Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
DANH MỤC CHŨ VIẾT TẮT........................................................................4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NL : NGUYÊN LIỆU
TN : TỰ NHIÊN
RT : RỪNG TRỒNG
DTDNT : ĐẤT TRỐNG ĐỒI NÚI TRỌC
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngành công nghiệp sản xuất giấy và chế biến bột giấy của Việt Nam trong
những năm qua sự phát triển vượt bậc, với tốc độ tăng trưởng hàng năm luôn
nằm trong khoảng 15-16%, có từ 80.000 tấn/năm lên 824.000 tấn/năm. Hiện nay
ngành công nghiệp giấy của Việt Nam đóng góp một phần vào sự phát triển
chung của ngành công nghiệp chế biến lâm sản nói chung và ngành công nghiệp
cũng như nền kinh tế nói riêng. Ngoài những yếu tố như vốn đầu tư , công nghệ
trang thiết bị, dây chuyền sản xuất, nhà xưởng ....thì nguyên liệu có vai trò rất
quan trọng trong việc phát triển ngành công nghiệp chế biến giấy và bột giấy.
Trong quyết định 160 của Chính phủ về việc phát triển ngành công nghiệp giấy
cũng đã nêu bật nên vai trò của nguồn nguyên liệu.
Ngành trồng rừng nguyên liệu giấy mặc dù đã được Nhà nước quan tâm,
song trong giai đoạn sau Quyết định 160 cũng đã không đạt được mục tiêu trồng
mới là 1.000.000 ha rừng đã được đưa ra trong Quyết định 160. Nguồn vốn đầu
tư từ phía nhà nước rất hạn chế, nguồn vốn trong nhân dân, trong doanh nghiệp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không được tận dụng tốt, tất cả gần như đều chờ đợi vào sự hỗ trợ của Nhà nước.
Đất trồng rừng đã chia cho nông dân trồng và quản lý. Những vùng đất được quy
hoạch cho cây nguyên liệu giấy thì có chất lượng rất thấp, thậm chí khi trồng
loại cây trồng cho năng suất cao. Rừng tự nhiên hiện nay nước ta có (bao gồm cả
rừng gỗ và tre nứa) chỉ là đối tượng tận dụng trong giai đoạn đầu khi mà nguyên
liệu rừng trồng chưa đủ cung cấp cho nhà máy nguyên liệu giấy hoạt động.
Xây dựng vùng nguyên liệu giấy phải gắn liền với lợi ích, quyền lợi của
người lao động trồng rừng, thông qua các chính sách ưu đãi, ưu tiên cụ thể, nhất
là đối với các vùng có kinh tế khó khăn, địa hình trải rộng, phức tạp, giao thông
chưa phát triển , dịch vụ còn hạn chế. Đẩy mạnh quá trình xã hội hoá trồng rừng
nguyên liệu giấy, việc bảo vệ và phát triển rừng phải là trách nhiệm của tất cả
mọi người, các ngành các cấp, các tổ chức và của mỗi người dân.
Xây dựng vùng nguyên liệu cho nhà máy giấy không lệ thuộc vào ranh giới
hành chính giữa các tỉnh, mà được xây dựng trên quan điểm thu hút nguyên liệu
và lợi thế cạnh tranh, gắn với các vùng còn có nền kinh tế kém phát triển nhất là
các vùng có nhiều người dân tộc thiểu số làm động lực phát triển kinh tế, xã hội
trong vùng. Nhà máy được xây dựng ở vị trí thuận lợi về giao thông để tạo điều
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kiên thuận lợi tập kết nguyên liệu và là trung tâm của vùng nguyên liệu để phát
huy lợi thế, giảm chi phí vận chuyển, hạ giá thành sản phẩm.
2. Ý nghĩa của vùng nguyên liệu giấy.
