Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ một doanh
nghiệp nào, nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất phải được ưu tiên hàng
đầu. Trong công nghiệp chế biến muốn tồn tại và phát triển phải gắn với vùng
nguyên liệu.
Qua 14 năm thu mua và chế biến kể từ năm 1986 đến nay Công ty cổ
phần mía đường Lam Sơn đã qua bao khó khăn có lúc tưởng chừng như không
thể vượt qua. Tình hình thực tế Công ty đứng bên bờ vực phá sản nhưng rồi lại
phát triển đi lên đem lại những thành quả tốt đẹp. Tất cả những thăng trầm ấy do
nhiều nguyên nhân đem lại, xong suy cho cùng một trong số những nguyên nhân
cơ bản quan trọng bậc nhất đó là vấn đề nguyên liệu cho nhà máy sản xuất.
Đủ nguyên liệu nhà máy chạy hết công suất, khai thác được tiềm năng săn
có của thiết bị, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, giá thành hạ, đem lại lợi nhuận
cao, nộp ngân sách Nhà nước tăng, công nhân có công ăn việc làm, đời sống ổn
định và ngày càng được nâng cao, công nhân gắn bó với nhà máy.
Thiếu nguyên liệu nhà máy hoạt động kém hiệu quả, lãng phí thiết bị máy
móc, khấu hao trên đầu sản phẩm tăng, sản xuất bị thua lỗ, công nhân không có
công ăn việc làm, đời sống ngày càng khó khăn.
Từ những vấn đề trên trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi có chủ
trương đường lối đổi mới của Đảng và các chính sách của Nhà nước về giao
quyền tự chủ cho sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. Công ty cổ phần
mía đường Lam Sơn đã chủ động đầu tư giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu cung
cấp cho nhà máy sản xuất ổn định và phát triển.
Hiện nay trong xu thế phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh, Công ty cổ
phần mía đường Lam Sơn đã mở rộng nâng cao công suất nhà máy lên 6.500 tấn
1
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ NGUYÊN VẬT LIỆU.
1. Khái niệm và mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu.
1.1. Khái niệm quản trị nguyên vật liệu và mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu.
- Các thuật ngữ khác nhau như quản trị nguyên vật liệu và cung ứng được
sử dụng như là mác chung cho quy mô toàn cục của tất cả các hoạt động được
yêu cầu để quản lý dòng nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp thông qua hoạt
động của doanh nghiệp đến sử dụng vật liệu cuối cùng, hoặc đối với người tiêu
dùng. Ta có khái niệm sau:
- Quản trị nguyên vật liệu là các hoạt động liên quan tới việc quản lý dòng
vật liệu vào, ra của doanh nghiệp. Đó là quá trình phân nhóm theo chức năng và
quản lý theo chu kỳ hoàn thiện của dòng nguyên vật liệu, từ việc mua và kiểm
soát bên trong các nguyên vật liệu sản xuất đến kế hoạch và kiểm soát công việc
trong quá trình lưu chuyển của vật liệu đến công tác kho tàng vận chuyển và
phân phối thành phẩm
(1)
.
- Mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu là:
+ Quản trị nguyên vật liệu nhằm đáp ứng yêu cầu về nguyên vật liệu cho
sản xuất trên cơ sở có đúng chủng loại nơi nó cần và thời gian nó được yêu cầu.
+ Có tất cả chủng loại nguyên vật liệu khi doanh nghiệp cần tới.
+ Đảm bảo sự ăn khớp của dòng nguyên vật liệu để làm cho chúng có sẵn
khi cần đến.
1
PGS.PTS Nguyễn Kim Truy (Chủ biên), 1999, trang 120
3
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
phục vụ cho lao động của công nhân viên chức (dầu nhớt, hồ keo, thuốc nhuộm,
thuốc tẩy, thuốc chống rỉ, hương liệu, xà phòng...)
Nhiên liệu: Là những thứ để cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản
xuất, kinh doanh như than, củi, xăng, hơi đốt, khí đốt...
Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết, phụ tùng để sửa chữa và thay thế cho
máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải...
Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các vật liệu và thiết bị (cần
lắp, không cần lắp, vật cấu kết, công cụ, khí cụ...) mà doanh nghiệp nhằm mục
đích đầu tư xây dựng cơ bản.
Phế liệu: Là các loại thu được trong quá trình sản xuất hay thanh lý tài
sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài (phôi bào, vải vụn, gạch, sắt...).
Vật liệu khác: Bao gồm các vật liệu còn lại ngoài các thứ chưa kể trên
như bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng
(2)
.
2.2. Vai trò nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu là một bộ phận của đối tượng lao động, là một bộ phận
trọng yếu của quá trình sản xuất kinh doanh, nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất kinh doanh nhất định và toàn bộ nguyên vật liệu được chuyển hết vào chi
phí kinh doanh.
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất (sức lao
động, tư liệu lao động và đối tượng lao động) trực tiếp cấu tạo nên thực thể của
sản phẩm.
Trong quá trình sản xuất không thể thiếu nhân tố nguyên vật liệu vì thiếu
nó quá trình sản xuất sẽ không thể thực hiện được hoặc sản xuất bị gián đoạn.
Chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản xuất,
chúng ta không thể có một sản phẩm tốt khi nguyên vật liệu làm ra sản phẩm đó
lại kém chất lượng. Do vậy cần có một kế hoạch đảm bảo nguồn nguyên vật liệu
2
6
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
3. Sự luân chuyển của dòng nguyên vật liệu.
Nắm bắt được sự luân chuyển của dòng vật liệu sẽ giúp cho nhà quản trị
nhận biết được xu hướng vận động, các giai đoạn di chuyển của dòng nguyên
vật liệu để có biện pháp quản lý một cách tốt nhất.
Một trong những đặc trưng nổi bật nhất của các doanh nghiệp lớn đó là sự
vận động. Với một số lượng lớn nhân lực và sự phức tạp của thiết bị có thể kéo
theo việc quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp. Các vật liệu dịch chuyển
từ hoạt động này sang hoạt động khác khi các yếu tố đầu vào được chuyển thành
các đầu ra thông qua quá trình chế biến.
Ta có sơ đồ sau:
Sơ đồ luân chuyển dòng vật liệu
Qua sơ đồ trên ta thấy, phần đầu vào của dòng vật liệu kéo theo những hoạt
động như mua, kiểm soát, vận chuyển và nhận. Các hoạt động liên quan tới
nguyên vật liệu và cung ứng nguyên vật liệu trong phạm vi doanh nghiệp có thể
bao gồm kiểm tra quá trình sản xuất, kiểm soát tồn kho và quản lý vật liệu. Các
hoạt động liên quan đến đầu ra có thể bao gồm đóng gói, vận chuyển và kho
tàng.
7
Bên bán Bên
Nhận h ngà
Nhận h ngà
Vận
chuyển
Đầu ra
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
- Xây dựng lịch điều hành sản xuất cho phù hợp với khả năng sẵn có của
nguyên vật liệu thưo công việc và tiến độ tồn đọng trước đó, xác định cho nhu
cầu sản phẩm và thời gian cho sản xuất.
- Giải quyết nhanh gọn hoặc hướng dẫn các phân xưởng sản xuất nhằm
thực hiện các tác nghiệp cần thiết để đáp ứng tiến độ sản xuất.
- Xuất vật liệu cho các phân xưởng hoạt động khi chức năng này không
được thực hiện bởi bộ phận kiểm tra vật liệu.
- Quản lý quá trình làm việc trong các bộ phận tác nghiệp xúc tiến công
việc của các bộ phận này sao cho nó có thể bám sát tiến độ và tháo gỡ những
công việc của một số phòng khi tiến độ thay đổi.
