Giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý nsnn trong lĩnh vực y tế ở việt nam - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chơng I: cơ sở lý luận về cơ chế quản lý ngân sách nhà
nớc đối với lĩnh vực y tế
1.1.Vai trò, đặc điểm của y tế
1.1.1. Vai trò của y tế
Khái niệm về y tế: y tế là các hoạt động phòng, chữa bệnh và chăm sóc sức
khoẻ con ngời nh: các hoạt động khám và điều trị các bệnh; các hoạt động phòng
bệnh, điều dỡng, chăm sóc sức khoẻ và thẩm mỹcủa con ngời. Mục tiêu của ngành
y tế đợc xác định là tập trung vào bảo vệ sức khoẻ ngời dân thông qua các hoạt
động phòng chống và kiểm soát hữu hiệu các bệnh không truyền nhiễm cũng nh
các bệnh truyền nhiễm đồng thời đảm bảo sự công bằng trong việc tiếp cận các
dịch vụ y tế chất lợng cao ( đặc biệt là đối với các nhóm dễ bị tổn thơng nh trẻ em,
ngời nghèo)
Đối tợng chăm sóc của y tế la con ngời - trung tâm của quá trình phát triển ở
mỗi quốc gia. Vì vậy y tế có tác động to lớn tới sự phát triển kinh tế- xã hội của đất
nớc.
1.1.1.1 Vai trò của y tế với sự phát triển kinh tế
Thứ nhất, con ngời sử dụng công cụ lao động tác động tới đối tợng lao động
nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của mình. Để đạt đợc năng suất
lao động cao, bản thân ngời lao động phải luôn học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm nâng
cao tri thức, kỹ năng kỹ ảo ở mọi lĩnh vực. Muôn thực hiện đợc điều đó, trớc tiên
con ngời phải có sức khoẻ cả về mặt thể cấht lẫn tinh thần. Hệ thống y tế với hai
dịch vụ chủ yếu là phòng và chữa bệnh cho con ngời giữ vai trò quyết định tới chất
lợng sức khoẻ của mọi thành viên và xã hội. Một hệ thống y tế tốt sẽ đảm bảo cho
ngời dân có sức khoẻ tốt, trí tuệ minh mẫnvà qua dó góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế. Bởi chính con ngời tạo ra của cải vật chất làm phát triển nền kinh tế của
đất nớc. Một khi con ngời có sức khoẻ, có trí tuệ thì sẽ tạo ra nhiều của cải cho xã
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hội hơn, làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển hơn. Do đó y tế với mục tiêu
chính là chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của mọi ngời dân giữ vai trò quan trọn gián

qóc độ nào đó thì y tế cũng góp phần tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa các quốc gia
trên thế giới.
Với việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em tốt, y tế tạo ra nguồn lực
cơ bản cho phát triển xã hội trong tơng lai. Trẻ em hôm nay à thế giớ ngày mai.
Với những chính sách y tế cung cấp nên tuổi thọ con ngời ngày càng đợc nâng cao,
con ngời có điều kiẹn để phát triển ngày càng hoàn thiện hơn.
Ngày nay khi xem tới sự phát triển nói chung của một quốc gia, ngời ta
không chỉ xem xét tới sự phát triển kinh tế nh tổng sản phẩm quốc nội mà còn
quan tâm nhiều tới các chi tiêu phát triển con ngời nh chỉ tiêu HDI, chỉ số Gini.
Điều này là hoàn toàn đúng đắn bởi vì một quốc gia chỉ phát triển kinh tế mà
không chú ý đến con ngời xã hội thì sự phát triển của quốc gia đó không thể coi là
sự phát triển bền vững. Đến một lúc nào đó, quốc gia đó sẽ phải đối mặt với những
khủng hoảng xã hội nghiêm trọng. Hiện nay tuổi thọ trung binhg của ngời dân các
quốc gia ngày càng đợc cảit thiện. đạt dợc kết quả đó công đầu tiên phải kể đến là
ngành y tế thông qua hoạt động phòng bệnh và chữa bệnh.