Rừng nguyên liệu giấy có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế - xã hội như tạo việc
làm cho người dân, giảm tải nguồn kinh phí duy trì phủ xanh đất trống đồi trọc,
đồng thời nhà máy có nguyên liệu để sản xuất :
Vùng nguyên liệu giấy cung cấp nguyên liệu là điều kiện cần nhất cho ngành
công nghiệp chế biến giấy và bột giấy , đồng thời cung cấp nguyên liệu cho một
số ngành công nghiệp chế biến lâm sản khác như sản xuất ván nhân tạo….
Góp phần tăng diện tích đất rừng của cả nước, riêng đối với nhiều vùng
thường xuyên xảy ra lũ lụt hạn hán hay xói mòn đất thì rừng nguyên liệu giấy nói
riêng và các rừng phòng hộ khác có vai trò hết sức quan trọng.Ngoài ra vùng
nguyên liệu giấy còn làm giảm diện tích sa mạc hóa, phủ xanh đất trống đồi núi
trọc. Góp phần hoàn thành chỉ tiêu tỷ lệ che phủ của rừng đạt 43 - 44% trong
qua giá cả nguyên liệu giấy thế giới tăng liên tục nên các nhà máy sản xuất trong
nước gặp nhiều khó khăn trong khâu sản xuất vì thiếu nguyên liệu.
Phát triển vùng nguyên liệu giấy còn giải quyết sự mất cân đối giữa trồng
rừng và sản xuất bột. Do nhiều lý do khác nhau mà xảy ra tình trạng nhiều nơi
thiếu nguyên liệu để sản xuất nhưng lại có nơi nhà máy sản xuất không thu mua
hết phần nguyên liệu đã khai thác. Vì vậy nơi thừa nơi thiếu, nhiều nhà máy
không có nguyên liệu sản xuất nhưng lại có vùng thừa nguyên liệu dẫn đến sự
mất cân đối giữa trồng rừng và sản xuất bột giấy.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.2.Đối với nghành lâm nghiệp nói chung.
Quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với quy hoạch phát triển chung của ngành
nông nghiệp và phù hợp với quy hoạch cây trồng, điều kiện khí hậu và thổ
nhưỡng
Trong chiến lược phát triển nghành lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006-2010
cũng đã nêu lên tầm quan trọng của rừng sản xuất nói chung. Theo đó cần ưu tiên
phát triển theo quy hoạch các vùng nguyên liệu cho nghành công nghiệp chế biến
gỗ và nghành công nghiệp chế biến giấy , kết hợp trồng cây gỗ nhỏ mọc nhanh
với thời gian ngắn và cây gỗ lớn dài ngày, khuyến khích gây trồng các loại cây
đa dạng, đa mục đích và lâm sản ngoài gỗ và tre nứa. Mặt khác cần chú trọng
phát triển các loài cây lợi thế của Việt Nam, phù hợp với điều kiện khí hậu của
nước ta.
Xét về mặt kinh tế :
Phát triển vùng nguyên liệu giấy đóng góp vào giá trị lâm sản hàng năm của
nghành lâm nghiệp. Nâng cao sức cạnh tranh của sản xuất lâm nghiệp trong giai
đoạn mà Việt Nam đã gia nhập WTO, khi mà tất yếu chúng ta phải đối mặt với
những thách thức rất lớn từ bên ngoài đồng thời cũng mở ra nhiều cơ hội khi các
thị trường nước nước ngoài vẫn chưa được chúng ta quan tâm xây dựng thương
hiệu.
Thông qua việc hướng dẫn phương pháp, tập huấn cách thức trồng trọt, đồng
Phát triển vùng nguyên liệu gắn với nhà máy sản xuất bột giấy nhằm phát
triển kinh tế xã hội ở những vùng khó khăn trên cơ sở: giải quyết công ăn việc
làm cho nhân dân lao động đặc biệt là ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng
xa, xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn miền núi.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm cho người trồng rừng, góp phần xoá đói
giảm nghèo, nâng cao thu nhập của người trồng rừng, cải thiện và nâng cao cuộc
sống của đồng bào các dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Phát triển vùng nguyên liệu giấy góp phần nâng cao tỷ lệ che phủ của rừng,
cùng với hệ thống rừng của cả nước góp phần cân bằng môi trường sinh thái,
hạn chế thiên tai: lũ lụt, hạn hán và xói mòn đất. Đồng thời thì cũng góp phần
vào việc bảo tồn đa dạng sinh học trên các vùng nguyên liệu giấy.
