Chơng I: cơ sở lý luận về cơ chế quản lý ngân sách nhà
nớc đối với lĩnh vực y tế
1.1.Vai trò, đặc điểm của y tế
1.1.1. Vai trò của y tế
Khái niệm về y tế: y tế là các hoạt động phòng, chữa bệnh và chăm sóc sức
khoẻ con ngời nh: các hoạt động khám và điều trị các bệnh; các hoạt động phòng
bệnh, điều dỡng, chăm sóc sức khoẻ và thẩm mỹcủa con ngời. Mục tiêu của ngành
y tế đợc xác định là tập trung vào bảo vệ sức khoẻ ngời dân thông qua các hoạt
động phòng chống và kiểm soát hữu hiệu các bệnh không truyền nhiễm cũng nh
các bệnh truyền nhiễm đồng thời đảm bảo sự công bằng trong việc tiếp cận các
dịch vụ y tế chất lợng cao ( đặc biệt là đối với các nhóm dễ bị tổn thơng nh trẻ em,
ngời nghèo)
Đối tợng chăm sóc của y tế la con ngời - trung tâm của quá trình phát triển ở
mỗi quốc gia. Vì vậy y tế có tác động to lớn tới sự phát triển kinh tế- xã hội của đất
nớc.
1.1.1.1 Vai trò của y tế với sự phát triển kinh tế
Thứ nhất, con ngời sử dụng công cụ lao động tác động tới đối tợng lao động
nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của mình. Để đạt đợc năng suất
lao động cao, bản thân ngời lao động phải luôn học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm nâng
cao tri thức, kỹ năng kỹ ảo ở mọi lĩnh vực. Muôn thực hiện đợc điều đó, trớc tiên
con ngời phải có sức khoẻ cả về mặt thể cấht lẫn tinh thần. Hệ thống y tế với hai
dịch vụ chủ yếu là phòng và chữa bệnh cho con ngời giữ vai trò quyết định tới chất
lợng sức khoẻ của mọi thành viên và xã hội. Một hệ thống y tế tốt sẽ đảm bảo cho
ngời dân có sức khoẻ tốt, trí tuệ minh mẫnvà qua dó góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế. Bởi chính con ngời tạo ra của cải vật chất làm phát triển nền kinh tế của
đất nớc. Một khi con ngời có sức khoẻ, có trí tuệ thì sẽ tạo ra nhiều của cải cho xã
1
hội hơn, làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển hơn. Do đó y tế với mục tiêu
chính là chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của mọi ngời dân giữ vai trò quan trọn gián
tiếp đến sự phát triển kinh tế của quốc gia.
Thứ hai, y tế có vai trò rất quan trọng trong việc phòng và chống bệnh dịch,
cơ bản cho phát triển xã hội trong tơng lai. Trẻ em hôm nay à thế giớ ngày mai.
Với những chính sách y tế cung cấp nên tuổi thọ con ngời ngày càng đợc nâng cao,
con ngời có điều kiẹn để phát triển ngày càng hoàn thiện hơn.
Ngày nay khi xem tới sự phát triển nói chung của một quốc gia, ngời ta
không chỉ xem xét tới sự phát triển kinh tế nh tổng sản phẩm quốc nội mà còn
quan tâm nhiều tới các chi tiêu phát triển con ngời nh chỉ tiêu HDI, chỉ số Gini.
Điều này là hoàn toàn đúng đắn bởi vì một quốc gia chỉ phát triển kinh tế mà
không chú ý đến con ngời xã hội thì sự phát triển của quốc gia đó không thể coi là
sự phát triển bền vững. Đến một lúc nào đó, quốc gia đó sẽ phải đối mặt với những
khủng hoảng xã hội nghiêm trọng. Hiện nay tuổi thọ trung binhg của ngời dân các
quốc gia ngày càng đợc cảit thiện. đạt dợc kết quả đó công đầu tiên phải kể đến là
ngành y tế thông qua hoạt động phòng bệnh và chữa bệnh.
