Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ Nghĩa
NSNN Ngân sách Nhà nước
CSVC Cơ sở vật chất
BHYT Bảo hiểm y tế
BHXH Bảo hiểm xã hội
HCSN Hành chính sự nghiệp
MTEF Khuôn khổ chi tiêu trung hạn
NCKH Nghiên cứu khoa học
SGK Sách giáo khoa
TCC Tài chính công
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TW Trung Ương
UBND Ủy ban nhân dân
XHH Xã hội hóa
XDCB Xây dựng cơ bản
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “ dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và đến năm 2020 “ Cơ bản trở thành
một nước công nghệ hiện đại”, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “ Giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” và “Muốn tiến hành CNH-HĐH
thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục- đào tạo, phát huy nguồn lực con
người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đầu tư cho giáo dục và
đào tạo trong những năm qua không ngừng tăng lên đã giúp cho giáo dục
đào tạo đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào công cuộc phát
triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, đầu tư tăng nhưng việc thực
Giáo dục được quan niệm như một hoạt động đặc thù riêng có ở xã
hội loài người với mục đích rõ ràng là duy trì phát triển xã hội loài người
như một thực thể có tổ chức- dù chưa còn hoàn thiện như ngày nay.Thực
chất đó là quá trình hình thành và nâng cao phẩm chất, kiến thức, kỹ năng,
khả năng học tập nhận thức của con người qua học tập.
Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển bền vững cũng phải xây
dựng và phát triển con người, đặc biệt là trong thời kì công nghiệp hoá hiện
đại hoá, khi kinh tế tri thức đang trở thành một xu thế thời đại.Chất lượng
cuộc sống được đánh giá qua các tiêu chí thu nhập, giáo dục, sức khoẻ và
dinh dưỡng, mức nghèo khổ,…Vì vậy giáo dục là một trong những mục
đích phát triển kinh tế.
Giáo dục được xem là hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực
tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế- xã
hội, đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay
chậm của một quốc gia.Nghị quyết trung ương 4 khoá VII nêu rõ: “cùng
với khoa học công nghệ, GD-ĐT là quốc sách hàng đầu “ và báo cáo Chính
trị của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng tại Đại hội lần thứ IX Đảng
Cộng Sản Việt Nam khẳng định : “Phát triển giáo dục- đào tạo là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH- HĐH, là điều kiện để
phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.Giáo dục là tiên đề, là yếu tố hàng đầu
thuộc năng lực nội sinh, có tầm quan trọng hơn so với các hệ thống yếu tố
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
khác như tài nguyên thiên nhiên, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật.Giáo dục là
nền tảng phát triển khoa học công nghệ. Có kiến thức mới làm chủ được
công nghệ và làm chủ được chính mình không phải phụ thuộc vào bên
ngoài. Nâng cao chất lượng giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu
nhằm tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ xây dựng chất lượng
giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ
dục Việt Nam.
Như vậy, giáo dục không chỉ tạo ra một lớp người lao động mới
cho xã hội mà còn thay đổi bộ mặt chính trị xã hội thông qua mục đích tổ
chức của nền giáo dục, các chính sách cho giáo dục thể hiện tính nhân
văn, tính đại chúng hay đẳng cấp của giáo dục.
- Chức năng tư tưởng văn hoá: Giáo dục đào tạo không chỉ tạo ra
con người phát triển về trí tuệ, kỹ năng lao động mà còn đảm bảo cho
việc hình thành một hệ tư tưởng, hình thành một nếp sống mới trên nền
tảng của một nền văn hóa mới, nhân sinh quan mới.
Xét về góc độ lịch sử văn hoá chỉ được hình thành thông qua một
quá trình sáng tạo lâu dài, xây dựng và truyền kinh nghiệm từ đời này
sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong quá trình này không
thể thiếu giáo dục đào tạo, đó chính là truyền lại các giá trị văn hoá. Sự
sáng tạo trong quá trình giáo dục đào tạo làm phong phú hơn những giá
trị văn hóa vốn có, làm nảy sinh những giá trị văn hoá mới.
