THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG - Pdf 28

Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng GVHD Th.S Lê Bảo
Mục lục
2.4 Phát triển nông thôn bền vững ...........................................................................16
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP ĐÀ NẴNG
……
Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài.
Đà Nẵng là một thành phố có những bước phát triển về kinh tế xã hội vượt
bậc trong những năm gần đây. Định hướng chung của thành phố trong những năm
sắp tới là hướng tới phát triển thành phố một cách bền vững cả về kinh tế và xã hội.
Ngành nông nghiệp của thành phố củng không nằm ngoài xu hướng đó, phát triển
bền vững nông nghiệp sẽ là hướng đi chính trong tương lai. Những năm gần đây,
SVTH Đào Quang Thắng Trang 1
Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng GVHD Th.S Lê Bảo
sản suất nông nghiệp của thành phố đã có những bước tiến đáng kể, tuy nhiên, so
với nhu cầu và tiềm năng thì còn nhiều hạn chế, vì vậy việc xác định rõ những kết
quả đã đạt được cũng như những hạn chế là cần thiết để từ đó có những định hướng
và đề ra những giải pháp phát triển bền vững nền nông nghiệp thành phố nhằm nâng
cao hiệu quả sản xuất và đời sống của nhân dân. Xuất phát từ yêu cầu đó, em đã
chọn đề tài “Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng”
II. Mục đích nghiên cứu.
Đánh giá khái quát thực trạng phát triển nông nghiệp của thành phố Đà
Nẵng.
Tìm hiểu các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tác động đến quá trình phát
triển nông nghiệp của thành phố Đà Nẵng.
Phân tích các yếu tố tác động đến phát triển nông nghiệp thành phố đà nẵng
một cách bền vững.
Định hướng và đưa ra các giải pháp góp phẩn phát triển nông nghiệp thành
phố bền vững trong tương lai.
III. Bố cục đề tài nghiên cứu.
Bố cục của đề tài bao gồm:

I. Nông nghiệp.
1. Khái niệm.
Nông nghiệp là ngành có lịch sử phát triển lâu đời, các hoạt động nông
nghiệp đã có từ hàng ngàn năm nay kể từ khi con người từ bỏ nghề săn bắn và
hái lượm. Do lịch sử lâu đời này mà nông nghiệp thương được nói đến như là
nền kinh tế truyền thống. Ngày nay mặc dù với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
con người đã sản xuất được những máy móc thiết bị hiện đại nhưng người nông
SVTH Đào Quang Thắng Trang 3
Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng GVHD Th.S Lê Bảo
dân vẩn thường áp dụng những kỹ thuật đã phát triển từ hàng trăm nghìn năm
trước để trồng trọt.
2. Đặc điểm vai trò của nông nghiệp.
Nông nghiệp là ngành tạo ra sản phẩm thiết yếu nhất cho con người.
Lương thực thực phẩm chỉ có ngành nông nghiệp mới sản xuất ra. Trên thực tế
phần lớn các sản phẩm chế tạo có thể thay thế nhưng không có sản phẩm nào có
thể thay thế lương thực. Do đó nước nào củng phải sản xuất hoặc nhập khẩu
lương thực để phục vụ nhu cầu của mình.
Hoạt động sản xuât nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện khách
quan. Trước hết nông nghiệp khác cơ bản với các ngành khác ở chổ tư liệu sản
xuất chủ yếu là đất đai, điều kiện tự nhiên. Ngành nào tiến hành sản xuất kinh
doanh củng cần đất đai, nhưng không có ngành nào đất đai đóng vai trò chủ đạo
như nông nghiệp. Gắn liền với vai trò của đất đai là ảnh hưởng của thời tiết.