4.2. Muc tiêu phát triển ngắn hạn.
Phát triển vùng nguyên liệu giấy nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cần
cung cấp cho việc sản xuất bột giấy của các nhà máy trong nước là 600.000 tấn
nguyên liệu vào năm 2010 và 1.800.000 tấn nguyên liệu vào năm 2020.
Phát triển vùng nguyên liệu giấy nhằm tạo cơ sở để xây dựng các nhà máy
chế biến bột giấy tập trung, có quy mô lớn với các dây chuyền sản xuất áp dụng
công nghệ tiến tiến của các nước phát triển, nhằm đẩy tăng năng suất lao động,
giảm thiểu chi phí sản xuất, tiết kiệm nguyên liệu, giảm thiểu ô nhiễm môi
trường. Nâng cao hiệu quả lao động cho các nhà máy sản xuất.
Phát triển vùng nguyên liệu giấy nhằm tạo ra việc làm cho khoảng 200.000
lao động ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Đưa quỹ đất chưa sử dụng tại các
vùng nguyên liệu giấy vào sản xuất, tạo ra hàng hoá, góp phần xoá đói giảm
nghèo vùng nông thôn miền núi và từng bước ổn định xã hội.
Phát triển vùng nguyên liệu giấy nhằm góp phần nâng cao thu nhập của
người trồng rừng nguyên liệu giấy trên cơ sở áp dụng khoa học công nghệ thâm
canh tăng năng suất, hạ giá thành, nhằm tạo ra sản phẩm có lợi thế cạnh tranh.
II . NỘI DUNG PHÁT TRIỂN VÙNG NGUYÊN LIỆU GIẤY
Đất đen
Đất quy hoạch trồng rừng nguyên liệu giấy có độ dốc <30
o
, tầng đất dày >50cm,
độ cao so với mực nước biển <1.000m, trong đó:
Đất có độ cao <700m chiếm 53 % diện tích trồng rừng nguyên liệu.
Đất có độ cao 700-1 000m chiếm: 47 % diện tích trồng rừng nguyên liệu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các loại đất để trồng rừng nguyên liệu giấy gồm:
Đất nâu đỏ phát triển trên đá Mác ma kiềm và đá vôi, đất đỏ vàng phát triển trên
đá sét và đá biến chất. Đất vàng đỏ phát triển trên đá Mác ma axit và đá cát.
Đất nâu vàng trên phù sa cổ.
Đất nâu tím phát triển trên Sa phiến thạch.
Các loài cây trồng có thể trồng được tại vùng Tây Bắc bao gồm :
+ Keo Mangium
+ Keo lai
+ Bạch đàn urophylla
+ Tre luồng
+ Thông mã vĩ
1.2. Diện tích phát triển .
Vùng nguyên liệu giấy Tây Bắc gồm 4 tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên
và Hoà Bình. Do lợi thế về khả năng vận chuyển thuỷ, nên nhà máy được xác
định đặt cạnh sông Đà để tránh vận chuyển ngược nguyên liệu và rút ngắn cự ly
tiêu thụ bột giấy. Tuy vậy, vùng nguyên liệu này cũng không thể khép kín toàn bộ
4 tỉnh.
Diện tích phát triển :
Đơn vị : ha
Số
TT
Mùa khô và lạnh kéo dài từ tháng 11 – 3 năm sau.