Cùng với một số lĩnh vực lkhác nh: giáo dục và văn hoá y tế luôn là sự quan
tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội nói chung sẽ đợc đảm bảo.
Nhờ đó ngời dẫn sẽ có đợc cuộc sống lành mạnh, có cảm giác an toàn và tin tởng
vào chế độ xã hội.
1.1.2. Đặc điểm của y tế:
1.1.2.1. Tính chất vừa là hàng hoá công cộng vừa là hàng hoá t nhân
Khác với các ngành sản xuất vvật chất và cung cấp dịch vụ khác, sản phẩm
dịch vụ y tế vừa mang tính chất hàng hoá công cộng vừa mang tính chất hoàng hoá
t nhân. Sản phẩm dịch vụ y tế mang tính chất hàng hoá công cộng vì nó có đầy đủ
tính chất của hang hoá công cộng là không thể loại trừ. Đặc điểm không muốn laọi
trừ thể hiện ở chỗ khi một dịch vụ y tế cong công đợc hởng thụ kết quả đó. Việc
3
tăng thêm chi phí hoặc tăng lên rấ ít nhng không làm giảm đi quyền đợc thụ hởng
đầy đủ lợi ích từ chơng trình của những ngời khác trong công cộng.
Đặc điểm không thể loại trừ thể hiện ở chỗ không thể loại trừ bất kỳ ai trong
cộng đồng không đợc thụ hoiửng các kết quả của chờn trình, hay nói cách khác
việc thụ hởng các dịch vụ y tế công cộng không bị phân chia theo khẩu phần. Đứng
trên giác độ kinh tế học thì chi phí cận biên của việc cung cấp dịch vụ y tế công
1.1.2.2. Tính nhân đạo
Ngành y tế sử dụng các phơng tiện khoa học kỹ thuật để can thiệp vào việc
bảo vệ, cứu chữa con ngời. ở các nớc có nền kinh tế phát triển thì sự can thiệp bằng
các phơng tiện kỹ thuât vào con ngời ngày càng nhiều hơn. nếu ngành y tế không
mang tính nhân đạo, không có tinh thần trách nhiệm coa thì dễ gây tử vong cho
con ngời. hồ Chủ Tịch dã nhắc nhở cán bộ ngành y tế nớc ta là lơng y nh từ mẫu
đối với ngời bệnh. Đây không chỉ là trách nhiệm của ngành y tế đối với ngời bệnh
mà còn là truyền thống, nhân cách của nời thầy thuốc Việt nam .
1.1.2.3.Tính công bằng và hiệu quả
Công bằng trong chăm sóc sức khoẻ không có nghĩa là ngang bằng công
bằng có nghĩa là ai cũng có nhu cầu nhiều hớn, còn ngang bằng có nghĩa là mọi
ngời có nhu cầu ít hay nhiều hơn, có nhu cầu chăm sóc sứckhoẻ nhiều hơn nhng
lại ít khả năng chi trả. Nh vậy, nói đến công bằng trong y tế tức là phải có sự u tiên
cho vùng ngheo, ngời nghèo, ngơig có công với cách mạng, cho các đối tợng thiệt
thòi. Quan điểm công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nói lên quyền của ngời
nghèo, ngời có công với nớc phải đợơc chăm sóc, không phải là lòng thơng hại,
không phải là sự ban ơn. Công bằn thờng đi đôi với đạo đức trong y tế, đòi hỏi
trách nhiệm cao của cán bộ y tế đối với ngời bệnh, ứng xử với ngời nghèo cũng nh
với ngời giàu.
Thực hiện công bằng trong chăn sóc sức khoẻ, ngời dân đợc tạo điều iện để
tiếp cận, sử dụng các dịch vụ y tế cơ bản ngay tại cơ sở và coi đó là quyền của ngời
5
dân về chắn sóc sức khoẻ. Ngành y tế và các cơ quan chức năng đa nghiên cứu và
xây dựng các chỉ tiêu trong chắm sóc sức khoẻ cần đạt đợc trên các mặt khám chữa
bênh, vệ sinh phòng bệnh, chă sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và phấn đấu thực hiện
nhằm đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ
y tế.