Củng không có ngành nào, ngoài nông nghiệp phụ thuộc vào sự biến động thất
thường của thời tiết như vậy. Cùng với sự biến động của thời thiết, điều kiện thổ
nhưỡng, độ màu mở của đất đai mổi nơi mổi khác nên việc lựa chọn cơ cấu cây
trồng, vật nuôi và kỹ thuật canh tác củng khác nhau. Trong nông nghiệp sự khác
nhau về chất lượng đất trồng, khí hậu, nguồn nước sẳn có dẩn đến việc sản xuất
chủng loại cây khác nhau và sử dụng các biện pháp canh tác khác nhau.
Ngành nông nghiệp có đặc điểm là tỷ trọng lao động và sản phẩm trong
nền kinh tế có xu hướng giảm dần. Ở các nước đang phát triển nông nghiệp tập

thiên nhiên nông nghiệp có thể gây ra các tác động môi trường tích cực hoặc tiêu
cực. Đến nay, nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất và làm cho nguồn
nước ngày càng khan hiếm. nông nghiệp là yếu tố chính làm suy kiệt nguồn
nước ngầm, ô nhiểm hóa chất nông nghiệp, bạc màu đất và thay đổi khí hậu toàn
cầu khi chiếm tới 30% lượng phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên nông nghiệp
củng là nới cung cấp chính các dịch vụ môi trường thường không được công
nhận và không được trả tiền như cố định cacbon, quản lý lưu vực sông và bảo
tồn đa dạng sinh học. Với tình trạng khan hiếm nguồn tài nguyên ngày càng gia
SVTH Đào Quang Thắng Trang 5
Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng GVHD Th.S Lê Bảo
tăng, thay đổi khí hậu dẩn đến những quan ngại về sự biến đổi môi trường và cái
giá phải trả trong tương lai, kiểu nông nghiệp hiện nay không phải là một cách
hay. Quản lý các mối quan hệ giữa nông nghiệp, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
và môi trường là một phần không thể tách rời khỏi nông nghiệp vì sự phát triển.
II. Phát triển bền vững và phát triển bền vững nông nghiệp.
1. Khái niệm.
duy trì s s ng c a b n thân và ti p t c s phát tri n c a nòi gi ng,Để ự ố ủ ả ế ụ ự ể ủ ố
ngay t th i k nguyên thu c a l ch s nhân lo i, con ng i ã có nh ng ho từ ờ ỳ ỷ ủ ị ử ạ ườ đ ữ ạ
ng khai thác tài nguyên thiên nhiên, ch bi n thành nh ng v t ph m c n thi tđộ ế ế ữ ậ ẩ ầ ế
cho mình, ho c c i thi n nh ng i u ki n thiên nhiên, t o nên môi tr ngặ để ả ệ ữ đ ề ệ ạ ườ
s ng thích h p v i mình. Trong lúc ti n hành nh ng ho t ng ó, con ng i ítố ợ ớ ế ữ ạ độ đ ườ
nhi u ã bi t r ng m i can thi p vào tài nguyên thiên nhiên và môi tr ng luônề đ ế ằ ọ ệ ườ
luôn có hai m t l i, h i khác nhau i v i cu c s ng tr c m t và lâu dài c aặ ợ ạ đố ớ ộ ố ướ ắ ủ
con ng i. M t s ki n th c và bi n pháp thi t th c ng n ng a nh ng tácườ ộ ố ế ứ ệ ế ự để ă ừ ữ
ng thái quá i v i môi tr ng ã c úc k t và truy n t t th h nàyđộ đố ớ ườ đ đượ đ ế ề đạ ừ ế ệ
qua th h khác d i d ng nh ng tín ng ng và phong t c. Trong các xã h iế ệ ướ ạ ữ ưỡ ụ ộ
công nghi p, v i s phát hi n nh ng ngu n n ng l ng m i, v t li u m i và kệ ớ ự ệ ữ ồ ă ượ ớ ậ ệ ớ ỹ