Nhiệt độ trung bình năm là 22 – 24
0
C. Lượng mưa trung bình năm từ 1500 –
2000mm tập trung 75 – 80% trong mùa mưa, cao nhất là tháng 7 thấp nhất là
tháng 12 và tháng 1. Nhìn chung, thời tiết thuận lợi cho việc phát triển lâm
nghiệp nói chung và trồng rừng nguyên liệu giấy nói riêng.
Diện tích trồng rừng nguyên liệu phân bố chủ yếu ở đai độ cao <300 m
(chiếm 65%), 35% diện tích còn lại ở độ cao 300-700m. Với điều kiện đất đai và
khí hậu vùng Đông bắc, nơi đây phù hợp với cây trồng nguyên liệu là thông mã
vĩ và keo các loại. Riêng tỉnh Lạng Sơn đã có kinh nghiệm trồng thông mã vĩ và
loài cây này phù hợp với điều kiện đất đai ở đây, có khả năng sinh trưởng tốt với
điều kiện khí hậu như vùng Đông Bắc .
2.2. Diện tích phát triển .
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Vùng này bao gồm các tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Kạn,
Thái Nguyên. Vùng phía nam gồm Bắc Giang, Thái Nguyên và một phần tỉnh
Quảng Ninh được quy hoạch trồng rừng phục vụ nguyên liệu gỗ trụ mỏ với quy
mô 94.000 ha.Còn Bắc Giang được quy hoạch phát triển cây ăn quả. Do vậy,
vùng nguyên liệu chỉ có thể phát triển ở Lạng Sơn và một phần tỉnh Quảng Ninh.
Diện tích phát triển
Đơn vị : ha
Stt Tỉnh
Tổng diện
tích (ha)
Rừng đã
trồng (ha)
Đất có khả năng trồng
rừng thâm canh (ha)
q
), hoặc trên đá macma axit (F
a
)…Ngoại
trừ đất phát triển trên phù sa cổ chiếm diện tích khá ở Vĩnh Phúc, còn lại đất phát
triển trên các loại đá khác ở Phú Thọ, Yên Bái đất đều có độ phì khá và tầng đất
sâu.
Đất đai chủ yếu thích hợp cho việc trồng rừng các loài cây mọc nhanh ưa
sáng tốt như Keo các loại, Bạch đàn Urophylla, một số nơi ở độ cao > 700m có
thể trồng Thông Mã vĩ. Còn các loài cây bản địa mọc nhanh khác như Bồ đề, Tre
luồng cần đất tốt chỉ có thể trồng được một vài khu vực ở Yên Bái - nơi còn tính
chất đất rừng.
3.2. Diện tích phát triển.
Vùng nguyên liệu giấy Trung tâm Bắc bộ trước đây đã xây dựng dự án về rừng
nguyên liệu giấy khả thi, mặt khác theo các kết quả rà soát các vùng nguyên liệu
của Viện lâm nghiệp Việt Nam khẳng định: đây là vùng có tiềm năng cao và khá
lý tưởng để mở rộng quy mô sản xuất bột giấy. Tổng diện tích phát triển rừng là
171.613 ha, phát triển theo từng tỉnh đã quy hoạch.
Diện tích phát triển
Đơn vị : ha
TT Tỉnh
∑ diện
tích
Rừng đã
trồng
Đất có khả năng trồng thâm
canh
Tổng vùng 171.613 111.916 59.697
1
Tuyên
Diện tích phát triển
Đơn vị : ha
số
TT
Tỉnh
Tổng diện tích Rừng đã trồng
Đất có khả năng
trồng thâm canh
Tổng vùng 157.797 67.998 89.799
1 Nghệ An 64.309 10.999 53.310
2 Thanh Hóa 93.488 56.999 36.489
Nguồn : Tổng công ty giấy Việt Nam
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tổng diện tích rừng cả vùng là 157.797 trong đó rừng đã trồng là 67.998 ha và
diện tích có khả năng trồng thâm canh là 89.799 ha.