1.1.2 Hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm Giáo chính quy và
Giáo dục thường xuyên.
Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân
bao gồm:
• Giáo dục mầm non có nhà trẻ mẫu giáo
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
• Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông
• Giáo dục dạy nghề có trung cấp chuyên nghiệp và dạy
nghề
• Giáo dục đại học và sau đại học đào tạo trình độ Cao
đẳng, trình độ Đại học, trình độ Thạc sỹ, trình độ Tiến
sỹ.
năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước” ( Theo
Luật NSNN )
1.2.1.2 Bản chất
- Về phương diện pháp lý: NSNN là một đạo luật dự trù các khoản
thu, chi bằng tiền mặt của Nhà nước trong một thời gian nhất định thường
là một năm.
- Về bản chất kinh tế: NSNN là hệ thống những mối quan hệ kinh
tế giữa Nhà nước với xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động
và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức
năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác:
+ Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các doanh nghiệp
+ Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với hộ gia đình
+ Quan hệ kinh tế với cá nhân trong và ngoài nước gắn liền
với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách.
-Về tính chất: NSNN là bảng tổng hợp các khoản thu, chi của Nhà
nước, là mức động viên các nguồn tài chính vào tay Nhà nước, là khoản
cấp phát của Nhà nước cho các nhu cầu tiêu dùng và đầu tư phát triển, đó
cũng là đóng góp theo nghĩa vụ hay tự nguyện của mỗi thành viên trong
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
xã hội cho Nhà nước và Nhà nước cấp phát kinh phí đầu tư cho mỗi thành
viên trong xã hội.
1.2.2 Vai trò của NSNN với giáo dục đào tạo
Phát triển GD- ĐT là một trong những động lực quan trọng nhất
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá, là điều kiện tiên quyết
để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Đặc biệt trong bối cảnh thế giới đang
bước sang thời đại mới- thời đại trí tuệ và trong môi trường toàn cầu hóa,
trong đó, các yếu tố tri thức và thông tin trở thành những yếu tố hàng đầu
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhằm thực hiện phuơng châm “ Nhà
nước và nhân dân cùng chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo”,
đồng thời là nguồn chính để phát huy nguồn viện trợ và cho vay của nước
ngoài để đầu tư cho giáo dục đào tạo . Lợi ích của việc đầu tư cho giáo
dục đem lại không chỉ cho những người trực tiếp được hưởng giáo dục
mà còn cho cả xã hội nói chung. Tuy nhiên trong thực tế các cá nhân hầu
như không tính đến những tác động này trong việc lựa chọn quyết định có
nên đầu tư vào giáo dục hay không. Nếu như trong trường hợp họ có biết
tác động tích cực của giáo dục song thiếu sự khuyến khích và tạo điều
kiện của Nhà nước để đi đến quyết định đầu tư. Như vậy, nếu không có
sự đầu tư của NSNN để hỗ trợ và khuyến khích thì mức đầu tư của các tổ
chức cá nhân trong xã hội cho sự phát triển giáo dục sẽ thấp hơn khả năng
sẵn có.
- Thứ ba, NSNN đầu tư cho giáo dục đào tạo sẽ đảm bảo từng bước
ổn định đời sống của cán bộ công nhân viên làm trong nghành giáo dục.
NSNN ngoài chi trả tiền lương chính cho đội ngũ giáo viên giảng dạy còn
dành một phần để ưu đãi riêng cho nghành giáo dục như phụ cấp giảng
dạy, phụ cấp thâm niên, phụ cấp trách nhiệm , phụ cấp dạy thêm giờ,…
- Thứ tư, NSNN có vai trò điều phối cơ cấu giáo dục toàn nghành.