thu t s n xu t ti n b h n nhi u, con ng i ã tác ng m nh m vào tàiậ ả ấ ế ộ ơ ề ườ đ độ ạ ẽ
nguyên thiên nhiên và môi tr ng, can thi p m t cách tr c ti p và nhi u khiườ ệ ộ ự ế ề
thô b o vào các h thiên nhiên. “ch ng ” thiên nhiên, con ng i nhi u khiạ ệ Để ế ự ườ ề

m t cách khác ó là: phát tri n b n v ng (PTBV).ộ đ ể ề ữ
Phát tri n b n v ng là s phát tri n nh m tho mãn các nhuể ề ữ ự ể ằ ả
c u hi n t i c a con ng i nh ng không t n h i t i s tho mãnầ ệ ạ ủ ườ ư ổ ạ ớ ự ả
các nhu c u c a th h t ng laiầ ủ ế ệ ươ . Phát tri n b n v ng là m t ph ngể ề ữ ộ ươ
h ng phát tri n c các qu c gia trên th gi i ngày nay h ng t i, ó là ni mướ ể đượ ố ế ớ ướ ớ đ ề
hy v ng l n c a toàn th loài ng iọ ớ ủ ể ườ
PTBV có c i m:đặ đ ể
(1) - S d ng úng cách ngu n tài nguyên thiên nhiên mà không làmử ụ đ ồ
t n h i h sinh thái và môi tr ngổ ạ ệ ườ
(2) - T o ra các ngu n v t li u và n ng l ng m iạ ồ ậ ệ ă ượ ớ
(3) - ng d ng công ngh s ch, công ngh phù h p v i hoàn c nh aỨ ụ ệ ạ ệ ợ ớ ả đị
ph ngươ
(4) - T ng s n l ng l ng th c, th c ph mă ả ượ ươ ự ự ẩ
(5) - C u trúc và t ch c l i các vùng sinh thái nhân v n phong cáchấ ổ ứ ạ ă để
và ch t l ng cu c s ng c a ng ì dân u thay i theo h ng tích c c ấ ượ ộ ố ủ ươ đề đổ ướ ự
SVTH Đào Quang Thắng Trang 8
Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng GVHD Th.S Lê Bảo
Mục tiêu cuối cùng của PTBV là thỏa mãn yêu cầu căn bản của con
người, cải thiện cuộc sống, bảo tồn và quản lý hữu hiệu hệ sinh thái, bảo đảm
tương lai ổn định. PTBV thực hiện và đảm bảo sự liên đới giữa các thế hệ, giữa
các quốc gia, giữa hiện tại với tương lai. PTBV có tính chất đa diện, thống nhất,
toàn bộ. Muốn PTBV phải lồng ghép được 3 thành tố quan trọng của sự phát
triển với nhau: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Đây là
nguyên lý chung để hướng sự phát triển bền vững của các lĩnh vực trong nền
kinh tế.
Cùng với định nghĩa về PTBV, khái niệm phát triển nông nghiệp bền
vững cũng hình thành. Trong những thập niên cuối của thế kỷ 20, những vấn đề
đặt ra chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp: bảo vệ môi trường đất, nước
và khởi xuớng một số hệ thống canh tác bền vững. Mục đích của nông nghiệp
bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững về sinh thái, có tiềm lực về kinh tế,

thôn.
g. Phát triển nông nghiệp bền vững là đảm bảo an ninh lương thực, tăng cải
tổ kinh tế khắc phục nghèo đói và tạo điều kiện tăng tốc công nghiệp hoá.
h. Phát triển bền vững được hiểu là giữ vững tốc độ tăng trưởng về sản xuất
lẫn y tế và giáo dục qua nhiều năm hay thập kỷ.
i. Phát triển nông nghiệp bền vững là cực đại hoá phúc lợi hiện tại không
làm giảm thiểu các phúc lợi ấy trong tương lai.
j. Phát triển nông nghiệp bền vững là hướng phát triển mà trong đó giá trị
của vốn thiên nhiên không bị suy giảm qua thời gian.