4.2. Hoạt động vận chuyển.
Chi phí vận tải và thời gian mà nó thực hiện để nhận được các sản phẩm
đầu vào hoặc phân phối sản phẩm của doanh nghiệp là hết sức quan trọng. Việc
lựa chọn địa điểm cho các phương tiện của doanh nghiệp có mối quan hệ cố hữu
với chi phí và thời gian từ sản xuất đến giao nhận. Sau khi địa bàn cho các
phương tiện được lựa chọn, thì chi phí và thời gian vận chuyển cho các hàng hoá
bên trong và bên ngoài đều có thể được kiểm soát đối với một số khu vực thông
qua bộ phận vận tải của doanh nghiệp. Bộ phận vận tải của doanh nghiệp có
trách nhiệm hợp đồng với người thực hiện để vận chuyển hàng hoá (bộ phận vận
chuyển có nhiệm vụ lựa chon các phương tiện và hình thức vận chuyển, kiểm
soát vận đơn để xem xét hoá đơn có hợp lệ không, phối hợp sao cho chi phí là
thấp nhất).
4.3. Hoạt động giao nhận.
Một số bộ phận của tổ chức thông thường là bộ phận tiếp nhận phải có
trách nhiệm đối với hàng hoá nhận ddưcợ của vật tư đến và sửa chữa, bảo dưỡng
và cung cấp. Bộ phận này có trách nhiệm:
- Chuẩn bị báo cáo tiếp nhận nguyên vật liệu.
9
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
tin là hạn chế. Do vậy nó ảnh hưởng tới việc định giá nguyên vật liệu, quản lý
nguyên vật liệu trong doanh nghiệp. Việc thay đổi giá cả thường xuyên là do:
- Tỷ giá hối đoái thay đổi làm cho các nguyên vật liệu nhập khẩu với giá
cũng khác nhau.
- Do các chính sách của chính phủ (quata, hạn ngạch...)
- Do độc quyền cung cấp của một số hãng mạnh.
3. Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý trong doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp ở nước ta hiện nay do việc xem nhẹ các hoạt động
quản lý liên quan tới nguồn đầu vào của doanh nghiệp cho nên ảnh hưởng rất
lớn tới kết quả kinh doanh. Một trong những yếu tố của việc xem nhẹ này là việc
đánh giá không đúng tầm quan trọng của yếu tố đầu vào (đặc biệt là doanh
nghiệp nhà nước) do trình độ của cán bộ quản lý còn hạn chế, số lượng đào tạo
chính quy rất ít, phần lớn làm theo kinh nghiệm và thói quen. Mặt khác là do
những yếu kém của cơ chế cũ để lại làm cho một số doanh nghiệp hoạt động
không năng động còn trông, chờ, ỷ lại...
4. Hệ thống giao thông vận tải.
Một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới công tác quản trị nguyên vật liệu là
hệ thống giao thông vận tải của một nơi, một khu vực, một quốc gia, những
nhân tố này thuận lợi sẽ giúp cho quá trình giao nhận nguyên vật liệu thuận tiện,
đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, làm cho mọi hoạt động không bị ngừng trệ
mà trở nên đồng đều, tạo ra mức dự trữ giảm, kết quả là ta sử dụng vốn có hiệu
quả hơn.
Thực tế đối với mỗi doanh nghiệp nguồn nhập nguyên vật liệu không chỉ
trong nước mà còn cả các nước khác trên thế giới. Như vậy hệ thống giao thông
vận tải có ảnh hưởng lớn tới công tác quản trị nguyên vật liệu của một doanh
nghiệp. Nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoặc kìm hãm một doanh nghiệp phát
11
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
hình cung cấp về tổng khối lượng nguyên liệu không thể dựa vào giá thực tế của
chúng mà phải biểu hiện khối lượng nguyên liệu thực tế cung cấp theo giá kế
hoạch. Ngoài ra cần dựa vào tỷ lệ hoàn thành kế hoạch cung cấp về tổng khối
lượng nguyên liệu.
2. Đảm bảo tình hình cung cấp về các loại nguyên liệu chủ yếu.