Thông qua định mức chi ngân sách giáo dục đào tạo hàng năm đã góp
phần định hướng sắp xếp cơ cấu các cấp học, mạng lưới trường. Tập
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trung NSNN cho những chương trình mục tiêu quốc gia như chốn mù
chữ, phổ cập giáo dục, xây dựng hệ thống trường dân tộc nội trú, khuyến
khích phát triển giáo dục ở vùng núi và dân tộc ít người, tăng cường cơ sở
vật chất cá trường học,…
- Thứ năm, đầu tư từ NSNN cho giáo dục nhằm đảm bảo công bằng
xã hội trong giáo dục. Nếu giáo dục được cung cấp hoàn toàn theo cơ chế
thị trường không có sự đầu tư từ NSNN thì bộ phận dân cư không có khả
trường học, phòng học, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, thư viện,
công sở làm việc và mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho công tác
giảng dạy học tập và nghiên cứu khoa học ở các cơ sở giáo dục đào tạo.
- Chi NSNN cho CTMT cho quốc gia về giáo dục nhằm thực hiện
những mục tiêu cụ thể có tính cấp bách trong phát triển nền giáo dục quốc
dân ở từng thời kỳ. CTMT quốc gia về giáo dục thường được thực hiện
bao gồm: Phổ cập giáo dục, xoá mù chữ, hỗ trợ giáo dục cho những vùng
miền có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn như: Vùng sâu,
vùng xa, biên giới, hải đảo; tăng cường CSVC như xoá phòng học cấp 4,
phòng học ca 3, tăng cường chất lượng và chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, giáo
viên; đổi mới chương trình, nội dung SGK…
1.3 Cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục và đào tạo.
1.3.1 Khái niệm cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục và đào tạo
Quản lý NSNN là việc sử dụng NSNN làm công cụ quản lý hệ
thống xã hội thông qua việc sử dụng những chức năng vốn có của nó.
Quản lý NSNN là việc làm cần thiết gắn với việc chi NSNN nhằm tạo ra
những khoản chi đúng mục đích và đạt hiệu quả cao.
Cơ chế quản lý NSNN là hệ thống các nguyên tắc, các hình thức và
phương pháp quản lý điều hành NSNN trong từng giai đoạn phát triển
kinh tế. Cơ chế quản lý NSNN bao gồm các cơ chế thu, chi ngân sách,
cân đối ngân sách, cấp phát ngân sách. Yêu cầu của cơ chế quản lý NSNN
trong nền kinh tế thị trường là ưu tiên sử dụng NSNN để thực hiện những
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nhiệm vụ của Nhà Nước, những công việc mà thị trường không thể thực
hiện hoặc không thể giao cho thị trường thực hiện.
1.3.2 Nội dung cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo.
1.3.2.1 Cơ chế phân cấp ngân sách.
Trong cơ chế quản lý NSNN, cơ chế phân cấp ngân sách có
vị trí rất quan trọng, thể hiện mối quan hệ phân cấp, phân quyền, phối hợp
biện, làm thay đổi của chính quyền cấp trên. Nhờ đó mà sự phân định
trách nhiệm, quyền hạn trong quản lý NSNN một cách rõ ràng hơn và tọa
ra cac điều kiện cần thiết cho việc nâng cao hiệu quả quản lý ở lĩnh vực
này.
1.3.2.2 Cơ chế lấp dự toán và phân bổ NSNN cho giáo dục đào
tạo
* Căn cứ để lập kế hoạch phân bổ NSNN
Căn cứ để lập kế hoạch phân bổ NSNN cho giáo dục đào tạo:
- Đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước,
nhiệm vụ công tác được giao trong năm kế hoạch.
- Luật NSNN và thông tư ngân sách hàng năm của Bộ tài chính.
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát
triển nghành giáo dục, thông tư hướng dẫn của Bộ giáo dục và đào
tạo.
- Kế hoạch phân bổ ngân sách năm trước.
- Những nhiệm vụ cụ thể của nghành giáo dục và đào tạo.
- Định mức phân bổ ngân sách cho giáo dục đào tạo.
- Các quy định về phân cấp quản lý ngân sách trong nghành giáo
dục.