2. Những nguyên lý của canh tác bền vững
2.1 Quản lý đất bền vững
SVTH Đào Quang Thắng Trang 10
Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng GVHD Th.S Lê Bảo
Tài nguyên đất là điều kiện thiết yếu để trồng trọt. Nhu cầu ngày càng
tăng của con người về đất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác đang làm
nảy sinh những cạnh tranh và mâu thuẫn. Nếu muốn làm thoả mãn nhu cầu đòi
hỏi của con người một cách lâu bền, chúng ta phải giải quyết những mâu thuẫn
đó, và tìm cách sử dụng đất và các tài nguyên thiên nhiên khác một cách có hiệu
quả và hiệu suất hơn.
Mục tiêu là để làm cho đất được sử dụng theo những cách đảm bảo thu
được những lợi ích lâu bền lớn nhất. Cách để làm giảm thiểu các mâu thuẫn và
đạt được kết quả tốt nhất và sự lựa chọn thích hợp nhất là phải liên kết để phát
triển kinh tế và xã hội với vấn đề củng cố và bảo vệ môi trường. Hơn nữa trong
hoàn cảnh phải thoả mãn nhu cầu nuôi sống số dân đang tăng nhanh mà quỹ đất
trồng trọt, nguồn nước ngày càng cạn kiệt và chúng ta không được quyền mở
rộng trên những diện tích không phù hợp.
Quản lý đất bền vững tuỳ thuộc vào từng loại đất cụ thể. Ở những nơi đất
ổn định, phì nhiêu thì việc trồng cấy và quản lý canh tác sẽ theo phương thức
bền vững, bù đủ lượng dinh dưỡng trong các sản phẩm thu hoạch và cây trồng
mang theo. Còn những vùng đất xấu cần xác định những phương thức quản lý

nghiệp, những điều kiện để áp dụng phương thức quản lý phù hợp để phòng trừ
sâu bệnh hiệu quả nhất, bảo vệ thiên địch, những động vật ký sinh…Thực tế,
côn trùng cỏ dại và sinh vật hoang dã là những thành phần của tự nhiên của các
hệ sinh thái với những vai trò được quy định của chúng. Những loại hại này có
vai trò cần được đánh giá đúng và chỉ nên gọi là gây hỗn loạn khi chúng tranh
chấp thức ăn hoặc gây hại đến mức con người không chấp nhận được. Nguyên
nhân gây hại theo nhiều tài liệu chính là quá trình phá vỡ hệ thống sinh thái tự
nhiên. Một ví dụ thể hiện rõ nhất sự khác nhau giữa phương thức canh tác hiện
SVTH Đào Quang Thắng Trang 12
Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng GVHD Th.S Lê Bảo
tại và nông nghiệp bền vững là hiện tượng mất cân bằng trong hệ thống côn
trùng sâu hại mà hiện nay thế giới đang phải chịu hậu quả nặng nề: như dịch
châu chấu, dịch sâu róm, chuột hại…
Trong hệ thống sản xuất lương thực, việc thường sử dụng các hoá chất
tổng hợp chứng tỏ là dùng lượng đầu vào với năng lượng rất lớn cho hệ nông
nghiệp, và kèm theo cả những chi phí nhìn thấy và chi phí không thấy được của
nông dân và xã hội. Khái niệm phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM) truyền thống
là quản lý sâu bệnh dựa vào những tương tác giữa chúng với các cá thể khác và
môi trường.
Nếu tất cả đều sử dụng rộng rãi thuốc trừ sâu tổng hợp để bảo vệ cây
trồng thì sẽ gây hậu quả không tốt với môi trường, khả năng hồi phục của công
trùng, tính kháng thuốc, tác động có tính gây chết và nửa chết đối với sinh vật,
kể cả tác động đến con người. Những tác động này đang là mối quan tâm của
công chúng, mặt khác với nhu cầu ngày càng tăng của môi sinh sạch (không khí
sạch, nước sạch, các tập tính sống của động vật hoang dã) và thiên nhiên đẹp.