Trong thực tế sản xuất, doanh nghiệp có thể sử dụng vật liệu thay thế để
sản xuất sản phẩm song điều đó không có nghĩa là đối với mọi nguyên liệu đều
có thể thay thế được như: cây mía, cao su... Các loại nguyên liệu không thể thay
thế được gọi là nguyên liệu chủ yếu, tham gia cấu thành thực thể sản phẩm. Để
đảm bảo sản xuất không bị gián đoạn, trước hết doanh nghiệp phải đảm bảo
cung cấp đầy đủ các nguyên liệu chủ yếu.
Đảm bảo tình hình cung cấp về tổng khối lượng nguyên liệu mới chỉ biết
được nét chung về vấn đề này. Mọi nhân tố cá biệt đã được bù trừ lẫn nhau.
Ngay cả trong trường hợp doanh nghiệp hoàn thành vượt mức kế hoạch cung
cấp về tổng khối lượng nguyên liệu, nhưng tình trạng ngừng sản xuất vẫn xảy ra,
nếu doanh nghiệp không hoàn thành kế hoạch cung cấp về nguyên liệu chủ yếu
cho quá trình sản xuất.
Đảm bảo tình hình cung cấp về các loại nguyên liệu chủ yếu, nhằm mục
đích thấy rõ ảnh hưởng của việc cung cấp nguyên liêụ đối với việc đảm bảo tính
liên tục của chu trình sản xuất ở doanh nghiệp.
Khi đảm bảo cung cấp nguyên liệu không lấy nguyên liệu cung cấp vượt
kế hoạch để bù cho loại nào đó không đạt mức kế hoạch. Điều đó có nghĩa là
chỉ cần một loại nguyên liệu chủ yếu, khối lượng cung cấp thực tế thấp hơn kế
hoạch là đủ kết luận doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch cung cấp về các loại vật
tư chủ yếu.
Khi nhịp điệu sản xuất khẩn trương, việc nắm bắt kịp thời tiến độ cung
cấp các loại nguyên liệu chủ yếu là cần thiết đối với mọi doanh nghiệp sản xuất.
Bởi vì nó liên tục trực tiếp đến tiến độ sản xuất. Tuỳ thuộc trọng điểm nguyên
không đảm bảo sẽ dẫn đến tình trạng gây khó khăn cho sản xuất. Ngay cả trong
14
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
trường hợp chất lượng và quy cách nguyên liệu đảm bảo, nếu khối lượng sản
xuất không tăng mà tăng khối lượng nhập sẽ dẫn đến ứ đọng vốn. Vì thế, vấn đề
có tính nguyên tắc đặt ra cho công tác cung cấp nguyên liệu ở mỗi doanh nghiệp
cần phải quán triệt là: đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và
quy cách phẩm chất nhằm phục vụ tốt cho quá trình sản xuất kinh doanh ở bất
cứ doanh nghiệp nào.
4. Phát triển nguyên liệu trong công nghiệp chế biến nông sản
Chế biến nông sản là chế biến sản phẩm của ngành trồng trọt. Muốn có
nguyên liệu cho việc chế biến phải phát triển ngành trồng trọt.
Ngành trồng trọt cung cấp cho xã hội nhu cầu chủ yếu về lương thực cho
con người và gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, hoa quả, rau xanh
cho bữa ăn hàng ngày của con người, sản phẩm hàng hóa cho xuất khẩu và cũng
chính cây trồng của ngành nông nghiệp cung cấp cây xanh tạo nên lá phổi của
trái đất, góp phần cân bằng sinh thái cho quả đất chúng ta. Như vậy, sản phẩm
của ngành trồng trọt rất đa dạng và phong phú.
Ngành trồng trọt sản phẩm chủ yếu là sản phẩm cây trồng. Vì nó là sản
phẩm của ngành trồng trọt do đó sản lượng sản phẩm trước hết tuỳ thuộc vào
diện tích gieo trồng, năng suất cây trồng. Diện tích gieo trồng phụ thuộc vào
thiên tai, chất đất, loại đất và thời vụ mà người ta gieo trồng, nhiều loại giống
cây trồng khác nhau mỗi loại giống cây trồng có năng suất thu hoạch khác nhau
do đó khi thay đổi giống cây trồng, tức là thay đổi cơ cấu diện tích gieo trồng,
tuỳ năng suất từng loại cây trồng có thể thay đổi năng suất thu hoạch bình quân.