Cùng với một số lĩnh vực lkhác nh: giáo dục và văn hoá y tế luôn là sự quan
tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội nói chung sẽ đợc đảm bảo.
Nhờ đó ngời dẫn sẽ có đợc cuộc sống lành mạnh, có cảm giác an toàn và tin tởng
vào chế độ xã hội.
1.1.2. Đặc điểm của y tế:
1.1.2.1. Tính chất vừa là hàng hoá công cộng vừa là hàng hoá t nhân
Khác với các ngành sản xuất vvật chất và cung cấp dịch vụ khác, sản phẩm
dịch vụ y tế vừa mang tính chất hàng hoá công cộng vừa mang tính chất hoàng hoá
t nhân. Sản phẩm dịch vụ y tế mang tính chất hàng hoá công cộng vì nó có đầy đủ
tính chất của hang hoá công cộng là không thể loại trừ. Đặc điểm không muốn laọi
trừ thể hiện ở chỗ khi một dịch vụ y tế cong công đợc hởng thụ kết quả đó. Việc
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tăng thêm chi phí hoặc tăng lên rấ ít nhng không làm giảm đi quyền đợc thụ hởng
đầy đủ lợi ích từ chơng trình của những ngời khác trong công cộng.

cho việc đã sử dụng dịch vụ y tế nhằm bù đắp chi phí, tái sản xuất, tái cung cấp sản
phẩm dịch vụ y tế. Nhng do sản phẩm dịch vụ y tế là một loại hàng hoá đặc biệt,
đối tợng phục vụ là sức khoẻ con ngời nên nhà nớc phảI tham gia vào việc định h-
ớng thị trờng và kiểm soát giá cả sản phẩm dịch vụ y tế nhằm đảm bảo đợc sự công
bằng về y tế giữa mọi ngời dân.
1.1.2.2. Tính nhân đạo
Ngành y tế sử dụng các phơng tiện khoa học kỹ thuật để can thiệp vào việc
bảo vệ, cứu chữa con ngời. ở các nớc có nền kinh tế phát triển thì sự can thiệp bằng
các phơng tiện kỹ thuât vào con ngời ngày càng nhiều hơn. nếu ngành y tế không
mang tính nhân đạo, không có tinh thần trách nhiệm coa thì dễ gây tử vong cho
con ngời. hồ Chủ Tịch dã nhắc nhở cán bộ ngành y tế nớc ta là lơng y nh từ mẫu
đối với ngời bệnh. Đây không chỉ là trách nhiệm của ngành y tế đối với ngời bệnh
mà còn là truyền thống, nhân cách của nời thầy thuốc Việt nam .
1.1.2.3.Tính công bằng và hiệu quả
Công bằng trong chăm sóc sức khoẻ không có nghĩa là ngang bằng công
bằng có nghĩa là ai cũng có nhu cầu nhiều hớn, còn ngang bằng có nghĩa là mọi
ngời có nhu cầu ít hay nhiều hơn, có nhu cầu chăm sóc sứckhoẻ nhiều hơn nhng
lại ít khả năng chi trả. Nh vậy, nói đến công bằng trong y tế tức là phải có sự u tiên
cho vùng ngheo, ngời nghèo, ngơig có công với cách mạng, cho các đối tợng thiệt
thòi. Quan điểm công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nói lên quyền của ngời
nghèo, ngời có công với nớc phải đợơc chăm sóc, không phải là lòng thơng hại,
không phải là sự ban ơn. Công bằn thờng đi đôi với đạo đức trong y tế, đòi hỏi
trách nhiệm cao của cán bộ y tế đối với ngời bệnh, ứng xử với ngời nghèo cũng nh
với ngời giàu.