5. Vùng nguyên liệu giấy Duyên hải Trung Bộ.
5.1. Điều kiện tự nhiên và khả năng phát triển cây trồng.
Các tỉnh Duyên Hải Trung Bộ bao gồm 8 tỉnh: Đà Nẵng, Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận. Với
tổng diện tích tự nhiên 4,5 triệu ha, chiếm 10,3% diện tích toàn quốc.
Điều kiện tự nhiên tại vùng này là biển và đồi núi chạy dài song song gần
1.000km và có chiều rộng hẹp. Nhìn chung địa hình vùng này giống như một
mái nhà, nóc nhà trùng với ranh giới các tỉnh Tây Nguyên và nghiêng về phía
biển. Đặc trưng địa hình của vùng này là độ dốc lớn, chia cắt mạch, độ cao so
với mặt biển từ 1 - 2m ở phía Đông, lên đến trên 2.000m ở phía Tây. Về mặt địa
hình, đất trồng rừng nguyên liệu giấy phân bố ở các đai độ cao như sau:
Diện tích có độ cao <300m chiếm 63% tổng diện tích.
Diện tích có độ cao 300-700m chiếm 37% tổng diện tích.
Vùng Duyên hải Trung Bộ nằm ở khu vực chịu ảnh hưởng của vành đai
không ngừng tăng, cung cấp nguyên liệu cho các dây chuyền sản xuất dăm mảnh
xuất khẩu. Riêng Bình Định, Bạch đàn ở đây được coi là một trong các dòng cho
năng xuất cao.
5.2. Phát triển diện tích.
Vùng này tập trung một số tỉnh vùng duyên hải từ Đà Nẵng đến Khánh Hoà
có đường quốc lộ IA xuyên suốt chiều dài toàn vùng. Đây cũng là vùng có lợi
thế rất lớn về cảng biển. Nhân dân địa phương đã có truyền thống trồng cây
nguyên liệu.
Vùng này theo đề xuất của tỉnh Bình Định sẽ xây dựng nhà máy sản xuất bột
giấy, nhưng nếu chỉ khép kín trong phạm vi tỉnh thì quỹ đất không đủ. Mặt khác,
khả năng mở rộng ra các tỉnh khác gặp khó khăn vì phía Tây đã có nhà máy
MDF Gia Lai, phía Bắc là vùng ảnh hưởng của dây chuyền dăm xuất khẩu Đà
Nẵng. Vùng có thể mở rộng là Phú Yên, nhưng nếu chỉ dừng lại phạm vi 2 tỉnh
thì quy mô không đủ lớn.
Diện tích phát triển
Đơn vị : ha
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
S
ố
tt
Tỉnh
Tổng diện tích
(ha)
Rừng đã
trồng
Đất có khả năng
trồng thâm canh
Tổng vùng 173.378 77.451 95.927
1 Quảng Nam 24.997 8.286 16.711
Đất xám vàng phát triển trên phù sa cổ, phân bố ven các sông lớn, nơi có
địa hình bát úp, độ dốc thấp.
Đất đỏ nâu, nâu đỏ, nâu phát triển trên đá Bazan, tầng đất dày giàu chất
dinh dưỡng, tuy nhiên do hàm lượng sét và limon cao nên mùa khô cứng, mùa
mưa thì dẻo dính, khó thoát nước.
Trên cơ sở đặc điểm khí hậu đất đai vùng quy hoạch phát triển nguyên
liệu, diện tích phù hợp để trồng các loài cây như sau:
Diện tích phù hợp với cây thông 3 lá (độ cao >700m): 57.699 ha
Diện tích phù hợp với Keo, Bạch đàn các loại độ cao <700m): 26.469 ha
6.2. Phát triển diện tích .
Quy mô của vùng nguyên liệu này gồm 2 tỉnh Kon Tum và Gia Lai.
Đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển thành vùng nguyên liệu giấy có
quy mô lớn. Diện tích đất có khả năng trồng rừng kinh tế nhiều và tập trung,
nhưng diện tích rừng trồng có khả năng cung cấp nguyên liệu hiện chưa nhiều.
Vùng nguyên liệu do điều kiện địa hình chi phối nên chủ yếu phù hợp với cây
Thông ba lá có chu kỳ dài (nhanh nhất là 15 năm/chu kỳ khai thác nguyên liệu).
Vùng nguyên liệu chỉ quy hoạch trên địa bàn tỉnh Kon Tum; trong khi khu vực
cạnh đó là phía Tây Bắc tỉnh Gia Lai rất có lợi thế phát triển rừng nguyên liệu
chưa được quy hoạch. Vùng này tiện đường vận chuyển, phân bố tập trung và có
thể phát triển cây nguyên liệu sợi ngắn có chu kỳ không quá dài như Thông ba lá.
Tổng diện tích của vùng là 105.079 ha trong đó rừng đã trồng là 20.911 ha và
đất có khả năng trồng thâm canh là 84.168 ha. Từ điều kiện tự nhiên trên mà phát
triển diện tích phù hợp với từng tỉnh.
Diện tích phát triển
Đơn vị : ha
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Số
tt
Tỉnh
Đất cần trồng
rừng thêm (ha)
Tổng số 828.173 389.066 439.107
1 Trung tâm Bắc bộ 162.515 111.916 50.599
2 Bắc Trung bộ 157.797 67.998 89.799
3 Duyên hải Trung bộ 173.378 77.451 95.927
4 Đông Bắc 105.864 76.325 29.539
5 Tây Bắc 120.056 30.851 89.205
6 Bắc Tây Nguyên 108.563 24.525 84.168
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nguồn : Tổng công ty giấy Việt Nam
Trong đó tiến độ trồng rừng theo quy hoạch là
TT Vùng nguyên liệu
Tổng diện tích
phát triển rừng
(ha)
Giai đoạn
2006-2010
(ha)
Giai đoạn
2011-2020
(ha)
Tổng số 828.173 469.999 907.400
1 Trung tâm Bắc bộ 162.515 101.500 203.000
2 Bắc Trung bộ 157.797 68.900 105.400
3 Duyên hải Trung bộ 173.378 108.500 217.000
4 Đông Bắc 105.864 66.000 132.000
5 Tây Bắc 120.056 75.000 150.000
6 Bắc Tây Nguyên 108.563 50.000 100.000
nông dân Việt Nam từ lâu đời, không thể thay thế hoàn toàn bằng rừng gỗ thuần
chủng mà chưa xem xét kỹ vấn đề cân bằng sinh thái lâu dài. Tre nứa là loại cây
mọc nhanh, có chu kỳ khai thác ngắn (2-3 năm), độ dài xơ sợi trung bình, mọc
nhiều và phát triển tốt ở khu vực Trung tâm Bắc bộ, Bắc Trung bộ và Đông Nam
bộ.
Ngoài ra, ở Việt Nam còn có một số loài nguyên liệu xơ sợi thân thảo
(không phải gỗ) làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy Việt Nam khá tốt
như rơm rạ, bã mía, cỏ bàng, đay...Sản lượng nguyên liệu này là rất lớn (Việt
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nam là nước nông nghiệp và có lượng xuất khẩu lúa gạo hiện nay đứng hàng thứ
hai thế giới), nhưng sử dụng làm nguyên liệu giấy thì mới ở dạng nghiên cứu.
Tiềm năng cung cấp nguyên liệu giấy trong phạm vi toàn quốc được quy
hoạch theo 6 vùng trên với tổng diện tích 773.092 ha, trong đó có 378.067 ha
rừng đã trồng và 395.025 ha rừng quy hoạch.
