Tiểu luận những vấn đề chung về thừa kế theo pháp luật dân sự - Pdf 28

LỜI NÓI ĐẦU
Thừa kế là một quan hệ xã hội có từ lâu đời trong lịch sử tồn tại và phát triển
của xã hội loài người.Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật có nội dung kinh tế
xã hội sâu sắc, xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và phát triển cùng với sự
phát triển của xã hội loài người.
Quan hệ thừa kế và quan hệ sở hữu có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Nếu ta
xem quan hệ sở hữu là tiền đề cho quan hệ thừa kế xuất hiện thì quan hệ thừa kế có
tác dụng ngược lại để duy trì quan hệ sở hữu, ngay từ khi còn ở thời kỳ sơ khai
chưa có nhà nước và pháp luật thì thừa kế được thể hiện bằng việc chuyển dịch tài
sản của người chết dựa trên quan hệ huyết thống và được được điều chỉnh bằng
những phong tục tập quán của từng thị tộc bộ lạc.
Khi xuất hiện nhà nước thì pháp luật ra đời và pháp luật thừa kế cũng có từ đó.
Khi nói đến thừa kế là nói đến một quan hệ pháp luật mang tính đặc thù. Bởi vì
những người tham gia vào quan hệ pháp luật thừa kế là những người có mối quan
hệ huyết thống với nhau.Và nói đến pháp luật về thừa kế là nói đến hệ thống các
quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, quy định về di sản thừa kế, các điều
kiện, trình tự thủ tục chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống, và
điều đó cũng có nghĩa là người có tài sản trước khi chết có quyền định đọat tài sản
của mình cho người khác.
Có thể nói rằng quan hệ pháp luật về thừa kế là một quan hệ pháp luật hết sức
đặc thù và đặc biệt bởi vì đó là quan hệ pháp luật giữa những người có mối quan
hệ huyết thống với nhau. Chính vì thế luật sư đóng vai trò rất quan trọng trong
quan hệ pháp luật về thừa kế. Trong một vụ án về thừa kế Luật sư phải làm sao,làm
như thế nào để tư vấn cho khách hàng của mình trong trong mối quan hệ pháp luật
này- vừa bảo vệ được quyền và lợi ích một cách chính đáng cho khách hàng đồng
thời phải bằng sự am hiểu pháp luật của mình, bằng kỹ năng, bằng đạo đức của
một người luật sư phải tư vấn sao cho khách hàng xử sự sao cho đúng với truyền
thống đạo đức của cha ông ta, của dân tộc ta.

CHƯƠNG I
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ

hình sự, người đang bị quản chế hoặc bị tước một số quyền công dân…
1.1.2. Người thừa kế: (Điều 638 – BLDS 2005)
Người thừa kế là người được người chết để lại cho di sản theo di chúc hoặc
được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật. Trong thừa kế theo pháp luật thì
người thừa kế thông thường chỉ có thể là cá nhân, nhưng trong thừa kế theo di chúc
người được thừa kế có thể là cá nhân, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, cơ
quan Nhà nước.
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế
hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi
người để lại di chúc chết.
Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì cơ quan,
tổ chức đó phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Trong cả hai trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật thì những
người sau đây không có quyền được hưởng thừa kế:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về
hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm
nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác
nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có
quyền được hưởng.
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản
trong việc lậ[ di chúc, giả mạo, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm
hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý muốn của người để lại di
sản.
1.1.3. Thời điểm mở thừa kế:

Việc xác định thời điểm mở thừa kế rất quan trọng vì tại thời điểm đó mà xác
định được chính xác tài sản, quyền và nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản đó
gồm có những gì. Việc xác định tài sản mà người chết để lại rất quan trọng vì cần

sở hữu đã được quy định trong BLDS: Mọi công dân đều có quyền chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt đối với các loại tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình,
nghĩa là họ có quyền khai thác lợi ích vật chất và những lợi ích tinh thần cho bản
thân trong phạm vi quy định của pháp luật cũng như có thẩm quyền quyết định số
phận thực tế hay số phận pháp lý đối với tài sản của mình.
Tài sản riêng của người chết là tài sản do người đó tạo ra bằng thu nhập hợp
pháp (như tiền được trả công lao động, tiền thưởng, tiền trúng xổ số…); của cải để
dành (như tiền mua công trái, tiền gửi quỹ tiết kiệm, tín dụng…); tài sản được tặng
cho, thừa kế, tư liệu sinh hoạt riêng (nhu quần áo, giường, tủ, phương tiện đi
lại…); nhà ở; tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, vốn kinh doanh.
Ngoài ra, có nhiều trường hợp do cùng góp vốn để cùng sản xuất nên có khối
tài sản thuộc quyền sở hữu chung của nhiều người (đồng sở hữu chủ với một khối
tài sản nhất định). Trong trường hợp này di sản thừa kế của người chết là phần tài
sản thuộc sở hữu của người đó đã đóng góp trong khối tài sản chung.
Khác với hình thức sở hữu chung như trên, tài sản của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân là tài sản chung hợp nhất, nghĩa là trong khối tài sản chung đó không thể
phân định được của mỗi người là bao nhiêu. Theo khoản 2 - Điều 233 - BLDS thì
vợ chồng cùng nhau tạo lập phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi
người đều và mỗi người đều có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung đó. Khi một bên chết trước mà cần chia tài sản chung của
vợ chồng thì chia đôi. Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của
pháp luật về thừa kế. Vì vậy, khi một bên chết trước, một nửa khối tài sản chung
đó sẽ là tài sản của người chết và được chuyển cho người thừa kế theo di chúc
hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2.1.2. Người không được hưởng di sản:

Theo khoản 1 - Điều 646 – BLDS thì những người sau không được hưởng di
sản:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về
hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm

của nhau mà chết trong một tai nạn (như đắm tàu, thuyền, tai nạn ô tô, xe lửa, máy
bay…) mà không thể xác định ai chết trước.
Do đó để việc thừa kế được mở bình thường, Điều 644 – BLDS quy định:
trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết trong
cùng một thời điểm hoặc coi là chết trong cùng một thời điểm do không thể xác
định được người nào chết trước, thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di
sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng.
2.1.3. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại:
Người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết
để lại. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết
để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa
kế. Trong trường hợp di sản đã được phân chia, thì mỗi người thừa kế thực hiện
nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng với phần tài sản mà mình đã nhận.
Trong trường hợp nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng
phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.
2.1.4. Từ chối nhận di sản:
Người thừa kế cũng có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối
nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình với người khác. Việc từ
chối nhận di sản phải được lập thành văn bản, người từ chối phải báo cho người
thừa kế khác, người được giao phân chia di sản, công chứng Nhà nước hoặc
UBND xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.
Thời hạn từ chối nhận di sản là 6 tháng, kể từ ngày mở thừa kế.
2.1.5. Thời hiệu khởi kiện vụ án thừa kế:
Theo Điều 648 – BLDS, thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm kể từ
ngày mở thừa kế. Trong thời hạn này, người thừa kế có quyền yêu cầu Tòa án chia

thừa kế, xác định quyền thừa kế của mình, truất quyền thừa kế của người. Hết thời
hạn mười năm, người thừa kế không còn quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải
quyết tranh chấp về quyền thừa kế.
Trong thực tiễn, quan hệ pháp luật về thừa kế được phân chia thành hai trường