Thực hiện công bằng trong chăn sóc sức khoẻ, ngời dân đợc tạo điều iện để
tiếp cận, sử dụng các dịch vụ y tế cơ bản ngay tại cơ sở và coi đó là quyền của ngời
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dân về chắn sóc sức khoẻ. Ngành y tế và các cơ quan chức năng đa nghiên cứu và
xây dựng các chỉ tiêu trong chắm sóc sức khoẻ cần đạt đợc trên các mặt khám chữa

phối các nguồn tài nguyên quốc gia ( phân phối lần đầu và tái phân phối ). Và vì
vậy, về nội dung kinh tế, NSNN thể hiện các mối quan hệ kinh tế giữa một bên là
nhà nớc với một bên là các tổ chức kinh tế, xã hội và các tầng lớp dân c.
- Về tính chất xã hội: NSNN luôn luôn là một công cụ kinh tế của nhà nớc,
nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chắc năng, nhiệm vụ ủa nhà nớc. Nhờ có
NSNN nên nhà nớc có nguồn tài chính để thực hiện những công việc của mình
trong mọi lĩnh vực nhằm đa đất nớc phát triển đúng định hớng đã lựa chọn.
1.2.2. NSNN với sự phát triển y tế
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển
kinh tế xã hội. Vai trò này đợc bắt nguồn từ vai trò của hoạt động y tế đối với
con ngời yếu tố quyết định tới quá trình phát triển đất nớc. Chất lợng, hiệu quả
của hoạt động y tế ảnh hởng trực tiếp đến sức khoẻ con ngời. Vai trò của NSNN
đối với sự nghiệ y tế thể hiện:
- Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là một trong những công cụ quản lý vĩ mô nền
kinh tế của nhà nớc đối với chiến lợc phát triển kinh tế xã hội. Thông qua việc
xác định cơ cấu ty trọng các khoản chi, Nhà nớc tham gia điều chỉnh hớng dẫn các
hoạt động y tế theo đúng chủ trơng, đờng lối của nhà nớc đề ra.
- Chi NSNN giúp chúng ta có một nền y tế toàn diện với cơ cấu thích hợp giã các
ngành ( y tế dự phòng và khám cha bệnh, y học cổ truyền và y học hiện đại ) y tế
ngoài công lập với mục đích chính chỉ quan tâm đến những dịch vụ mang lại
nhiều lợi ích mà không đặt vấn đề phát triển các chuyên ngành theo yêu cầu.
- Thông qua chi NSNN cho sự nghiệp y tế có thể tiến hành kiểm tra việc sử dụng
các khoản chi đó cho các hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Từ đó phát huy
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hiệu quả của đồng vốn ngân sách và tạo điều kiện cho ngành y tế thực hiện các
mục tiêu của mình.
- Lỹnh vực y tế là lĩnh vực có phạm vi hoạt động, quy mô lớn và ảnh hởng trực
tiếp đến sức khoẻ nhân dân. Các khoản chi từ NSNN sẽ giúp cho việc hoạch định
phơng hơnứg phát triển kỹ thuật y tế. Trong khi đó y tế ngoài công lập chạy theo

thụ và sự tăng thêm ngời hởng thụ cũng không làm thăng thêm chi phí cung cấp
các dịch vụ này. Nói cách khác, việc tham gia của cá nhân đối với các dịch vụ này
không làm ảnh hởng đến lợi ích thu đợc của các cá nhân khác. Thị trờng t nhân có
xu hớng giảm các sản phẩm hàng hoá công cộng. Còn nhà nớc với vai trò quản lý
toàn diện đối với nền kinh tế xã hội cần thiết phải tham gia vào việc cung cấp
những dịch vụ y tế cơ bản nh dịch vụ phòng bệnh, thực hiện trợ cấp khám chữa
bệnh cho ngời nghèo để đảm bảo quyền đợc chăm sóc sức khoẻ đối với mọi ngời
dân.
