toán 48C
6
Bảng 1.1: Chỉ đạo chung về quy mô trọng yếu
quyết định đúng đắn nhất.
1.1.2.2. Tính trọng yếu biểu hiện qua bản chất của khoản mục, nghiệp vụ
Khái niệm trọng yếu gắn liền với tính hệ trọng của vấn đề xem xét.
Theo nguyên tắc kiểm toán quốc tế số 25, mục 07 quy định: “KTV xem lại
cả về mặt định tính và định lượng những sai sót mà mình quan tâm. Vì xét
Trần Thị Phúc Kiểm toán 48C
7
về định tính, các sai phạm có thể làm nảy sinh các vấn đề liên quan khác.
KTV cần đề phòng các sai phạm dù nhỏ nhưng có tính dây chuyền, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến BCTC. Ví dụ một khoản thanh toán không hợp
pháp của một khoản mục tương đối quan trọng có thể coi là một sai lầm
nghiêm trọng nếu sai phạm này có tính dây chuyền dẫn đến các sai phạm về
công nợ, lỗ, tài sản và doanh thu. Một ví dụ khác về sai phạm mang tính
định tính: sự mô tả không đúng đắn, không xác đáng về chế độ kế toán có
thể dẫn đến việc những người sử dụng thông tin tài chính hiểu sai về bản
chất của vấn đề”
Như vậy, việc xác định tính trọng yếu chỉ mang lại hiệu quả khi KTV
căn cứ vào đặc điểm, đặc thù của doanh nghiệp, bản chất của các khoản
mục, nghiệp vụ. Khái niệm trọng yếu gắn liền với tính hệ trọng của vấn đề
xem xét. Đánh giá tính trọng yếu trong mối quan hệ với bản chất của các
khoản mục, nghiệp vụ thường xảy ra hai trường hợp:
Thứ nhất, các khoản mục, nghiệp vụ chứa đựng khả năng gian lận cao:
Với cùng một quy mô tiền tệ, gian lận thường được chú trọng hơn sai
sót bởi gian lận thường làm người ta nghĩ đến tính trung thực và độ tin cậy
của Ban giám đốc và những người có liên quan. Do đó, hành vi gian lận nào
cũng được coi là trọng yếu bất kể quy mô của nó là bao nhiêu. Các khoản
mục, nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận thường bao
gồm:
- Các nghiệp vụ đấu thầu và giao thầu, giao dịch không hợp pháp. Các
giao dịch không hợp pháp luôn bị pháp luật ngăn cấm.Trong thực tế, các
nghiệp vụ bán hàng cố ý không được ghi nhận thì khả năng doanh thu của
lượng hàng bán đó đã bị tham ô rất dễ xảy ra.
Trần Thị Phúc Kiểm toán 48C
9
- Các nghiệp vụ xảy ra vào cuối kỳ kế toán hoặc thuộc loại nghiệp vụ
mới phát sinh. Thời gian chuyển giao giữa niên độ kế toán mới và niên độ kế
toán cũ thường xảy ra gian lận vì kế toán thường thực hiện bút toán điều
chỉnh cho phù hợp với kế hoạch mà công ty đã đặt ra. Khi đó sẽ xảy ra
trường hợp các nghiệp vụ phát sinh cuối năm nay nhưng được ghi nhận vào
năm sau và các nghiệp vụ phát sinh đầu năm sau nhưng cố ý ghi nhận vào
năm nay…
- Các khoản mục có sửa chữa. Trong kế toán, việc sửa chữa các sai sót
phải tuân theo những quy tắc nhất định. Mặc dù vậy, ktv vẫn phải luôn nghi
ngờ thích đáng về lý do của hành vi sửa chữa. Bởi vì, chứng từ khoản mục
có sửa chữa rất có thể là hành vi gian lận của kế toán hoặc sự chỉ đạo từ phía
Ban giám đốc cho kế toán mà không có những căn cứ hợp lý.
Thứ hai, các nghiệp vụ thường xảy ra các sai sót hệ trọng, bao gồm:
- Các khoản muc, nghiệp vụ có sai sót ở quy mô lớn hoặc có chênh lệch
lớn so với kỳ trước hoặc với các căn cứ đối chiếu (dự toán, kế hoạch …). Để
phát hiện các sai sót này đòi hỏi kết quả kỳ trước hoặc các căn cứ đối chiếu
phải được xác định một cách hợp lý, chuẩn xác.
- Các nghiệp vụ vi phạm nguyên tắc kế toán và pháp lý nói chung. Tuy
nhiên sự vi phạm này phải xuất phát từ nguyên nhân không do lỗi cố ý. Nếu
vi phạm bắt nguồn từ việc cố ý thì hành động đó phải bị coi là gian lận chứ
không phải là sai sót và mức độ ảnh hưởng của nó sẽ nghiêm trọng hơn.
- Các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót lặp lại nhiều lần. Ví dụ, khoản
mục doanh thu là khoản mục thường hay xảy ra sai sót về thời điểm ghi
nhận doanh thu. Đặc biệt nếu doanh thu của hàng xuất khẩu thì việc sai sót
trong thời điểm ghi nhân doanh thu sẽ tạo ra các khoản chênh lệch khi qui
đổi ra vnđ vì tỷ giá ngoại tệ luôn thay đổi. Qui mô của các sai sót này có thể
11
Trong kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng, cũng như
khái niệm “trọng yếu”, rủi ro kiểm toán (Audit Risk – AR) là một vấn đề
quan trọng, kết hợp cùng với kết quả đánh giá trọng yếu để xây dựng nên
một kế hoạch kiểm toán hợp lí. Vì vậy, việc hiểu rõ và quản lý tốt rủi ro
kiểm toán là yếu tố quyết định trong việc hạn chế rủi ro kinh doanh của các
công ty kiểm toán.
Từ điển thuật ngữ kiểm toán - kế toán Anh - Việt ghi: “rủi ro kiểm toán
là một phạm trù dùng để chỉ trường hợp KTV đã đưa ra một ý kiến kiểm
toán không phù hợp với BCTC. BCTC đã được kiểm toán vẫn chứa đựng
những sai lầm nghiêm trọng”.
Trong các văn bản hướng dẫn (chỉ đạo) kiểm toán quốc tế, rủi ro được
định nghĩa như sau: “ rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể mắc
phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và
đó là sai sót nghiêm trọng”.
Do đối tượng kiểm toán là những thông tin được kiểm toán qua nhiều
giai đoạn bằng các bộ máy kiểm toán khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũng
được xác định tương ứng với đối tượng kiểm toán từng loại: rủi ro tiềm tàng,
rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện.
Rủi ro tiềm tàng (Inherent Risk - IR):
là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong bản chất các đối tượng
kiểm toán (chưa tính đến sự tác động của bất cứ hoạt động kiểm toán nào kể
cả kiểm soát nội bộ). Mức rủi tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình
kinh doanh của khách thể kiểm toán, loại hình kinh doanh và cả năng lực
nhân viên của khách thể kiểm toán. KTV không tạo ra và cũng không kiểm
soát rủi ro kiểm soát, họ chỉ có thể đánh giá chúng.
Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, KTV có thể dựa vào các yếu tố ảnh hưởng
như bản chất kinh doanh của khách hàng, tính trung thực của BGĐ, kết quả
Trần Thị Phúc Kiểm toán 48C
12