1.2. NSNN với việc đảm bảo y tế
1.2.1 Khái niệm và bản chất của NSNN
Trong hệ thống tài chính thống nhât, NSNN là khâu tài chính tập trung giữ
1.2.2. NSNN với sự phát triển y tế
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển
kinh tế xã hội. Vai trò này đợc bắt nguồn từ vai trò của hoạt động y tế đối với
con ngời yếu tố quyết định tới quá trình phát triển đất nớc. Chất lợng, hiệu quả
của hoạt động y tế ảnh hởng trực tiếp đến sức khoẻ con ngời. Vai trò của NSNN
đối với sự nghiệ y tế thể hiện:
- Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là một trong những công cụ quản lý vĩ mô
nền kinh tế của nhà nớc đối với chiến lợc phát triển kinh tế xã hội.
Thông qua việc xác định cơ cấu ty trọng các khoản chi, Nhà nớc tham gia
điều chỉnh hớng dẫn các hoạt động y tế theo đúng chủ trơng, đờng lối của
nhà nớc đề ra.
- Chi NSNN giúp chúng ta có một nền y tế toàn diện với cơ cấu thích hợp giã các
ngành ( y tế dự phòng và khám cha bệnh, y học cổ truyền và y học hiện đại ) y tế
ngoài công lập với mục đích chính chỉ quan tâm đến những dịch vụ mang lại
nhiều lợi ích mà không đặt vấn đề phát triển các chuyên ngành theo yêu cầu.
- Thông qua chi NSNN cho sự nghiệp y tế có thể tiến hành kiểm tra việc sử dụng
các khoản chi đó cho các hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Từ đó phát huy
7
hiệu quả của đồng vốn ngân sách và tạo điều kiện cho ngành y tế thực hiện các
mục tiêu của mình.
- Lỹnh vực y tế là lĩnh vực có phạm vi hoạt động, quy mô lớn và ảnh hởng trực
tiếp đến sức khoẻ nhân dân. Các khoản chi từ NSNN sẽ giúp cho việc hoạch định
phơng hơnứg phát triển kỹ thuật y tế. Trong khi đó y tế ngoài công lập chạy theo
lợi nhuân nên dẫn tới hai khuynh hớng hoặc là chỉ chú trọng đến kỹ thuật cao với
giá thành đắt mà ngời nghèo không thể tiếp cận đợc hoặc chỉ dừng lại ở kỹ thuật
cũ để thu tiền trớc mắt mà không phát triển những kỹ thuật hiện đại.
- Chi NSNN cho y tế giúp cho việc tập chung nhân lực và tài lực để giải quyết
những vấn đề cấp bách, cần thiết của những hậu quả do thiên tai, thảm hoạ gây ra.
Những vấn đề nói trên chỉ nhà nớc mới có thể đầu t vào lĩnh vực không sinh lợi
này nhng lại có ảnh hởng sau rộng đến chiến lợc và chính sách quốc gia.
Thứ hai, Nhà nớc cần tham gia vào thị trờng y tế là đảm bảo tính chất công
bằng và hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ y tế. Trong nền kinh tế thị trờng có sự
phân hoá giàu, nghèo dẫn tới sự phân phối không công bằng giữa các tầng lớp thu
nhập trong xã hội. Ngời giàu có khả năng thanh toán cao nên đợc hởng nhiều dịch
vụ y tế hơn, ngợc lại ngời nghèo không đủ khả năng tài chính chi trả nên nhiều khi
không đợc hởng chăm sóc y tế cần thiết. Điều này khiến ngời ta phải quan tâm đến
vấn đề công bằng. Công bằng trong y tế không phải là sự ngang bằng mà là ai có
nhu cầu nhiều hơn thì đợc chăm sóc nhiều hơn. Đây là sự quan tâm đặc biệt của
ngành y tế về mối tơng quan giữa nghèo khổ và bệnh tật (gây nên bởi nghèo nàn,
bữa ăn thiếu then, giáo dục thấp, môi trờng ô nhiễm và tình trạng có những công
việc nguy hiểm). Công bằng là một lý do quan trọng khiến chính phủ phải tài chính
cho y tế và quản lý các hoạt động của ngành y tế.