Nếu chúng ta thay đổi sản lượng cây trồng cuối cùng phải tiến hành cải tạo đất,
thứ hạng đất từ đó làm tăng năng suất tăng sản lượng cây trồng.
Vì vậy muốn tăng sản lượng cây trồng phục vụ cho công nghiệp chế biến
liệu hai nhà máy bị thải, bỏ.
Năm 1961 Nhà nước ta đầu tư xây dựng nhà máy đường Vạn Điểm công
suất 1.000 tấn mía/ngày. Qua bao nhiêu năm vẫn không đủ nguyên liệu cho nhà
máy sản xuất, từ năm 1962 đến 1983 trong 21 năm chỉ thu mua được 1.312.486
16
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
tấn mía, bình quân mỗi năm chỉ thu mua và chế biến được 62.516 tấn mía.
Trong khi đó yêu cầu nguyên liệu của nhà máy là 160.000 tấn/năm. Bước sang
thời kỳ đổi mới xoá bỏ bao cấp, mỗi năm nhà máy chỉ thu mua được 30.000 tấn
mía. Do không giải quyết được nguyên liệu từ năm 1996 đến nay nhà máy đóng
cửa không sản xuất và đang có phương án dỡ bỏ đi nơi khác.
Tiếp đó là nhà máy đường Sông Lam - Nghệ An cũng được xây dựng năm
1961, công suất 500 tấn mía/ngày, hàng năm yêu cầu 70.000 tấn mía nguyên
liệu nhưng trong suốt 20 năm hoạt động, bình quân mỗi năm nhà máy chỉ thu
mua và chế biến được 32.000 tấn, chưa đạt 50% nguyên liệu, hiệu quả sản xuất
thấp.
Cũng trong bối cảnh đó nhà máy đường Việt Trì - Vĩnh Phú trong nhiều
năm sản xuất bị thua lỗ, nợ Nhà nước ngày một tăng, nguyên liệu vận chuyển về
nhà máy 2 - 3 ngày mới đủ ép một ngày, cũng do thiếu nguyên liệu.
Nhà máy đường Lam Sơn công suất 1.500 tấn mía/ngày hàng năm yêu
cầu từ 225.000 đến 250.000 tấn mía để sản xuất ra 22.500 đến 25.000 tấn đường.
Được Nhà nước đầu tư xây dựng từ đầu năm 1980 đến cuối năm 1986 nhà máy
căn bản hoàn thành và đi vào hoạt động. Là nhà máy có quy mô hiện đại, thiết bị
toàn bộ của pháp, công nghệ sản xuất tiên tiến nhưng trong giai đoạn đầu từ
1986 - 1990 khó khăn nhất là thiếu nguyên liệu, liên tục trong suốt 4 năm liền
nhà máy chỉ sử dụng được 10% công suất thiết bị (vụ mía 1986 - 1987 thu mua
và chế biến 9.600 tấn mía, vụ bằng 4% công suất, vụ mía 1987 - 1988 thu mua
được 24.000 tấn mía, vụ mía 1988 - 1989 thu mua được 36.000 tấn mía bằng
góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của cả một vùng trung
du đồi núi của tỉnh Thanh Hoá. Từ một động thái kinh tế - xã hội kém phát triển
sang một giai đoạn mới - giai đoạn tạo những tiền đề ban đầu để chuyển sang
kinh tế phát triển mà nội dung của nó là chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp
chế biến gắn với nông nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước gắn với thị trường mà tài
chính tín dụng là sợi dây chuyền xuyên suốt trong qúa trình đó - sự chuyển dịch
này đã làm thay đổi nội dung sinh hoạt toàn vùng. Từ thực tiễn vùng Lam Sơn
18
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
có thể nói rằng sự ra đời của cơ sở công nghiệp chế biến cùng những bước tìm
tòi đổi mới cơ chế quản lý ở đây cũng chính là nội dung của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đối với nông thôn - nông nghiệp - nông dân theo tinh thần đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VII đã đề ra. Bước đi của Lam Sơn cũng chính là
bước đi thử nghiệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong một vùng nông