Khả năng cung cấp nguyên liệu hiện tại trên phạm vi 6 vùng đã xác định
chỉ có giới hạn và không thể khai thác hết và cung cấp đủ để đầu tư các nhà máy
sản xuất bột giấy vì quy mô của nhà máy bột giấy phải có công suất đủ lớn,
ngoại trừ dự án đầu tư mở rộng nhà máy giấy Bãi Bằng giai đoạn 2 và dự án
đầu tư nhà máy giấy và bột giấy Thanh Hóa với tổng công suất sau đầu tư của cả
2 dự án là 360.000 tấn bột giấy/năm.
Khả năng cung cấp nguyên liệu giấy đến năm 2020: Căn cứ vào quy mô
ranh giới và diện tích các vùng nguyên liệu đã quy hoạch, căn cứ vào diện tích
và năng suất rừng trồng nguyên liệu đến năm định hình, khả năng cung cấp
nguyên liệu hàng năm trên các vùng nguyên liệu giấy được xác định là có thể
cung cấp đủ cho ngành công nghiệp giấy Việt Nam sản xuất được khoảng
1.500.000 tấn bột giấy/năm 2020 từ nguyên liệu tre, nứa, gỗ
III . QUAN HỆ GIỮA VÙNG NGUYÊN LIỆU GIẤY VÀ NGÀNH CÔNG
NGHIỆP GIẤY
1. Vai trò của ngành công nghiệp chế biến giấy và bột giấy.
giấy vệ sinh, giấy viết có chất lượng thấp vì việc đầu tư vào các nhà máy giấy
đòi hỏi một chi phí khá lớn nên các doanh nghiệp tư nhân hầu hết là chưa đầu tư
nhiều vào máy móc và nhà xưởng.
Công nghiệp giấy phát triển tạo nên một sự tác động lớn đối với các ngành
công nghiệp khác như lâm nghiệp, hoá chất, khai thác than và điện năng. Sự tác
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
động này có tác dụng cân đối cơ cấu của sự phát triển của các ngành công
nghiệp liên quan , đặc biệt là ngành lâm nghiệp. Chỉ tính riêng cho ngành lâm
nghiệp, khi mà đầu tư mới 1 nhà máy sản xuất bột giấy với công suất 100.000
tấn/năm tiêu thụ khoảng 500.000 tấn cây nguyên liệu giấy/năm, có thể giải quyết
công ăn việc làm ít nhất cho khoảng 10.000 lao động tại khu vực trồng rừng
nguyên liệu giấy và khoảng 15.000 lao động các ngành kinh tế và dịch vụ khác
kèm theo. Và điều đó chính là một trong những động lực thúc đẩy công cuộc xoá
đói giảm nghèo, cải tổ kinh tế và xây dựng đất nước.
2. Quan hệ giữa vùng nguyên liệu giấy và ngành công nghiệp giấy.
2.1. Đánh giá chung các điều kiện yếu tố đầu vào cho phát triển ngành công
nghiệp giấy
Sự phát triển của ngành công nghiệp giấy gắn liền với khả năng phát triển của
các ngành nghề khác như ngành lâm nghiệp cung cấp nguyên liệu giấy, ngành
hoá chất cung cấp hoá chất, ngành điện và than cung cấp nhiên liệu và năng
lượng…Đây là những yếu tố đầu vào hết sức quan trọng đối với ngành công
nghiệp giấy. Ngành điện và than cung cấp năng lượng cho tất cả các lĩnh vực sản
xuất trên phạm vi cả nước đã có sự phát triển nhanh chóng với sản lượng khá dồi
dào phục vụ các ngành công nghiệp khác, vì vậy nên yếu tố đầu vào về năng
lượng điện và than cho ngành công nghiệp giấy Việt Nam nói chung đã được
đảm bảo để sản xuất giấy và các ngành công nghiệp khác.
2.2. Quan hệ giữa vùng nguyên liệu giấy và ngành công nghiệp giấy.
Riêng ngành lâm nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp giấy và các
ngành chế biến lâm sản khác đang là một vấn đề được Đảng và Nhà nước quan