Rõ ràng xu hướng giảm sự phụ thuộc vào hoá chất trong sản xuất nông nghiệp
đang được xem là chiến lược đối với nông dân.
Chiến lược phòng trừ thông qua hệ thống trồng trọt.
Tạo điều kiện cho hoạt tính đất tốt về sinh học và dinh dưỡng (tăng
cường sự đa dạng dưới mặt đất).

sinh vật và tạo ra các sản phẩm mới.
Mặc dù nông dân đã tiến hành những kỹ thuật về công nghệ sinh học theo
nghĩa rất rộng (ví dụ như chọn tạo giống cây con để có những sản phẩm theo ý
muốn) từ hàng nghìn năm, và đến gần đây việc mở mã di truyền đã đưa ngành
khoa học này sang kỷ nguyên hoàn toàn mới. Công nghệ di truyền khác đáng kể
SVTH Đào Quang Thắng Trang 14
Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng GVHD Th.S Lê Bảo
so với các kỹ thuật công nghệ sinh học truyền thống vì người ta có thể tổ hợp
AND từ một loài khác để tạo ra một cơ thể mới (gọi là sinh vật biến đổi di
truyền – GMO). Liệu rằng công nghệ này có tương thích với nền nông nghiệp
bền vững không? Và nếu tương hợp thì sẽ theo phương thức nào? liệu có khơi
nguồn cho những cuộc tranh luận dài trong tiến trình phát triển nông nghiệp bền
vững. Sự chấp nhận sản phẩm và những rủi ro công nghệ liên quan đến an toàn
thực phẩm (ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, hàm lượng độc tố, ô nhiễm môi
trường di truyền…).
Công nghệ sinh học đáp ứng các cơ hội mới cho sự đối tác mang tính
toàn cầu giữa các nước giàu về kiến thức công nghệ này với các nước đang phát
triển giàu về tài nguyên sinh vật nhưng thiếu vốn và kiến thức để sử dụng các tài
nguyên đó. Điều quan trọng là kỹ thuật mới phải không được làm phá vỡ tính
tổng hoà về môi trường hoặc làm tăng thêm các mối đe doạ cho sức khoẻ. Nhân
dân phải nhận thức được những lợi ích và những rủi ro của công nghệ sinh học.
Ðó là một nhu cầu đòi hỏi đối với những nguyên tắc đã được thoả thuận quốc tế
về đánh giá rủi ro và quản lý mọi khía cạnh của công nghệ sinh học.
Công nghệ sinh học cần phải được phát triển nhằm nâng cao năng suất và
chất lượng lương thực thực phẩm và các sản phẩm chăn nuôi. Phát triển các loại
vacxin và kỹ thuật phục vụ cho việc phòng chống sự lan truyền của bệnh tật và
chất độc. Nâng cao sức chống chịu trong các điều kiện bất thuận, áp dụng các
kết quả của công nghệ sinh học để giảm thiểu nhu cầu sử dụng hoá chất trong
nông nghiệp. Ðóng góp làm màu mỡ cho đất và làm tăng thêm hiệu suất cho
những loài thực vật sử dụng các chất dinh dưỡng của đất, để làm sao cho nền

giải quyết được tận gốc vấn đề an ninh lương thực thì không thể bảo tồn được
tài nguyên đất, bảo vệ được rừng, không thể có những hệ canh tác bền vững vì
đó là những kế sinh nhai của người dân gắn với rừng, với đồng ruộng. Vì thế,
phương thức thực hiện trong phát triển nông thôn của Tổ chức Phát triển Canada
SVTH Đào Quang Thắng Trang 16
Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng GVHD Th.S Lê Bảo
(CIDA) đặt ra theo 2 hướng: bền vững về phương kế sinh sống và sự lành mạnh
của hệ sinh thái.