9
Thị trờng t nhân với mục tiêu là lợi nhuận sẽ không triệu thể đảm bảo đợc
quyền công bằng về chăm sóc sức khoẻ cho mọi ngời dân, không thể cung cấp cho
ngời nghèo những dịch vụ y tế cần thiết. Để thực hiện đợc yêu cầu này thì cần phải
có sự tham gia của Nhà nớc vào thị trờng cung cấp dịch vụ y tế. Bằng nguồn lực tài
chính công Nhà nớc sẽ cung cấp những dịch vụ y tế cần thiết đảm bảo cho tất cả
mọi ngời đều đợc hởng quyền chăm sóc y tế, đặc biệt là ngời nghèo.
Vì vậy để đảm bảo quyền bình đẳng và công bằng y tế cho mọi ngời dân đòi
hỏi phảI có sự tham gia của nhà nớc với vai trò ngời bảo trợ. Nhà nớc sử dụng
NSNN để trợ cấp y tế, cung cấp dịch vụ y tế miễn phí đối với các đối tợng nghèo,
ngời tàn tật, ngời già yếu cô đơn, đảm bảo cho họ đợc tiếp cận tất cả các dịch vụ y
tế cần thiết.
Đối với nớc ta, Hiến pháp năm 1992, điều 39 về y tế đã quy định rõ: Nhà n-
ớc đầu t, phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân,
huy động và tổ chức mọi lực lợng xã hội xây dung và phát triển nền y học Việt
Nam theo hớng dự phòng; kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh; phát triển và kết hợp
y dợc học cổ truyền với y dợc học hiện đại; kết hợp phát triển y tế nhà nớc với y tế
t nhân; thực hiện bảo hiểm y tế tạo điều kiện cho mọi ngời dân đợc chăm sóc sức
phù hợp và hiệu quả nhất đối với bản thân mình. Ngợc lại, ngời cung cấp dịch vụ y
tế lại nắm rõ các thông tin và phơng thức điều trị ngời bệnh. điều này dẫn tới là ng-
ời cung cấp dịch vụ y ế cso sự mau thẫu giữa việc lựa chọn phơng thức điều trị tốt
nhất cho bệnh nhân với việc tăng số lợng và doanh số của dịch vụ y tế cung cấp để
tăng lợi nhuận cho bản thân ngời cung cấp dịch vụ. Kết quả là do lợi ích của bản
thân ngời cung cấp dịch vụ là tăng thu nhập cho bản thân họ, nên dẫn tới xu hớng
11
điều trị quá mức cần thiết, gây tốn kém cho ngời bệnh và lãng phí nguồn lực của xã
hội.
Những khiếm khuyết trên của trị trờng sẽ dẫn đến két quả là tăng chi phí và
giảm tính hiệu quả trong cung cấp dịch vụ y tế, làm cho nhiều dịch vụ y tế cần
thiết không cung cấp một cách đầy đủ, những khiếm khuyết của thị trờng sẽ làm
cho sự phát triển của y tế không đạt dợc mục tiêu công bằng và hiệu quả. Do đó, sự
tham gia của nhà nớc vào y tế trong nền kinh tế thị trờng là hết sức cần thiết nhằm
đảm bảo tăng trởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội.