* Công tác lập dự toán và phân bổ NSNN:
Trình tự lập dự toán ngân sách và phân bổ NSNN hằng năm được
thực hiện như sau:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
i) Trước ngày 31 tháng 5, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị về
việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội và dự toán NSNN
năm sau.
ii) Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trước ngày 10
tháng 6, Bộ tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn về yêu cầu, nội
dung, thời hạn nộp dự toán NSNN và thông báo số kiểm tra về dự
ngân sách TW hàng năm; dự toán điều chỉnh NSNN trong trường
hợp cần thiết. Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phân bổ Ngân
sách TW năm sau trước ngày 15 tháng 11 năm trước.
vii) Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội về dự toán NSNN, phân bổ
ngấn sách TW, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tỷ lệ
phần trăm (%) phân chia đối với các khoản thu phân chia, Thủ
tướng Chính phủ giao nhiệm vụ thu, chi cho từng Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở TW,
nhiệm vụ thu, chi, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia đối với các khoản
thu phân chia và mức bổ sung từ ngân sách TW cho từng tỉnh,
thành phố trực thuộc TW. Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách
được cấp trên giao, UBND các cấp có trách nhiệm lập dự toán ngân
sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách cấp mình trình
HĐND cùng cấp quyết đingj và báo cáo cơ quan hành chính nhà
nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp.
HĐND cấp tỉnh quyết định dự toán ngân sách địa phương,
phân bổ ngân sách cấp tỉnh năm sau trước ngày 10 tháng 12 năm
trước. HĐND cấp dưới quyết định dự toán ngân sách địa phương,
phân bổ ngân sách cấp tỉnh năm sau trước ngày 10 tháng 12 năm
trước. HĐND cấp dưới quyết định dự toán ngân sách địa phương,
phân bổ ngân sách năm sau của cấp mình chậm nhất là mười ngày
kể từ ngày HĐND cấp trên trực tiếp quyết định dự toán và phân bổ
ngân sách.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
viii) Sau khi được Thủ tướng Chính phủ, UBND giao dự toán ngân sách,
các cơ quan Nhà nước ở TW và địa phương, các đơn vị dự toán có
trách nhiệm phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử
dụng ngân sách trực thuộc, đảm bảo đúng với dự toán ngân sách
được giao về cả tổng mức, chi tiết theo từng lĩnh vực chi, đồng thời
có trách nhiệm đề ra những biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo hoàn thành
tốt nhiệm vụ chi ngân sách được giao, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí,
chống tham ô, chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật tài chính.
Trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản của Nhà
nước theo đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức và dự toán được
giao do thủ tướng cơ quan sử dụng ngân sách chịu trách nhiệm.
Ngoài các cơ quan tài chính, trong Luật NSNN cũng quy định
nhiều cơ quan khác có trách nhiệm giám sát việc thực hiện NSNN như:
- Bộ kế hoạch và đầu tư phối hợp với Bộ tài chính và các Bộ,
nghành hữu quan kiểm tra, đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư các
công trình công cộng xây dựng cơ bản.
- Ở cấp địa phương, HĐND giám sất việc thực hiện ngân sách ở
cấp mình.
- Chính phủ kiểm tra việc thực hiện NSNN. ĐỊnh kỳ, Chính phủ
báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, UBND báo cáo Thường cụ
HĐND về tình hình thực hiện NSNN, các dự án và các công trình
quan trọng quốc gia, các chương trình phát triển kinh tê- xã hội, các
dự án và công trình xây dựng cơ bản quan trọng khác.
1.3.2.4 Kế toán, kiểm tra và quyết toán NSNN
* Các nguyên tắc phải đảm bảo khi thực hiện nguyên tắc quyết
toán ngân sách và báo cáo quyết toán ngân sách.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại
báo cáo đó cho cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo đúng chế độ
đã quy định.
- Về số liệu quyết toán NSNN:
+ Số quyết toán thu NSNN là số thu đã thực nộp hoặc đã hạch toán
thu qua NSNN qua Kho bạc Nhà nước.