Thứ hai, Nhà nớc cần tham gia vào thị trờng y tế là đảm bảo tính chất công
bằng và hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ y tế. Trong nền kinh tế thị trờng có sự
phân hoá giàu, nghèo dẫn tới sự phân phối không công bằng giữa các tầng lớp thu
nhập trong xã hội. Ngời giàu có khả năng thanh toán cao nên đợc hởng nhiều dịch
vụ y tế hơn, ngợc lại ngời nghèo không đủ khả năng tài chính chi trả nên nhiều khi
không đợc hởng chăm sóc y tế cần thiết. Điều này khiến ngời ta phải quan tâm đến
vấn đề công bằng. Công bằng trong y tế không phải là sự ngang bằng mà là ai có
nhu cầu nhiều hơn thì đợc chăm sóc nhiều hơn. Đây là sự quan tâm đặc biệt của
ngành y tế về mối tơng quan giữa nghèo khổ và bệnh tật (gây nên bởi nghèo nàn,
bữa ăn thiếu then, giáo dục thấp, môi trờng ô nhiễm và tình trạng có những công
việc nguy hiểm). Công bằng là một lý do quan trọng khiến chính phủ phải tài chính
cho y tế và quản lý các hoạt động của ngành y tế.
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thị trờng t nhân với mục tiêu là lợi nhuận sẽ không triệu thể đảm bảo đợc
quyền công bằng về chăm sóc sức khoẻ cho mọi ngời dân, không thể cung cấp cho
ngời nghèo những dịch vụ y tế cần thiết. Để thực hiện đợc yêu cầu này thì cần phải
có sự tham gia của Nhà nớc vào thị trờng cung cấp dịch vụ y tế. Bằng nguồn lực tài
chính công Nhà nớc sẽ cung cấp những dịch vụ y tế cần thiết đảm bảo cho tất cả
mọi ngời đều đợc hởng quyền chăm sóc y tế, đặc biệt là ngời nghèo.
Vì vậy để đảm bảo quyền bình đẳng và công bằng y tế cho mọi ngời dân đòi
hỏi phảI có sự tham gia của nhà nớc với vai trò ngời bảo trợ. Nhà nớc sử dụng

quyền này có thể khiến cho ngời cung ứng ít quant âm đến việc nâng cao chất lợng
phục vụ do ngời tiêu ding chỉ có ít cơ hội lựa chọn, đặc biệt là ở các vùng nông
thôn, có khi chỉ có một nhà cung cấp một loại hình dịch vụ nhất định trong một
khu vực dân c.
Mốt yếu tố quan trọng nữa giúp thị trờng có thể hoàn hảo là ngời tiêu ding
phải có đầy đủ thông tin về sản phảm, không chi giá thành mà còn cả về hiệu quả
và sự thích hợp với họ. Tuy nhiên điều kiện thông tin về chăm sóc sức khoẻ ít khi
đầy đủ. Đặc điểm của thông tin này là không hoàn chỉnh đối với ngời sử dụng, mất
cân đối giữa ngời cung ứng và ngời sử dụng. Ngời bệnh không có đầy đủ thông tin
để so sánh giữa chi phí điều trị và hiệu quả điều trị để lựa chọn phơng thức điều trị
phù hợp và hiệu quả nhất đối với bản thân mình. Ngợc lại, ngời cung cấp dịch vụ y
tế lại nắm rõ các thông tin và phơng thức điều trị ngời bệnh. điều này dẫn tới là ng-
ời cung cấp dịch vụ y ế cso sự mau thẫu giữa việc lựa chọn phơng thức điều trị tốt
nhất cho bệnh nhân với việc tăng số lợng và doanh số của dịch vụ y tế cung cấp để
tăng lợi nhuận cho bản thân ngời cung cấp dịch vụ. Kết quả là do lợi ích của bản
thân ngời cung cấp dịch vụ là tăng thu nhập cho bản thân họ, nên dẫn tới xu hớng
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
điều trị quá mức cần thiết, gây tốn kém cho ngời bệnh và lãng phí nguồn lực của xã
hội.