Ngoài những lý do nói trên, sự tham gia của Nhà nớc vào việc đảm bảo y tế
cho nhân dân tại Việt Nam còn có ý nghĩa rất quan trọng xuất phát từ bản chất chế
độ XHCN của nớc ta. Nhà nớc tạo lập các hành lang pháp lý cho các thành phần
kinh tế tham gia vào đầu t, cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh để phát triển y tế,
quy định các tiêu chuẩn, chuân mực cung cấp dịch vụ y tế. Bên cạnh đó, Nhà nớc
phảI giữ vai rò chủ đạo về đảm bảo y tế cho toàn dân. Điều này đợc thể hiện ở chỗ
Nhà nớc sử dụng NSNN để cung cấp những dịch vụ y tế cơ bản, có ý nghĩa thiết
yếu và có lợi ích chung đối với toàn xã hội, trợ cấp y tế cho ngời nghèo để đảm
bảo tính công bằng trong việc tiếp cận dịch vụ y tế cho mọi công dân trong xã hội.
Nhà nớc giữa vai trò hoạch định chính sách và chiến lợc phát triển y tế đất nớc,m
thực hiện và hớng dẫn các cơ quan liên quan thực hiện theo đúng định hớng đề ra.
Đồng thời Nhà nớc phải can thiệt vào thị trờng y tế khi cần thiết để khắc phục các
khiếm khuyết của thị trờng, đảm bảo cho thị trờng phát triển ổn định theo định h-
ớng của Nhà nớc.
Hiện đã có ý kiến thống nhất về sự cần thiết phải có một cách tiếp cận có
cấp chính quyền trong quản lý điều hành thu chi NSNN. Yêu cầu đối với cơ chế
phân cấp ngân sách trung ơng phảI giữa vai trò chủ đạo tập trung các nguồn thu và
13
nhiệm vụ chi nhất định để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý nhà nớc của chính
quyền địa phơng trên địa bàn. Mối quan hệ giữa ngân sách địa phơng phải đợc giải
quyết hài hoà thông qua cơ chế điều tiết và trợ cấp ngân sách giữa trung ơng và địa
phơng. yêu cầu đối với cơ chế này là phải huy đợc tính năng động của ngân sách
địa phơng trong việc tự cân đối và tiến tới đóng góp cho ngân sách trung ơng, hạn
chế đợc tính ỷ lại của địa phơng trong việc nhận trợ cấp từ ngân sách trung ơng.
Ngoài ra, cơ chế quản lý điều hành ngân sách phải thực hiện đợc yêu cầu tiết
kiệm, vì thực hiện tiết kiệm sẽ dành đợc nguồn lực đáng kể của ngân sách cho đầu
t phát triển. Tiết kiệm ở đây phải thực hiện ngay từ khâu lập dự toán ngân sách, xác
định phơng án chi tiêu và trong quá trình sử dụng ngân sách. Để thực hiện tiết
kiệm trong sử dụng ngân sách đòi hỏi Nhà nớc phảI ban hành thống nhất các chế
độ chi tiêu, hệ thống quy định về các định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách làm căn
cứ xây dựng, dự toán, phân bổ ngân sách thực hiện công khai ngân sách đối với
mọi cấp ngân sách để nhân dân đợc tham gia giám sát quá trình sử dụng NSNN.
1.3.3.1 Công tác lập dự toán:
Dự toán NSNN hàng năm đợc lập căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã
hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quy trình lập dự toán đợc thực hiện theo các
bớc sau:
Bớc 1: Trớc 31 tháng 5, Thủ tớng Chính phủ ban hành chỉ thị về việc xây
dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách năm sau.
Bớc 2: Căn cứ vào chỉ thị của Thủ tớng Chính phủ, trớc ngày 10 tháng 6, Bộ
Tài chính hớng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán, NSNN; thông báo
số kiểm tra dự toán về tổng mức và từng lĩnh vực thu, chi ngân sách đối với các
bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ơng và tổng
số thu, chi, một số lĩnh vực chi quan trọng đối với từng tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ơng.
14
nhằm bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi ngân sách đợc giao, thực hiện tiết
kiệm, chống lãng phí, chống tham ô; chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật tài chính.
Căn cứ vào dự toán NSNN đợc giao và yêu cầu thực hiện nhiệm, thủ tớng
đơn vị sử dụng NSNN quyết định Kho bạc nhà nớc. Kho bạc nhà nớc kiểm tra tính
hợp pháp của các tài liệu theo quy định của pháp luật và thực hiện chi ngân sách
khi có đủ các điều kiện quy định theo phơng thức thanh toán trực tiếp.