nghiệp lạc hậu tự cung, tự cấp, tự túc, không lệ thuộc vào thiên nhiên. Qua đánh
giá khái quát trên ta có thể xét vai trò của Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn
đối với quá trình phát triển nông thôn, nông nghiệp, nông dân trong vùng như
sau:
1. Giải quyết tốt mối quan hệ CN-NN-DV của vùng theo hướng Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Cơ sở công nghiệp chế biến ra đời từ một vùng nông nghiệp để tìm ra cơ
chế, hình thức kinh tế giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa kinh tế Nhà nước
với kinh tế hộ nông dân là một khâu đột phá là cuộc cách mạng sâu sắc trong kỹ
thuật sản xuất, được đặc trưng bởi công nghiệp chuyển hoá từ thủ công là phổ biến
sang kỹ thuật công nghiệp trở thành một nhân tố chủ đạo chi phối quá trình sản
xuất ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ sản xuất mới tác động trực tiếp
đến việc nâng cao năng suất lao động, sự thay đổi kỹ thuật dẫn đến những thay đổi
trong phương thức sản xuất rõ nét nhất là quan hệ giữa con người với tự nhiên
bước đầu tạo ra thế phân công lao
động trong nội bộ Xí nghiệp, tạo thêm đối tượng lao động, tạo thêm công ăn
việc làm cho con em trồng mía trong vùng, thêm sản phẩm cho xã hội.
Ý nghĩa của công nghiệp chế biến đường Lam Sơn không chỉ hạn chế
trong phạm vi bao trùm là sự tác động của nó đến một vùng nông nghiệp, nông
thôn đã qua nhiều thập kỷ chìm đắm trong kinh tế tự cấp, tự túc lệ thuộc vào
thiên nhiên. Công nghiệp đã tìm ra phương thức kết hợp để giải phóng hoạt
động kinh tế của vùng khỏi lĩnh vực nông nghiệp, thuần nông lấy đất đai làm
nền tảng duy nhất của sản xuất đồng thời giải phóng sinh hoạt kinh tế khỏi
phương thức sinh hoạt có tính tự nhiên. Với vai trò của công nghiệp trong sự
20
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
hợp tác liên kết mới nông dân trong vùng đã coi nhà máy đường Lam Sơn là của
người trồng mía, lợi ích của họ đã gắn bó với lợi ích của nhà máy và ngược lại.
Công nghiệp đã giải phóng hoạt động kinh tế của con người khỏi quan hệ trực
tiếp với đất đai, tạo ra không gian mới cho hoạt động kinh tế của vùng.
Như vậy công nghiệp xuất hiện tạo ra thế phân công lao động mới, kèm
theo sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá đa dạng từ các khâu sản xuất, dịch vụ,
chế biến, tiêu thụ. Ở đây hoạt động kinh tế chuyển hẳn trạng thái, chấm dứt tình
trạng sinh tồn bằng cách mỗi người tự tạo ra mọi sản phẩm để thoả mãn nhu cầu
của mình. Trạng thái kinh tế tự túc, tự cấp khép kín bị phá vỡ, biến sản phẩm
mía đường thành một cơ cấu chung, một nền sản xuất mang tính xã hội và đang
trong xu thế mở rộng phát triển đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao trong một
vùng nông thôn rộng lớn.
3. Thay đổi tư duy kinh tế của cư dân trong vùng.
Công nghiệp chế biến đường hình thành trên vùng Lam Sơn, không chỉ có
ý nghĩa là phát triển công nghiệp trong vùng nông thôn, tạo ra sự khác biệt về
phương thức kinh doanh mới đó là sự thay đổi từ cách tư duy tiểu nông sang tư
đẩy sự phát triển của toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn một vùng.