- Phương kế sinh sống bền vững: Có thể hiểu đây là tập hợp các hoạt
động để bảo tồn sự sống, tạo ra tài sản và những tiềm năng khác của con người.
- Hệ sinh thái lành mạnh: những tiêu chí của hệ sinh thái này tập trung
vào vấn đề sinh thái và xã hội nhằm tạo cho con người hoạt động theo phương
thức bền vững. Chính cách tiếp cận như vậy đã giúp xác định các chính sách
nông nghiệp đúng, thúc đẩy cộng đồng phát triển, bảo tồn hệ sinh thái.
Hai phương thức này là công cụ thúc đẩy phát triển nông thôn bền vững
thông qua nông nghiệp. Chính từ hoạt động của CIDA mà đã rút ra 5 nguyên tắc
chính trong phát triển nông thôn bền vững: (i) tạo ra những cơ hội cho người
nghèo; (ii) trao quyền cho các nước phát triển và dân của họ; (iii) xây dựng và
chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm; (iv) tăng cường mối quan hệ liên kết lẫn nhau và
(v) phải đạt được sự bình đẳng giới.
Kế sinh nhai của dân cư nông thôn phụ thuộc vào sự giàu có của tài
nguyên thiên nhiên bao gồm nước, đất, đa dạng sinh học. Nếu tỷ lệ đói nghèo
tăng lên cũng đồng nghĩa với sự đe doạ tính bền vững của nguồn tài nguyên
thiên nhiên có giới hạn. Tổ chức CIDA khuyến cáo nên hướng dẫn dân thực hiện
phương thức canh tác giảm thoái hoá đất, sử dụng nguồn nước hiệu quả và bảo
vệ đa dạng loài.
Tóm lại, tất cả những hoạt động trình bày trên đây tuy chưa đầy đủ và hệ
thống, song tất cả đều thoả mãn đồng thời 3 mục tiêu: kinh tế - môi trường – xã
hội. Ba mục tiêu này tương hỗ với nhau, bổ sung và điều khiển lẫn nhau, cũng
chính vì vậy mà phát triển bền vững là quá trình tổng hoà của nhiều quá trình

gọi là “hưu nhàn nông nghiệp” tức là nông nghiệp nghỉ ngơi, thư giãn là rất cần
SVTH Đào Quang Thắng Trang 18
Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng GVHD Th.S Lê Bảo
thiết, nhưng không nên xây dựng cơ ngơi đồ sộ, cao tầng theo kiểu kiến trúc đô
thị. Xây dựng các cơ sở nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn phải tôn trọng thiên nhiên,
hài hòa thiên nhiên và kiến trúc phù hợp với đặc điểm văn hóa, thẩm mỹ ở từng
vùng, cho dù có thiếu chút ít tiện nghi cũng là bình thường. Tại Đài Loan, các
điạ phương và nhà đầu tư đề xuất chính phủ sau khi duyệt đề án có thể cho vay
vốn, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ thông tin, tuyên truyền, quảng bá.
Về sản xuất giống và cung cấp các dịch vụ đầu vào, giải quyết tiêu thụ
sản phẩm là cần thiết. Nhưng không nên ôm đồm, tản mạn nhiều loại sản phẩm.
Cần tập trung chọn tạo, nhân giống, xây dựng thương hiệu một số cây giống,
con giống mà đô thị có ưu thế, có thể là các giống hoa, cây kiểng, các cảnh, phù
hợp với trình độ tay nghề, khí hậu, thổ nhưỡng và những đặc điểm sinh học để
tránh lai tạp. Đài Loan rất chú trọng sản xuất máy móc, công nghệ (dây chuyền),
các công cụ chuyên dùng, các loại dinh dưỡng, bảo vệ thực vật... nhằm đáp ứng
nhu cầu đa dạng và thiếu nguồn lao động trong sản xuất nông nghiệp nói chung,
ngành hoa kiểng nói riêng. Trong lĩnh vực thu hoạch, bảo quản, sơ chế, vận
chuyển cũng vậy, cần đi vào chuyên môn hóa và tranh thủ thời gian một cách tối
đa, nhất là việc tổ chức tiêu thụ các loại hoa cắt cành (lily, cúc, hồng, layơn,….).
