THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Ở VIỆT NAM - Pdf 75

THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Ở VIỆT NAM.
2.1. Thực trạng sử dụng NSNN trong lĩnh vực y tế
2.1.1. Chí NSNN dành cho lĩnh vực y tế
Công cuộc giảm nghèo và tăng trưởng của Việt Nam đã đạt được những kết
quả đáng khích lệ và đi kèm với nó là các thành tựu đáng kể cả trong lĩnh vực y tế.
Đạt được kết quả như vậy là nhờ Nhà nước ta càng ngày càng quan tâm đầu tư hơn
cho sự nghiệp y tế, được thể hiện trong tổng chi NSNN cho sự nghiệp y tế mỗi
năm một tăng thêm.
Bảng 1: Bảng chi NSNN trong lĩnh vực y tế:
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm
2005
Ước TH
năm 2006
Tổng chi cân đối NSNN 129,733 148,208 172,202 206,050 258,470 294.400
Tổng chi NSNN cho
lĩnh vực y tế
6,081 7,187 9,079 10,776 15,880 16.366
% so với tổng chi
NSNN
4,7% 4,8% 5,3% 5,2% 6,1% 5,6%
Tốc độ tăng so với năm
trước
1,000 118,2% 126,3% 118,6% 147,4% 116,9%
Nguồn: Vụ Ngân sách Nhà nước - Bộ Tài chính
(*) Tổng chi NSNN cho y tế đã bao gồm cả chi y tế bố trí trong ngân sách an
ninh quốc phòng và chi y tế trong lĩnh vực dân số – KHH gia đình
Nhìn vào bảng trên ta nhận thấy:
- Tổng chi NSNN cho lĩnh vực y tế hàng năm đều tăng cả về số tuyệt đối lẫn
số tương đối: Năm 2001 chi NSNN cho y tế là 6.081 tỷ đồng đến năm 2005 tăng

% chi đầu tư/NSNN cho y tế 23,1% 26,5% 26,4% 26% 25,5%
Chi thường xuyên 4,211 4,656 6,257 7,427 11,250
% Chi phát triển/NSNN cho y tế 76,9% 73,5% 73,6% 74% 74,5%
Nguồn : Vụ Ngân sách nhà nước -Bộ tài chính
Nghiên cứu cơ cấu chi NSNN cho y tế giai đoạn 2001 – 2005 cho thấy tỷ
trọng NSNN đầu tư cho lĩnh vực y tế nằm trong khoảng từ 4,2 đền 5,8% tổng chi
NSNN, tốc độ tăng hàng năm khá cao. Trong tổng chi ngân sách cho lĩnh vực y tế,
tỷ trọng chi đầu tư phát triển thường thấp hơn tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong
cơ cấu chung của ngân sách, tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi y tế xuống
tới mức thấp nhất là 23,1% năm 2001 và tăng lên cao nhất là 26,5% năm 2002, còn
tỷ lệ chi thường xuyên phân bổ nguồn tài chính giữa chi thường xuyên và chi phát
triển trong lĩnh vực y tế. Việc tỷ trọng chi đầu tư phát triển y tế thấp hơn mặt bằng
chung sẽ ảnh hưởng đến tăng cơ sở vật chất cho ngành, qua đó ảnh hưởng đến
việc nâng cao chất lượng dịch vụ ngành, hạn chế việc người dân tiếp cận được
phương thức chữa bệnh hiện đại trên thế giới. Do vậy trong quá trình phân bổ
NSNN cho y tế cần có sự quan tâm đúng mức nhu cầu chi đầu tư so với chi thường
xuyên trong tổng chi ngân sách y tế cho phù hợp với định hướng phát triển từng
thời kỳ.
Giữa chi đầu tư phát triển và chi hoạt động thường xuyên của y tế có mối
quan hệ mật thiết với nhau, yêu cầu phân phối vốn NSNN giữa hai nội dung này
phải lưu ý tới qun hệ này để thực hiện mục tiêu công bằng và hiệu quả trong phát
triển y tế. Công trình xây dựng cơ bản hoàn thành đưa vào sử dụng sẽ kéo theo một
nguồn chi thường xuyên đáng kể cho vận hành, khai thác và bảo dưỡng công trình.
Nhưng những nội dung chi thường xuyên này chưa được quan tâm đúng mức khi
bố trí vốn chi đầu tư phát triển, dẫn đến công trình không đủ vốn thường xuyên khi
đi vào hoạt động nên không phát huy được hết công suất thiết kế. Vì vậy yêu cầu
khi bố trí cơ cấu chi đầu tư phát triển phải tính tới tác đọng của các nguồn đầu tư
xây dựng cơ bản làm tăng chi hoạt động thường xuyên đối với việc vận hành, bảo
dưỡng ở giai đoạn sử dụng công trình.
2.1.3. Chi thường xuyên