Những khiếm khuyết trên của trị trờng sẽ dẫn đến két quả là tăng chi phí và
giảm tính hiệu quả trong cung cấp dịch vụ y tế, làm cho nhiều dịch vụ y tế cần
thiết không cung cấp một cách đầy đủ, những khiếm khuyết của thị trờng sẽ làm
cho sự phát triển của y tế không đạt dợc mục tiêu công bằng và hiệu quả. Do đó, sự
tham gia của nhà nớc vào y tế trong nền kinh tế thị trờng là hết sức cần thiết nhằm
đảm bảo tăng trởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội.
Ngoài những lý do nói trên, sự tham gia của Nhà nớc vào việc đảm bảo y tế
cho nhân dân tại Việt Nam còn có ý nghĩa rất quan trọng xuất phát từ bản chất chế
độ XHCN của nớc ta. Nhà nớc tạo lập các hành lang pháp lý cho các thành phần
kinh tế tham gia vào đầu t, cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh để phát triển y tế,

chính duy nhất để phát triển kinh tế xã hội là nguồn tài chính để Nhà nớc thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình đảm bảo cho đất nớc phát triển theo đúng
định hớng đề ra. NSNN đợc u tiên sử dụng để thực hiện những nhiệm vụ riêng có
của Nhà nớc, những công việc mà thị trờng không thể thực hiện nhiệm vụ riêng có
của nhà nớc, những công việc mà thị trờng để thu hút, khuyến khích sự tham gia
của các nguồn vốn khác trong thị trờng bổ sung thêm cho nguồn vốn ngoài ngân
sách, hỗ trợ cho NSNN trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội
của Nhà nớc. Đây là điểm khác biệt rất cơ bản về cơ chế quản lý NSNN trong nền
kinh tế thị trờng với cơ chế quản lý NSNN trong nền kinh tế thị trờng với cơ chế
quản lý NSNN trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Trong cơ chế quản lý ngân sách, cơ chế cấp ngân sách có vị trí rất quan
trọng, thể hiện mối quan hệ phân cấp, phân quyền, phối hợp hoạt động giữa các
cấp chính quyền trong quản lý điều hành thu chi NSNN. Yêu cầu đối với cơ chế
phân cấp ngân sách trung ơng phảI giữa vai trò chủ đạo tập trung các nguồn thu và
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhiệm vụ chi nhất định để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý nhà nớc của chính
quyền địa phơng trên địa bàn. Mối quan hệ giữa ngân sách địa phơng phải đợc giải
quyết hài hoà thông qua cơ chế điều tiết và trợ cấp ngân sách giữa trung ơng và địa
phơng. yêu cầu đối với cơ chế này là phải huy đợc tính năng động của ngân sách
địa phơng trong việc tự cân đối và tiến tới đóng góp cho ngân sách trung ơng, hạn
chế đợc tính ỷ lại của địa phơng trong việc nhận trợ cấp từ ngân sách trung ơng.
Ngoài ra, cơ chế quản lý điều hành ngân sách phải thực hiện đợc yêu cầu tiết
kiệm, vì thực hiện tiết kiệm sẽ dành đợc nguồn lực đáng kể của ngân sách cho đầu
t phát triển. Tiết kiệm ở đây phải thực hiện ngay từ khâu lập dự toán ngân sách, xác
định phơng án chi tiêu và trong quá trình sử dụng ngân sách. Để thực hiện tiết
kiệm trong sử dụng ngân sách đòi hỏi Nhà nớc phảI ban hành thống nhất các chế
độ chi tiêu, hệ thống quy định về các định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách làm căn
cứ xây dựng, dự toán, phân bổ ngân sách thực hiện công khai ngân sách đối với
mọi cấp ngân sách để nhân dân đợc tham gia giám sát quá trình sử dụng NSNN.

việc tổng hợp, lập dự toán ngân sách địa phơng, phơng án phân bổ ngân sách cấp
mình theo các chỉ tiêu quy định.