đoạt mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều 201 – BLDS quy định “… chủ sở hữu
có quyền tự mình bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện
các hình thức định đoạt khác đối với tài sản”. Vì vậy việc tôn trọng quyền lập di
chúc là một yếu tố để tôn trọng và khẳng định quyền sở hữu về tài sản của người
lập di chúc, vì khi lập di chúc để lại tài sản cho người khác thì chính công dân đó
đang thực hiện quyền định đoạt của mình đối với tài sản. Điều 634 đã khẳng định
“cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế
theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.
Người có di sản thực hiện quyền tự định đoạt của mình bằng cách:
3.2. Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế:
Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào.
Người được nhận di sản có thể là cá nhân trong hay ngoài diện thừa kế theo quy
định của pháp luật hoặc cũng có thể là Nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội…
Quyền định đoạt của người lập di chúc còn được thể hiện thông qua việc họ có
quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật mà không nhất
thiết phải nêu lý do, tức là trong di chúc, người lập di chúc chỉ định một hay nhiều
người thừa kế theo luật không được hưởng di sản thừa kế của mình hoặc chỉ định
một hoặc nhiều người được thừa kế toàn bộ di sản thì mặc nhiên những người khác
dù thuộc hàng thừa kế cũng không được quyền thừa kế (trừ thừa kế bắt buộc).

3.2.1 Phân định phần di sản cho từng người thừa kế:
Việc phân định tài sản cho người thừa kế được thực hiện trong trường hợp có
nhiều người cùng được thừa kế theo pháp luật. Người lập di chúc có quyền phân
chia di sản cho mỗi người thừa kế đó sẽ được bao nhiêu hoặc những loại tài sản
nào. Phần di sản cho mỗi người không nhất thiết phải ngang nhau mà người lập di
chúc không cần phải nêu lý do tại sao.
3.2.2. Dành một phần trong khối tài sản để di tặng, thờ cúng
Người có tài sản có quyền lập di chúc dành một khoản tiền, một tài sản khác
để tặng cho cá nhân trong hay ngoài diện thừa kế theo quy định của pháp luật hoặc
cũng có thể là tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế.

chí của họ nữa. Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng một di chúc
mới thì di chúc trước coi như bị hủy bỏ. Di chúc sau đã thay thế di chúc trước nên
di chúc trước không có hiệu lực pháp luật, mà chỉ di chúc sau mới có hiệu lực pháp
luật.
3.3.3.hủy bỏ di chúc:
Người để lại thừa kế từ bỏ quyền lập di chúc của mình bằng cách không công
nhận di chúc do mình lập ra là có giá trị. Trường hợp này được coi là không có di
chúc. Do vậy, di sản thừa kế sẽ được giải quyết theo trình tự thừa kế theo pháp
luật.
Do người lập di chúc khi còn sống có quyền thay đổi việc định đoạt nên họ có
thể để lại nhiều bản di chúc mà các bản di chúc có nội dung khác nhau thì di chúc
lập sau cùng sẽ có giá trị pháp lý. Nếu di chúc sau không nói rõ là hủy bỏ tất cả các
bản di chúc trước thì đối với di chúc trước chỉ bị huỷ bỏ những điểm nào không

phù hợp với nội dung bổ sung; nếu di chúc sau chỉ cụ thể hoá nội dung di chúc
trước thì cả hai di chúc đều có giá trị pháp lý.
3.4.hình thức di chúc:
Hình thức di chúc là sự biểu hiện ý chí của người để lại di sản thừa kế chứa
đựng nội dung của di chúc theo một trình tự kết cấu nhất định. Vì vậy hình thức
của di chúc phải tuân theo những quy định của pháp luật.
3.4.1.Di chúc bằng văn bản:
Người để lại di sản thừa kế có thể lập di chúc bằng hình thức viết theo một
trong các hình thức sau:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
- Di chúc bằng văn bản có chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn.
- Di chúc bằng văn bản có chứng nhận của công chứng nhà nước.
Nội dung của di chúc phải ghi rõ:
- Ngày, tháng, năm lập di chúc
- Họ tên và nơi cư trú của người lập di chúc