Đài Loan có khoảng 13.000 ha trồng các loại hoa, cây cảnh, tổng doanh
thu ước đạt 500 triệu USD; do điều kiện sống ngày càng được nâng cao, nhu cầu
thưởng ngoạn hoa, cây kiểng, du lịch sinh thái ngày càng tăng lên, nên các sản
phẩm từ hoa, cây kiểng có đến 90% là tiêu thụ trong nước, xuất khẩu chỉ khoảng
50 triệu USD chủ yếu là hoa lan và một số loại hoa cắt cành. Đài Loan có nhiều
trung tâm, chợ đầu mối do chính phủ đầu tư, xây dựng cơ sở ban đầu và giao
cho các tổ chức trong hiệp hội hoa khai thác dưới hình thức công ty cổ phần.
Chợ hoa Đài Bắc rộng 4,6 ha, là một doanh nghiệp cổ phần. Cổ đông bao gồm
các nhà kinh doanh (60%), các nhà vườn, cơ sở sản xuất (40%) và kích thích
tiêu thụ nhiều sản phẩm bằng chính sách ưu đãi cho người bán buôn, các nhà

là những ngành sản xuất đòi hỏi nhiều vốn và kỹ thuật, đồng thời phải có một hệ
SVTH Đào Quang Thắng Trang 20
Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng GVHD Th.S Lê Bảo
thống dịch vụ cao cấp mới có thể vận chuyển những mặt hàng này ra nước
ngoài. Một thí dụ khác là về khoai tây, vốn là một loại "thực phẩm bình dân" của
thế giới, giá cả bình thường, nhưng do Hà Lan tạo được giống khoai tây có kích
cỡ đều đặn, vỏ nhẵn bóng được coi là " lương thực thứ hai " được thế giới ưa
chuộng, từ đó có thị trường xuất khẩu ổn định, nhất là cung cấp cho nhu cầu chế
biến thức ăn nhanh.
- Đổi mới phương thức sản xuất, để tăng sức cạnh tranh. Hà Lan dùng
vốn và công nghệ cao để thay thế có hiệu quả nguồn quỹ đất hiếm hoi, sử dụng
nhà kính để sản xuất cà chua, dưa, ớt quanh năm, tiết kiệm đất, tăng hiệu suất
đất. Phương thức sản xuất gà đẻ trứng, lợn thịt cũng được cải tiến để bảo vệ môi
trường, đảm bảo yêu cầu sức khoẻ động vật và và chất lượng quốc tế, có hiệu
quả cao.
- Tăng giá trị gia tăng nhờ vào chế biến sâu.
Trải qua mấy trăm năm cải tiến các công nghệ truyền thống về chế biến
pho mát, bơ, sữa tạo được uy tín quốc tế. Công nghệ chế biến ca cao, ca phê từ
thời kỳ thực dân vẫn còn phát huy tác dụng trong công nghiệp chế biến hiện nay.
Nhiều loại nguyên liệu không sản xuất được hoặc thiếu thì dựa vào nhập khẩu,
thông qua chế biến sâu, đã vươn ra chiếm lĩnh thị trường thế giới với giá trị gia
tăng rất lớn.