+ Số quyết toán chi NSNN là số chi đã thực thanh toán hoặc đã
toán đã được duyệt. Lập quyết toán chi Ngân sách của đơn vị mình
gửi cơ quan quản lý cấp trên.
Đối với các dự án đầu tư xây dựn cơ bản, khi kết thúc năm ngân
sách, chủ đầu tư phải lập báo cáo quyết toán tình hình sử dụng vốn
ngân sách trong năm, khi dự án hoàn thành phải lập báo cáo quyết
toán công trình theo quy định của pháp luật.
Số liệu quyết toán phải được đối chiếu và được Kho bạc Nhà nước
nơi giao dịch xác nhận.
iv) Cơ quan tài chính các cấp ở địa phương thẩm định quyết toán
chi Ngân sách của các đơn vị cùng cấp và quyết toán ngân sách cấp
dưới, tổng hợp, lập quyết toán ngân sách địa phương trình UBND
cung cấp để UBND xem xét trình HĐND cùng cấp phê chuẩn, báo
cáo cơ quan hành chính Nhà nước và cơ quan tài chính cấp trên
trực tiếp.
v) Bộ tài chính thẩm định quyết toán chi ngân sách của Bộ giáo
dục và các cơ quan liên quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở TW
và quyết toán ngân sách địa phương, tổng hợp, lập quyết toán
NSNN trình Chính phủ.
vi) Cơ quan kiểm toán Nhà nước thực hiện việc kiểm toán, xác
định tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán NSNN các
cấp, cơ quan, đơn vị có liên quan theo quy định của pháp luật.
vii) HĐND cấp tỉnh phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương
chậm nhất 12 tháng sau khi năm ngân sách kết thúc, HĐND cấp
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tỉnh quy định thời hạn phê chuẩn quyết toán ngân sách của HĐND
cấp dưới nhưng chậm nhất không quá 6 tháng sau khi năm ngân
sách kết thúc.
viii) Chính phủ phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương, lập
và trình Quốc hội quyết toán NSNN, quyết toán các dự án và công
2002-2007
Nguồn: Thống kê giáo dục và đào tạo, Bộ giáo dục và đào tạo.
Năm học 2006-2007, số lượng trường học mầm non, phổ thông đều
tăng so với năm học trước. Theo số liệu thống kê, cả nước có 39.220
trường học mầm non và phổ thông( tăng 980 so với năm học 2005-2006 và
tăng 3.345 trường so với năm học 2002-2003 ). TCCN có 269 trường. Năm
2007 một số Bộ, nghành và địa phương đã hoàn chỉnh mạng lưới trường
TCCN trên từng vùng, miền cụ thể theo hướng đa dạng hoá các lạo hình,
phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của nghành, địa phương.
Mạng lưới các trường đại học và cao đẳng tiếp tục được củng cố mở
rộng theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Năm học
2006-2007, cả nước đã có 183 trường cao đẳng (tăng 29 trường so với năm
học 2005-2006 và tăng 62 trường, tức tăng 51,2% so với năm 2002-2003)
và 139 trường đại học (tăng 16 trường so với năm 2005-2006 và tăng 58
trường, tức 71,6% so với năm 2002-2003 )
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Cấp học
Năm học
2002-2003 2003-2004 2004-2005 2005-2006 2006-2007
Mầm non 9.715 10.104 10.453 11.009 11.509
Tiểu học 14.163 14.346 14.518 14.688 14.839
THCS 9.593 9.873 10.081 10.275 10.401
THPT 2.055 2.140 2.224 2.268 2.355
TCCN 268 286 285 284 269
Cao đẳng 121 127 137 154 183
Đại học 81 87 93 123 139
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Quy mô học sinh: Đến năm 2006-2007, tổng số học sinh, sinh viên
trong cả nước là 21.574.172 trong đó, số trẻ em mầm non là 3.147.252 triệu
em. Số học sinh tiểu học là 7.041.312 triệu em, giảm 280.427 học sinh so