b. Di chúc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ hoặc một phần
trong các trường hợp sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với
người lập di chúc.
- Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn vào thời
điểm mở thừa kế.
- Di sản thừa kế không còn, hoặc chỉ còn một phần vào thời điểm mở thừa
kế Di chúc không có hiệu lực pháp luật nếu di sản để lại cho người thừa
kế không còn tại thời điểm mở thừa kế, nếu di sản để lại cho người thừa

kế chỉ còn một phần, thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu
lực.
- Khi di chúc có phần không hợp pháp : khi di chúc có phần không hợp
pháp và không ảnh hưởng đến phần còn lại, thì chỉ phầm đó không có
hiệu lực pháp luật.
- Khi có nhiều bản di chúc đối với một tài sản: Khi một người để lại nhiều
bản di chúc đối với một tài sản, thì chỉ di chúc sau cùng mới có hiệu lực
pháp luật.
3.6. Thừa Kế Theo Pháp Luật
Thừa kế theo pháp luật là việc chuyển tài sản của người chết cho những người
thừa kế không phải theo di chúc mà theo quy định của pháp luật.
3.6.1.Những trường hợp thừa kế theo pháp luật:
- Không có di chúc.
- Di chúc không hợp pháp.
- Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước người lập di chúc, cơ
quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm
mở thừa kế
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không
có quyền hưởng di sản, hoặc từ chối hưởng di sản.
3.6.2.Phần thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với những di sản

KHÁCH HÀNG TRONG VỤ ÁN THỪA KẾ
2.1. Đặc Điểm Các Vụ Việc Về Tranh Chấp Thừa kế :
Để thành công trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của thân chủ trong các vụ
việc tranh chấp thừa kế, Luật sư cần chú ý một số đặc thù riêng biệt trong tranh
chấp thừa kế.
• Đặc điểm thứ nhất đây là quan hệ tranh chấp liên quan đến những
người thân thích, ruột thịt trong gia đình, dòng tộc.
Tranh chấp xung quanh thừa kế di sản là loại tranh chấp nặng nề, phức tạp, ở
một khía cạnh nào đó liên quan đến tình cảm thiêng liêng nhiều lúc sâu lắng trong
tâm khảm không chỉ giữa những người đang tranh chấp mà vô hình chung nó liên
quan đến quan hệ với người đã quá cố để lại di sản thừa kế. Quan hệ tranh chấp
thoạt nhìn thì có vẻ như đơn giản, nhưng bên trong chứa chất mâu thuẫn phức tạp,
nặng nề và nhiều lúc rất gay gắt, sâu sắc.

Quan hệ tranh chấp thừa kế không chỉ liên quan đến một vài đương sự, nhiều
vụ việc thực tế liên quan đến rất nhiều người trong gia đình, họ tộc. Nếu giải quyết
không tốt nhiều lúc quan hệ tranh chấp tài sản thừa kế trở thành mối ung nhọt phá
vỡ tình cảm trong gia đình, họ tộc đã được hình thành qua nhiều thế hệ.
Thậm chí quan hệ tranh chấp đó có thể phá vỡ cả hệ thống tiêu chí đạo đức, mĩ
tục đã kết tinh thành truyền thống tương thân, tương ái của từng gia đình và dòng
tộc.Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ mình trong tranh chấp thừa
kế, Luật sư còn cần có trách nhiệm trong việc giữ gìn tình anh em, nghĩa đồng bào,
tình ruột thịt, và xa hơn là tình làng nghĩa xóm, vun đắp cho tình nghĩa gia đình
anh em ruột thịt và tạo cho xã hội ổn định và phát triển.
Đặc điểm thứ hai quan hệ tranh chấp về thừa kế gắn liền với nhiều yếu tố
truyền thống về gia phong, về gia tộc
có những quan hệ gắn với gốc rễ, cội nguồn của một gia đình, họ tộc, thậm
chí ở nhiều địa phương gắn với nhiều phong tục tập quán sắc tộc, quần cư Yếu tố
gốc gác cội nguồn thể hiện trong quan hệ thừa kế vừa cụ thể, vừa tế nhị - vì không
chỉ là quan hệ pháp lý đơn thuần, mà còn mang nặng tình cảm của từng cá nhân