những năm qua đã có nhiều thay đổi:
Tỷ lệ chi cho công tác y tế phòng bệnh tính trên tổng chi từ ngân sách trung
ương tăng từ năm 1993 là năm bắt đầu thựuc hiện cá chương trình mục tiêu quốc
gia để thực hiện các vấn đề quan trọng và cấp bách nhất trong phòng tránh bệnh tật
và đạt tỷ lệ cao vào năm 1997 (chiếm 35% tổng chi ngân sách nhà nước cho y tế
theo chức năng). Nhưng từ sau năm 1997 tủ lệ này giảm đi và tương đối ổn định
trong những năm gần đây ở mức 25% - 28%, còn tỷ lệ chi NSNN cho chữa, ,.điều
trị bệnh dao động trong khoảng 70 -72%. Với cơ cấu chi ngân sách cho chữa bệnh
lớn hơn hẳn so vưói phòng bệnh ở nước ta hiện nay thì Nhà nước ta vẫn chưa thực
sự đảm bỏa được sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhan dân. Như đã phân
tích ở trên, chi phòng bệnh ở nước ta hiện nay thì Nhà nước ta vẫn chưa thực sự
đảm bảo được sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân. Như đã phân tích
ở trên, chi phòng bệnh mang tính chất hàng hóa công cộng, kết quả của nội dung
chi này mang lại kết quả lớn hơn các chi phí đầu tư trực tiếp cho nó, có anh rhưởng
rộng lớn đối với tòan xã hội nên yêu cầu nội dung chi này phải được đảm bảo bằng
nguồn NSNN cấp. Vì vậy trong phân phối NSNN, nội dung chi phòng bệnh cần
phải được ưu tiên đạt tốc độ tăng trưởng nhanh hơn về cả số tuyệt đối và tỷ trọng.
Còn chi điều trị mang tính chất hàng hóa tư nhân nên cần có sự huy động đóng góp
của người sử dụng nên tốc độ và tỷ trọng trong tổng chi NSNN có thể giảm dần.
Giữa chi phòng bệnh và chi điều trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động
lẫn nhau. Trong năm kế hoạch nếu tăng chi điều trị sẽ làm giảm chi chữa bệnh và
ngược lại. Nhưng xét trong giai đoạn trung hạn việc tăng chi phòng bệnh ở giai
đoạn trước sẽ làm giảm đi các chi phí điều trị ở giai đoạn sau, do nhân dân được
chăm sóc y tế và thực hiện phòng bệnh, Không để phát sinh những dịch bệnh lớn
nên sẽ giảm chi phí điều trị. Mặt khác việc phân phối NSNN giữa chi điều trị và
phòng bệnh cũng có ảnh hưởng đến mục tiêu công bằng và hiệu quả trong y tế.
Thực tế cho thấy hầu hết những người có thu nhập thấp thường ít có điều kiện để
đi khám, chữa bênh. Họ hầu như chỉ phụ thụ hưởng những dịch vụ phòng bệnh để
triển khai. Như vậy với cơ cấu chi NSNN cho y tế như trên thì vô tình khiến cho
những người giàu lại được nhà nước trợ cấp nhiều còn những người nghèo, ưu tiên