1.3.3.3. Công tác kiểm tra, quyết toán:
Công tác quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng trong quá trình quản lý
NSNN. Đó là quá trình kiểm tra, rà soát, chỉnh lý các số liệu đã đợc phản ánh sau
một kỳ hạch toán và chấp hành ngân sách, nhằm phân tích, đánh giá kết quả chấp
hành dự toán ngân sách đã đợc duyệt, từ đó rút ra bài học và kinh nghiệm cho kỳ
chấp hành ngân sách sau.
Quyết tâm ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo cáo
cho đó các cơ quan có them quyền xét duyệt theo đúng chế độ đã định.
- Số liệu quyết toán NSNN phải là số thực thu, thực chi theo quy định của
luật NSNN.
- Số liệu trong báo cáo quyết ngân sách phải chính xác, trung thực, đầy đủ.
Nội dung của báo cáo quyết toán ngân sách phải theo đúng các nội dung trong dự
toán đợc giao và theo mục lục NSNN. Thủ tớng các đơn vị sử dụng ngân sách phải
chịu trách nhiệm trớc pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của báo cáo
quyết toán của đơn vị, chịu trách nhiệm về những khoản thu, chi hạch toán sai chế
độ.
16
- Báo cáo của quyết toán của các đơn vị dự toán và ngân sách cấp chính
quyền địa phơng không đợc chi lớn hơn thu.
- Ngân sách cấp dới không đợc quyết toán các khoản kinh phí uỷ quyền của
ngân sách cấp trên vào báo cáo quyết toán. Cuối năm, cơ quan tài chính đợc uỷ
quyền lập báo cáo quyết toán kinh phí uỷ quyền theo quy định gửi cơ quan tài
chính uỷ quyền và cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực cấp uỷ quyền.
2003
Năm
2004
Năm
2005
Ước TH
năm
2006
Tổng chi cân đối
NSNN
129,733 148,208 172,202 206,050258,470 294.400
Tổng chi NSNN
cho lĩnh vực y tế
6,081 7,187 9,079 10,776 15,880 16.366
% so với tổng chi
NSNN
4,7% 4,8% 5,3% 5,2% 6,1% 5,6%
Tốc độ tăng so với
năm trớc
1,000 118,2% 126,3% 118,6% 147,4% 116,9%
Nguồn: Vụ Ngân sách Nhà nớc - Bộ Tài chính
(*) Tổng chi NSNN cho y tế đã bao gồm cả chi y tế bố trí trong ngân sách
an ninh quốc phòng và chi y tế trong lĩnh vực dân số KHH gia đình
Nhìn vào bảng trên ta nhận thấy:
18
- Tổng chi NSNN cho lĩnh vực y tế hàng năm đều tăng cả về số tuyệt đối lẫn
số tơng đối: Năm 2001 chi NSNN cho y tế là 6.081 tỷ đồng đến năm 2005 tăng lên
là 15.880 tỷ đồng. Nh vậy là chỉ trong vòng 4 năm mà NSNN đầu t cho y tế tăng
lên hơn 2 lần. Điều này cho thấy trong những năm gần đây Nhà nớc rất quan tâm
đến sự nghiệp y tế, tích cực phát triển hệ thống y tế Việt Nam ngày một hiện đại,
2004
Năm
2005
Chi NSNN trực tiếp cho
ngành y tế
5,473 6,336 8,369 10,03815,100
% so với tổng chi NSNN 4,2% 4,3% 4,9% 4,9% 5,8%
Trong đó
Chi đầu t 1,262 1,680 2,212 2,611 3,850
% chi đầu t/NSNN cho y tế 23,1% 26,5% 26,4% 26% 25,5%
Chi thờng xuyên 4,211 4,656 6,257 7,427 11,250
% Chi phát triển/NSNN cho
y tế
76,9% 73,5% 73,6% 74% 74,5%
Nguồn : Vụ Ngân sách nhà nớc -Bộ tài chính
Nghiên cứu cơ cấu chi NSNN cho y tế giai đoạn 2001 2005 cho thấy tỷ