V. Những yêu cầu về phát triển nông nghiệp trong tương lai.
Đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo
hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn hiệu quả và bềnh vững, có
năng suất, chất lượng cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa
học kỹ thuật công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
- Đưa năng suất và chất lượng sản phẩm
nông nghiệp lên một mức cao hơn, tăng mức thu nhập cho người nông dân,
SVTH Đào Quang Thắng Trang 21

thành hai mùa rỏ rệt: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 9, còn lại là mùa mưa. Nhiệt
độ trung bình là 25,6
0
C, lượng mưa trung bình hằng năm là 1.992mm, số giờ
nắng trung bình hằng năm là 2.198 giờ, độ ẩm không khí trung bình hằng năm là
82%, hướng gió thịnh hành là Đông bắc - Tây nam, bảo thường xuất hiện từ
tháng 7 đến tháng 11 hàng nặm, cấp bảo lớn nhất lên đến 11, 12. Về sông ngòi
có sông Hàn, sông Cẩm Lệ, Túy Loan, Vĩnh Điện, Cu Đê. Tổng trử lượng nước
trên 11 tỷ m
3
.
2. Tài nguyên thiên nhiên.
2.1 Tài nguyên đất
Thành phố có các loại đất khác nhau như: Đất xám bạc màu, đất xám, đất
đen, đất đỏ vàng, đất mùn đỏ vàng, đất cồn các ven biển, đất mặn, đất phèn, đất
phù sa... Trong đó quan trọng nhất là nhóm đất phù sa ở đồng bằng ven biển
thích hợp với trồng lúa, trồng rau và hoa quả ven đô; đất đỏ vàng đồi núi thích
hợp với trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn
nuôi gia súc và kết cấu vững chắc phục vụ xây dựng các cơ sở công trình hạ
tầng.
Tổng diện tích của thành phố là 125.654,37 ha, chia theo các loại đất có:
đất nông nghiệp 9.235,56 ha, đất lâm nghiệp 60.989,75 ha, đất chuyên dùng
42.909,38 ha, đất ở 5.561,35 ha, đất chưa sử dụng 6.958,33 ha
2.2 Tài nguyên nước.
* Biển, bờ biển: Đà Nẵng có bờ biển dài khoản 30 km, có vịnh đà nẵng
nằm chắn bởi sườn núi Hải Vân và Sơn Trà, mực nước sâu, thuận lợi cho việc
xây dựng các cảng biển lớn và các cảng chuyển dùng khác. Đà nẵng nằm trên
tuyến đường biển quốc tế nên rất thuận lợi cho việc giao thông đường thủy.
Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km
2

ha.
Rừng ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở phía tây huyện Hòa Vang, một số ít
ở quận Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngủ Hành Sơn. Tỷ lệ che phủ là 49,6%, trữ lượng
gổ khoảng 3 triệu m
3
, phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp.
Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa về kinh tế còn có ý nghĩa nghiên cứu
khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch. Thiên nhiên đã ban
tặng cho thành phố nhiều khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồn
SVTH Đào Quang Thắng Trang 24
Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng GVHD Th.S Lê Bảo
thiên nhiên Bà Nà, khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và khu văn hóa lịch sử môi
trường Nam Hải Vân
2.4 Tài nguyên khoáng sản.
Thành phố có các loại tài nguyên như:
∗ Cát trắng: Tập trung ở Nam Ô, trữ lượng khoảng 5 triệu m
3
.
∗ Đá hoa cương: ở Non Nước, nhưng để bảo vệ khu di tích nổi tiếng
Ngũ Hành Sơn nên loại đá này đã bị cấm khai thác.
∗ Đá xây dựng: đây là loại đá khoáng sản chủ yếu của thành phố, tập
trung chủ yếu ở khu vực phía tây, bắc và tây nam thành phố.
∗ Đá phiến lợp: tập trung chủ yếu ỏ thôn Phò Nam, xã Hòa Bắc. Đây
là loại đá filit màu xám đen, có thể tách ra từng tấm với kích thước
(0.5x10)x0.3-0.5m. Trữ lượng khoảng 500.000m
3
.
∗ Cát, cuội sỏi xây dựng: cát lòng sông Vĩnh Điện, Túy Loan, sông
Yên, Cầu Đỏ, Cẩm Lệ, Cu Đê, cuội sỏi Hòa Bắc, Hòa Liên.
3. Tình hình kinh tế - xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status