dụng đúng mục đích, không được bổ sung kinh phí từ chương trình mục tiêu, trung
ương phân bổ chương trình mục tiêu nhiều khi không sát với tình hình thực tế của
từng địa phương không điều chỉnh được kinh phí từ chương trình thừa sang
chương trình thiếu, dẫn đến việc thực hiện các chương trình kém hiệu quả, có chỗ
bị lãng phí, có chỗ lại không đủ nguồn lựuc đề thực hiện tốt.
Bắt đầu từ năm 2001, các khỏan kinh phí thực hiện chương trình mục tiêu
quốc gia ở cấp tỉnh được phân cho các tỉnh theo hình thức trợ cấp bỏ sung có mục
tiêu. Với xu thế phân cấp đang diễn ra trong lĩnh vực y tế, các chương trình mục
tiêu quốc gia trở thành một công cụ quan trọng để đảm bảo thực hình các mục tiêu
ngành và vai trò quản lý ngành của Bộ y tế. Phân cấp chi có nhiều lợi thế, cho phép
cấp chính quyền địa phương linh hoạt hơn và có thể đáp ứng nhu cầu của địa
phương tốt hơn, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Quy định này đã
khắc phục được hạn chế của phương thức cũ nhưng cũng gặp phải hạn chế là đối
với một số địa phương có khó khăn về ngân sách, địa phương có thẻ sẽ giảm bớt
kinh phí chương trình mục tiêu trung ương trợ cấp để sử dụng cho một mục tiêu
khác, do vậy làm mất ý nghĩa của việc chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia.
Một nối lo lắng khác là một số tỉnh không quan tâm, chú ý đầy đủ đến các dịch vụ
phòng chống bệnh tật và dịch vụ y tế công cộng.
Bộ y tế cũng lo ngại rằng sẽ không còn đủ các công cụ để kiểm soát việc
triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia khác nhau ở cấp tỉnh. Việc phân bổ
ngân sách chương trình mục tiêu quốc gia cho các Bộ ngành và địa phương còn
thiếu cơ sở thực tế và những tiêu quốc gia cho các Bộ, ngành và địa phương còn
thiếu cơ sở thực tế và những tiêu thức phù hợp. Về nguyêntắc các chương trình
quốc gia phải đóng vai trò là phương tiện cấp thêm ngân sách cho vùng khó khăn
và giải quyết các mục tiêu phòng chống bệnh tật cụ thể của từng tỉnh. Nhưng thực
tế đánh giá lại các chương trình gần như được phân bổ đồng dều cho các tỉnh mà
không tính đến mô hình bệnh tật đặc trưng của mỗi nơi. Điều này cho thấy cần
thiết phải xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia sát với thực tế từng địa
phương hơn, nhằm phân phối có hiệu quả nguồn tài chính
Bảng 3: Chi chương trình mục tiêu quốc gia Y tế giai đoạn 2001 - 2005

10.000 10.000 12.000 14.000 15.000
7 Phòng chống bệnh
Phong
12.000 10.000 10.000 11.000 14.000
8 Phòng chống bệnh
Lao
27.000 30.000 30.000 30.000 30.000
9 Phòng chống bệnh
SXH
14.000 15.000 15.000 18.000 23.000
10 Tiêm chủng mở
rộng
70.000 87.000 98.000 100.000 110.000
11 Phòng chống SDD
trẻ em
30.000 35.000 40.000 45.000 50.000
12 Bảo vệ SK tâm
thần cộng đồng
4.000 8.000 12.000 16.000 20.000
13 Bảo đảm VS ATTP 20.000 35.000 43.000 46.000 48.000
14 Phòng chống
HIV/AIDS
60.000 60.000 60.000 70.000 80.000
Nguồn: Vụ Ngân sách nhà nước – Bộ tài chính
Tình hình chi chương trình mục tiêu quốc gia cho y tế trong những năm gần
đây có một vài đặc điểm.
- Tỷ lệ chi ngân sách dành cho chương trình mục tiêu quốc gia trong chi
thường xuyên của NSNN cho lĩnh vực y tế được giữ ổn định trong gia đoạn 1991
-1995, tăng mạnh vào năm 1996, 1997 và sau đó giảm dần cuống. Nguyên nhân là
do việc chuẩn mục tiêu nâng cấp trang thiết bị y tế sang chi thường xuyên, khiến

toán chi thường xuyên của NSNN cho các bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương. Kừt quả thực hiện nhiệm vụ xây dựng và thực
hiện dự toán NSNN giai đoạn 2004 -2006 đã khẳng định hẹ thống định mức phân
bổ chi NSNN theo quyết định 139 là căn cứ quan trọng để xây dựng dự toán chi
thường xuyên đối với Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương; là cơ sở quan trọng
để cấp có thẩm quyền quyết định số bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương cho
ngân sách địa phương, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu igữ ngân sách
Trung ương và ngân sách địa phương của thời kỳ ổn định ngân sách 2004 - 2006
theo đúng quy định của luật NSNN.
Bảng 4: Định mức phân bổ chi sự nghiệp y tế theo Quyết định
Đơn vị tính: Đồng/người dân/năm
Vùng Mức phân bổ Hệ số so đồ thị
Đồ thị 32.180 1.00
Đồng bằng 35.400 1.10
Núi thấp – vùng sâu 44.780 1.39
Núi cao – hải đảo 58.050 1.80
Nguồn: Nghị định 139/2003/QĐ-TTg
Quyết định 139 quy định mức phân bổ dự toán ngân sách cấp chi thường
xuyên cho các cơ sở y tế dược giao ổn định và hàng năm tăng theo tỷ lệ do Chính
phủ trình Quốc hội quyết định phù hợp với cơ chế đổi mới quản lý tài chính đối với
sự nghiệp theo Nghị định số 10/2002/NĐ - CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về
chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu trong lĩnh vực Y tế và định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status