trọng NSNN đầu t cho lĩnh vực y tế nằm trong khoảng từ 4,2 đền 5,8% tổng chi
NSNN, tốc độ tăng hàng năm khá cao. Trong tổng chi ngân sách cho lĩnh vực y tế,
tỷ trọng chi đầu t phát triển thờng thấp hơn tỷ trọng chi đầu t phát triển trong cơ
cấu chung của ngân sách, tỷ trọng chi đầu t phát triển trong tổng chi y tế xuống tới
mức thấp nhất là 23,1% năm 2001 và tăng lên cao nhất là 26,5% năm 2002, còn tỷ
lệ chi thờng xuyên phân bổ nguồn tài chính giữa chi thờng xuyên và chi phát triển
trong lĩnh vực y tế. Việc tỷ trọng chi đầu t phát triển y tế thấp hơn mặt bằng chung
sẽ ảnh hởng đến tăng cơ sở vật chất cho ngành, qua đó ảnh hởng đến việc nâng cao
chất lợng dịch vụ ngành, hạn chế việc ngời dân tiếp cận đợc phơng thức chữa bệnh
hiện đại trên thế giới. Do vậy trong quá trình phân bổ NSNN cho y tế cần có sự
quan tâm đúng mức nhu cầu chi đầu t so với chi thờng xuyên trong tổng chi ngân
sách y tế cho phù hợp với định hớng phát triển từng thời kỳ.
Giữa chi đầu t phát triển và chi hoạt động thờng xuyên của y tế có mối quan
hệ mật thiết với nhau, yêu cầu phân phối vốn NSNN giữa hai nội dung này phải lu
ngân sách y tế. Tuy vậy do nguồn này không ổn định và thởng bị lệ thuộc vào bên
ngoài nên bố trí vốn NSNN cho y tế phải giảm lệ thuộc vào bên ngoài nên trong bố
trí vốn NSNN cho y tế phải giảm tỷ lệ thuộc vào nguồn này mà cần phát huy tính
chủ động và khẳng định vai trò chủ đạo NSNN trong đầu t phát triển y tế.
Đồng thời, trong những năm gần đây tỷ trọng của ngân sách đại phơng dành
cho y tế cũng tăng nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn ngân sách trung ơng
trong tổng ngân sách dành cho y tế. Điều này chứng tỏ cơ chế quản lý ngân sách
hiện nay đã giúp cho địa phơng có quyền chủ động hơn trong phân bổ chỉ tiêu
ngân sách địa phơng, tăng đầu t phát triển các cơ sở y tế địa phơng.
Theo chức năng thì chi NSNN cho y tế đợc phân thành chi phòng bệnh và
chi chữa bệnh, điều trị bệnh. Cơ cấu chi thờng xuyên cho hai chức năng này trong
những năm qua đã có nhiều thay đổi:
Tỷ lệ chi cho công tác y tế phòng bệnh tính trên tổng chi từ ngân sách trung
ơng tăng từ năm 1993 là năm bắt đầu thựuc hiện cá chơng trình mục tiêu quốc gia
để thực hiện các vấn đề quan trọng và cấp bách nhất trong phòng tránh bệnh tật và
đạt tỷ lệ cao vào năm 1997 (chiếm 35% tổng chi ngân sách nhà nớc cho y tế theo
chức năng). Nhng từ sau năm 1997 tủ lệ này giảm đi và tơng đối ổn định trong
những năm gần đây ở mức 25% - 28%, còn tỷ lệ chi NSNN cho chữa, ,.điều trị
bệnh dao động trong khoảng 70 -72%. Với cơ cấu chi ngân sách cho chữa bệnh lớn
hơn hẳn so vói phòng bệnh ở nớc ta hiện nay thì Nhà nớc ta vẫn cha thực sự đảm
bỏa đợc sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhan dân. Nh đã phân tích ở trên,
chi phòng bệnh ở nớc ta hiện nay thì Nhà nớc ta vẫn cha thực sự đảm bảo đợc sự