1.3.3.2. Chấp hành NSNN
Chấp hành NSNN là một khâu quan trọng trong quản lý NSNN, đây là quá
trình sử dụng tổng hoà các biện pháp kinh tế tài chính và hành chính nhằm biến
các chỉ tiêu đợc giao trong dự toán ngân sách thành hiện thực. Sau khi đợc Thủ t-
ớng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân giao dự toán ngân sách, các cơ quan nhà nớc
Trung ơng và địa phơng, các đơn vị dự toán có trách nhiệm phân bổ, đảm bảo đúng
với dự toán ngân sách đợc giao cả về tổng mức, chi tiết theo từng lĩnh vực, đồng
gửi cơ quan tài chính cung cấp, Cơ quan tài chính có trách nhiệm kiểm tra, nếu
không đúng dự toán ngân sách đợc giao, không đúng chính sách, chế độ, tiêu
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chuẩn, định mức thì yêu cầu điều chỉnh lại. Các cơ quan, tổ chức trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm đề ra những biện pháp cần thiết
nhằm bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi ngân sách đợc giao, thực hiện tiết
kiệm, chống lãng phí, chống tham ô; chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật tài chính.
Căn cứ vào dự toán NSNN đợc giao và yêu cầu thực hiện nhiệm, thủ tớng
đơn vị sử dụng NSNN quyết định Kho bạc nhà nớc. Kho bạc nhà nớc kiểm tra tính
hợp pháp của các tài liệu theo quy định của pháp luật và thực hiện chi ngân sách
khi có đủ các điều kiện quy định theo phơng thức thanh toán trực tiếp.
1.3.3.3. Công tác kiểm tra, quyết toán:
Công tác quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng trong quá trình quản lý
NSNN. Đó là quá trình kiểm tra, rà soát, chỉnh lý các số liệu đã đợc phản ánh sau
một kỳ hạch toán và chấp hành ngân sách, nhằm phân tích, đánh giá kết quả chấp
hành dự toán ngân sách đã đợc duyệt, từ đó rút ra bài học và kinh nghiệm cho kỳ
chấp hành ngân sách sau.
Quyết tâm ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo cáo
cho đó các cơ quan có them quyền xét duyệt theo đúng chế độ đã định.

tổ chức, cá nhân vi phạm.
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chơng II: Thực trạng cơ chế quản lý ngân sách nhà
nớc trong lĩnh vực y tế ở việt nam.
2.1. Thực trạng sử dụng NSNN trong lĩnh vực y tế
2.1.1. Chí NSNN dành cho lĩnh vực y tế
Công cuộc giảm nghèo và tăng trởng của Việt Nam đã đạt đợc những kết
quả đáng khích lệ và đi kèm với nó là các thành tựu đáng kể cả trong lĩnh vực y tế.
Đạt đợc kết quả nh vậy là nhờ Nhà nớc ta càng ngày càng quan tâm đầu t hơn cho
sự nghiệp y tế, đợc thể hiện trong tổng chi NSNN cho sự nghiệp y tế mỗi năm một
tăng thêm.
Bảng 1: Bảng chi NSNN trong lĩnh vực y tế:
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Ước TH
năm
2006
Tổng chi cân đối
NSNN
129,733 148,208 172,202 206,050258,470 294.400
Tổng chi NSNN
cho lĩnh vực y tế

Căn cứ vào mục đích sử dụng, chi NSNN cho y tế đợc phân thành hai nội
dung là chi đầu t phát triển và chi thờng xuyên. Chi đầu t phát triển là các khỏan
chi đầu t xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị chuyên
dụng của ngành y tế. Theo quy định của luật NSNN hiện hành thì nguồn chi đầu t
phát triển đợc lập dự toán, cấp phát và quản lý theo dự án đầu t và quy trình quản
lý riêng so với chi thờng xuyên của NSNN hiện hành thì nguồn chi đầu t phát triển
đợc lập dự toán, cấp phát và quản lý theo dự án và quy trình quản lý riêng so với
chi thờng xuyên của NSNN đầu t cho y tế .