Phải chăng đây là thời cơ mới của vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn, phải
nắm lấy và hoàn thiện nó, khẳng định nó để tiếp tục phát triển. Như vậy khi lực
lượng sản xuất phát triển vận động theo xu hướng mới, công nghiệp hoá gắn liền
với hợp tác hoá, chuyển sang sản xuất hàng hoá thì mô hình tổ chức hợp tác
cũng chịu sự chi phối của quá trình đó.
Thực tế xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng Lam Sơn được thể hiện
qua bảng số liệu sau:
Cơ cấu kinh tế vùng Lam Sơn so với cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa
ĐVT: %
22
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Tỉnh Thanh Hóa Vùngmía Lam
Sơn
Huyện Thọ
Xuân
Năm 1990: 100 100 100
- Nông, Lâm, Thủy Sản 51,63 59,95 52,17
- Công nghiệp, Xây dựng 17,74 11,73 17,39
- Dịch vụ, Thương mại 30,63 28,32 30,43
Năm 1995: 100 100 100
- Nông, Lâm, Thủy Sản 45,99 54,60 43,11
- Công nghiệp, Xây dựng 20,09 14,53 24,80
- Dịch vụ, Thương mại 33,92 30,87 32,09
Với mô hình hợp tác đa thành phần, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế
Nhà nước chủ yếu là doanh nghiệp công nghiệp chế biến và ngân hàng đã làm
thay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng GDP của vùng. Tình hình ở
Lam Sơn đã chứng minh rằng nếu có cơ chế đúng phù hợp với thực tiễn thì quan
trồng mía đều không được quan tâm đầy đủ và rốt cuộc là Nhà máy thiếu
nguyên liệu không phát huy được công suất của một cơ sở công nghiệp chế biến
vừa mới ra đời. Liên tục trong 4 vụ liền, từ năm 1986 đến năm 1990, do thiếu
nguyên liệu và chất lượng nguyên liệu kém, Nhà máy mới chỉ sử dụng được xấp
xỉ 10% công suất thiết kế (năm 1986 - 1987 mua 9.600 tấn mía, bằng 4% công
suất thiết kế; vụ mía năm 1987 - 1988 mua được 24.000 tấn mía, vụ mía 1989 -
1990 mua được 26.000 tấn, bằng 12% công suất thiết kế. Nhà máy lúc này đã
đứng trước nguy cơ đóng cửa, thậm chí có phương án tháo dỡ nhà máy đưa vào
miền Nam.
24
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Tóm tắt, trước năm 1990 mặc dù với một hệ thống tổ chức sản xuất: hợp
tác xã, nông trường quốc doanh, doanh nghiệp công nghiệp chế biến, được hình
thành và đi vào hoạt động, nhưng cục diện kinh tế - xã hội trong vùng vẫn không
thoát khỏi trạng thái kinh tế chậm phát triển, tự cung, tự cấp.
- Ở khu vực kinh tế hợp tác xã, gần 100 hợp tác xã trong vùng chỉ là sự
cộng hợp các yếu tố đồng chất của kinh tế hộ nông dân còn lệ thuộc vào kinh tế
tự nhiên.
- Ở khu vực quốc doanh nông nghiệp, 3 nông trường quốc doanh vẫn chưa tạo
ra được điều kiện để phát triển sản xuất tự nuôi sống mình mà vẫn phải trông chờ
vào ngân sách nhà nước, do đó không phát huy được vai trò chủ đạo đối với vùng.
- Quốc doanh công nghiệp ra đời, nhưng do chưa tạo đủ điều kiện để tác
động đến kinh tế hộ nông dân, lại chưa tạo ra quan hệ kinh tế gắn bó lợi ích
nông dân với lợi ích nhà máy, nên đã kéo dài tình trạng thiếu nguyên liệu và
đứng trước nguy cơ thua lỗ.
Nhìn lại thực trạng vùng Lam Sơn trước năm 1990 có thể rút ra nhận xét
sau đây: Nếu không tạo lập được hình thức tổ chức và cơ chế quản lý phù hợp
thì dẫu đầu tư lớn vẫn không tạo ra được động lực làm thay đổi cục diện kinh tế