công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nh đã phân tích ở trên, chi phòng
bệnh mang tính chất hàng hóa công cộng, kết quả của nội dung chi này mang lại
kết quả lớn hơn các chi phí đầu t trực tiếp cho nó, có anh rhởng rộng lớn đối với
tòan xã hội nên yêu cầu nội dung chi này phải đợc đảm bảo bằng nguồn NSNN
cấp. Vì vậy trong phân phối NSNN, nội dung chi phòng bệnh cần phải đợc u tiên
22
đạt tốc độ tăng trởng nhanh hơn về cả số tuyệt đối và tỷ trọng. Còn chi điều trị
mang tính chất hàng hóa t nhân nên cần có sự huy động đóng góp của ngời sử dụng
chủng mở rộng, phòng chống các bệnh tâm thần trong cộng đồng, an toàn thực
phẩm và chống HIV/AIDS. Các chơng trình này đóng vai trò là phơng tiện cấp
thêm ngân sách theo mục tiêu phòng chống bệnh tật cụ thể của từng tỉnh, mục đích
là để giải quyết những vấn đề cấp bách với y tế nh nang cấp các cơ sở y tế, phát
triển kỹ thuật, khống chế các dịch bệnh và nâng cao sức khỏe cho các vùng khó
khăn, trọng điểm về y tế. Và Bộ y tế giữ vai trò là cơ quan chủ quản chơng trình,
chịu trách nhiệm theo dõi, đánh giá về kết quả thực hiện chơng trình.
Trớc năm 1997, Bộ y tế là cơ quan chịu trách nhiệm cấp ngân sách để thực
hiện chơng trình mục tiêu quốc gia tại các tỉnh thành phố trực thuộc trung ơng. Từ
năm 1997 -2000 thực hiện theo phơng thức kinh phí ủy quyền (cấp kinh phí ủy
quyền từ ngân sách trung ơng cho các địa phơng để thực hiện theo mục tiêu của
trung ơng). Theo quy định ở thời kỳ đó thì kinh phí các chơng trình phải sử dụng
đúng mục đích, không đợc bổ sung kinh phí từ chơng trình mục tiêu, trung ơng
phân bổ chơng trình mục tiêu nhiều khi không sát với tình hình thực tế của từng địa
phơng không điều chỉnh đợc kinh phí từ chơng trình thừa sang chơng trình thiếu,
dẫn đến việc thực hiện các chơng trình kém hiệu quả, có chỗ bị lãng phí, có chỗ lại
không đủ nguồn lựuc đề thực hiện tốt.
Bắt đầu từ năm 2001, các khỏan kinh phí thực hiện chơng trình mục tiêu
quốc gia ở cấp tỉnh đợc phân cho các tỉnh theo hình thức trợ cấp bỏ sung có mục
tiêu. Với xu thế phân cấp đang diễn ra trong lĩnh vực y tế, các chơng trình mục tiêu
quốc gia trở thành một công cụ quan trọng để đảm bảo thực hình các mục tiêu
ngành và vai trò quản lý ngành của Bộ y tế. Phân cấp chi có nhiều lợi thế, cho phép
24
cấp chính quyền địa phơng linh hoạt hơn và có thể đáp ứng nhu cầu của địa phơng
tốt hơn, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phơng. Quy định này đã khắc phục đ-
ợc hạn chế của phơng thức cũ nhng cũng gặp phải hạn chế là đối với một số địa ph-
ơng có khó khăn về ngân sách, địa phơng có thẻ sẽ giảm bớt kinh phí chơng trình
mục tiêu trung ơng trợ cấp để sử dụng cho một mục tiêu khác, do vậy làm mất ý
nghĩa của việc chi cho các chơng trình mục tiêu quốc gia. Một nối lo lắng khác là
một số tỉnh không quan tâm, chú ý đầy đủ đến các dịch vụ phòng chống bệnh tật
25