Bảng 2 : Cơ cấu chi phí NSNN trong y tế
Đơn vị : Tỷ đồng
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chỉ tiêu Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Chi NSNN trực tiếp cho
ngành y tế
5,473 6,336 8,369 10,03815,100
% so với tổng chi NSNN 4,2% 4,3% 4,9% 4,9% 5,8%
Trong đó
Chi đầu t 1,262 1,680 2,212 2,611 3,850
% chi đầu t/NSNN cho y tế 23,1% 26,5% 26,4% 26% 25,5%
Chi thờng xuyên 4,211 4,656 6,257 7,427 11,250

2.1.3. Chi thờng xuyên
Do sự phát triển và tăng trởng kinh tế, đợc sự quan tâm của Nhà nớc tổng
nguồn chi từ NSNN cho y tế đã tăng lên nhanh chóng. Nguồn vốn NSNN đầu t cho
sự nghiệp y tế năm 2001 là 6081 tỷ đồng thì đến năm 2005 đã tăng lên là 15880,
tăng lên về số tuyệt đối mà còn thay đổi cả về cơ cấu vốn đầu t theo hớng giảm dần
nguồn vốn vay, vốn viện trợ nớc ngoài cho Nhà nớc. Nh vậy từ chỗ có vai trò đáng
kể đóng góp khoảng 15% trong tổng chi NSNN cho y tế, vai trò của nguồn vốn
viện trợ, vốn nợ ngày càng giảm. Về cơ chế sử dụng vốn viện trợ, vốn nợ cũng có
nhiều hạn chế, vẫn còn nhiều ràng buộc từ phía nhà tài trợ, thờng là gắng với
những dự án, có địa chỉ cụ thể và do nhà tài trợ, thờng là gắn với những dự án, có
địa chỉ cụ thể và do nhà tài trợ quyết định, những dự án đó không phải lúc nào
cũng phù hợp với mục tiêu của NSNN. Trong khi đó nhiều dự án viện trợ, vốn vay
lại yêu cầu bố trí vốn đối ứng từ NSNN và NSNN nhiều khi cha đáp ứng đợc nhu
cầu này. Trong khi đó vốn NSNN giành cho y tế ngày càng tăng cao cả về số tuyệt
đối và số tơng đối cho thấy ngành y tế đang ngày càng đợc quan tâm hơn. Bởi
chăm sóc sức khỏe mạng nhiều tính chất hóa công cộng. Nhà nớc phải giúp vai trò
chủ đạo trong việc cung cấp dịch vụ này nhằm đảm bảo cho mọi ngời dân đều đợc
thụ hởng công bằng các dịch vụ y tế. Thực tế đã cho thấy nguồn vốn viện trợ, vay
có giảm dần về số tuyệt đối và tỷ trọng nh là một số nguồn bổ sung đáng kể cho
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ngân sách y tế. Tuy vậy do nguồn này không ổn định và thởng bị lệ thuộc vào bên
ngoài nên bố trí vốn NSNN cho y tế phải giảm lệ thuộc vào bên ngoài nên trong bố
trí vốn NSNN cho y tế phải giảm tỷ lệ thuộc vào nguồn này mà cần phát huy tính
chủ động và khẳng định vai trò chủ đạo NSNN trong đầu t phát triển y tế.
Đồng thời, trong những năm gần đây tỷ trọng của ngân sách đại phơng dành
cho y tế cũng tăng nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn ngân sách trung ơng
trong tổng ngân sách dành cho y tế. Điều này chứng tỏ cơ chế quản lý ngân sách
hiện nay đã giúp cho địa phơng có quyền chủ động hơn trong phân bổ chỉ tiêu
ngân sách địa phơng, tăng đầu t phát triển các cơ sở y tế địa phơng.

thu nhập thấp thờng ít có điều kiện để đi khám, chữa bênh. Họ hầu nh chỉ phụ thụ
hởng những dịch vụ phòng bệnh để triển khai. Nh vậy với cơ cấu chi NSNN cho y
tế nh trên thì vô tình khiến cho những ngời giàu lại đợc nhà nớc trợ cấp nhiều còn
những ngời nghèo, u tiên cho phòng bệnh và chăm sóc sức khóe toàn dân nhng với
việc phân phối nguồn NSNN hiện nay vẫn cha đảm bảo đợc sự bình đẳng trong sử
dụng những dich vụ y tế.
Tỷ trọng ngân sách y tế chi cho dự phòng ở trung ơng lớn hơn nhiều so với
địa phơng. Điều này cho thấy sự lo ngại rằng các địa phơng có xu hớng tập trung
chỉ tiêu cho chữa bệnh nhiều hơn phòng bệnh. Tuy nhiên có một điều cần chú ý là
một phần chi cho các chơng trình mục tiêu quốc gia nằm trong ngân sách trung -
ơng nhng phần lớn ngân sách này sau đó lại đợc chuyển về địa phơng để hỗ trợ
việc thực hiện chơng trình tại địa phơng. Do đó, nguồn lực thực tế cho phòng bệnh
ở địa phơng sẽ tăng lên. Điều quan trọng là phải có cơ chế quản lý nguồn này có
hiệu quả, nhằm thực hiện đợc các mục tiêu Nhà nớc đã đặt ra, tránh sử dụng lãng
phí, kém tiết kiệm, sai mục đích.
2.1.4. Chi chơng trình mục tiêu quốc gia cho y tế:
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Bắt đầu từ kế hoạch phát triển 5 năm 1991 - 1995, Chính phủ đã sử dụng các
chơng trình mục tiêu quốc gia. Số lợng này sau đó tăng lên thành 10 và đợc kết
hợp, lồng ghép trong một số chơng trình mục tiêu y tế chung của ngành y tế, đó là
chơng trình chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AISD, bao
gòm: phòng chống sốt rét, lao, sốt xuất huyết, bớu cổ, suy dinh dỡng trẻ em, tiên
chủng mở rộng, phòng chống các bệnh tâm thần trong cộng đồng, an toàn thực
phẩm và chống HIV/AIDS. Các chơng trình này đóng vai trò là phơng tiện cấp
thêm ngân sách theo mục tiêu phòng chống bệnh tật cụ thể của từng tỉnh, mục đích
là để giải quyết những vấn đề cấp bách với y tế nh nang cấp các cơ sở y tế, phát
triển kỹ thuật, khống chế các dịch bệnh và nâng cao sức khỏe cho các vùng khó
khăn, trọng điểm về y tế. Và Bộ y tế giữ vai trò là cơ quan chủ quản chơng trình,
chịu trách nhiệm theo dõi, đánh giá về kết quả thực hiện chơng trình.

đóng vai trò là phơng tiện cấp thêm ngân sách cho vùng khó khăn và giải quyết các
mục tiêu phòng chống bệnh tật cụ thể của từng tỉnh. Nhng thực tế đánh giá lại các
chơng trình gần nh đợc phân bổ đồng dều cho các tỉnh mà không tính đến mô hình
bệnh tật đặc trng của mỗi nơi. Điều này cho thấy cần thiết phải xây dựng các ch-
ơng trình mục tiêu quốc gia sát với thực tế từng địa phơng hơn, nhằm phân phối có
hiệu quả nguồn tài chính
Bảng 3: Chi chơng trình mục tiêu quốc gia Y tế giai đoạn 2001 - 2005
Đơn vị: Triệu đồng
STT
Tên chơng
trình, dự án
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
1 Tổng số 412.000 475.000 535.000 575.000 685.000
2 Chi bằng nguồn
vốn vay, viện trợ
95.000 95.000 95.000 45.000 100.000
25

Trích đoạn Những thách thức chủ yếu đối với công tác chăm sóc sức khỏe toàn dân tại Việt Nam. Xã hội hóa hoạt động y tế. Xây dựng kế hoạch chi tiêu trung hạn (MTEF) ngành y tế.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status