Luật Hôn nhân - Gia đình của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mới có hiệu
lực từ năm 1961 nhưng do đất nước bị kẻ thù chia cắt nên luật này chỉ mới có hiệu
lực ở miền Bắc. Đến năm 1980, khi Quốc hội chung của cả nước thống nhất mới
có Nghị quyết về áp dụng văn bản quy phạm luật thống nhất chung cho cả nước
trong đó có Luật Hôn nhân - Gia đình. Do đặc thù lịch sử đó, quan hệ hôn nhân -
gia đình ở nước ta trong các giai đoạn lịch sử vừa qua là phức tạp, cùng với sự
chuyển dịch dân số, con người từ vùng này sang vùng khác trong điều kiện chiến
tranh làm cho quan hệ hôn nhân - gia đình càng phức tạp hơn.
Đặc điểm thứ bảy liên quan đến quan hệ thừa kế Trên đất nước chúng ta có
54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc có truyền thống và tập quán
riêng, liên quan đến thừa kế. Thậm chí cùng là một dân tộc nhưng ở mỗi vùng,
miền, địa phương lại tồn tại tập quán riêng về thừa kế mà tại địa phương đó đã
thành thông lệ, ví dụ như quyền thừa kế của con trai trưởng, hoặc thừa kế theo
huyết thống dấu ấn chế độ mẫu hệ hoặc tồn tại ý thức trong một số người quan

niệm trọng nam, khinh nữ trong quan hệ thừa kế. Những quan niệm phong kiến ở
nhiều nơi ăn sâu, bám rễ và là nguyên nhân gây nên sự tranh chấp về thừa kế.
Đặc điểm thứ tám: Đây là đặc thù gây không ít khó khăn trong giải quyết các
tranh chấp về thừa kế, đó là do trình độ pháp lý của dân chưa cao, nhiều người dân
không hiểu biết những quy định của pháp luật thừa kế. Họ không biết họ có quyền
gì và như thế nào. Thậm chí, những quy định về di chúc để lại thừa kế họ cũng
không biết, những quy định của pháp luật chia thừa kế theo pháp luật họ cũng
không nắm được. Những đặc thù này gây những phức tạp nhất định trong việc giải
quyết các tranh chấp về thừa kế.
2.2. Kỹ năng cần thiết của Luật sư khi nhận bảo vệ quyền, lợi ích cho thân chủ
trong các vụ tranh chấp về thừa kế.
2.2.1 Luật sư cần biết rõ về thân chủ:
Do đòi hỏi nghề nghiệp Luật sư trước hết phải biết về thân chủ, đây là cả một
vấn đề khoa học và nghệ thuật lớn. Để bảo vệ lợi ích cho thân chủ, Luật sư không
thể không biết rõ về thân chủ của mình, đặc biệt trong các vụ việc tranh chấp về

văn hoá giao tiếp. Bằng thái độ chân tình tìm hiểu xem thân chủ của mình mong
muốn đạt được gì, qua tiếp xúc, gặp gỡ họ có thể bộc bạch tất cả. Cách tiếp xúc,
gợi chuyện của Luật sư với thân chủ còn phụ thuộc vào thân chủ là bị đơn dân sự
hay nguyên đơn dân sự. Nếu thân chủ là nguyên đơn dân sự trong vụ việc tranh
chấp, thì cách đặt vấn đề, gợi mở phải phù hợp với yêu cầu của thân chủ, trường
hợp thân chủ lại là bị đơn dân sự trong vụ việc tranh chấp, thì Luật sư phải tìm
hiểu xem lý do tranh chấp, mức độ tranh chấp, giới hạn của tranh chấp, nội dung
phần yêu cầu của thân chủ đối với nguyên đơn, thái độ và quan điểm chủ quan của
thân chủ về hướng giải quyết tranh chấp.
2.2.2.2. Tìm hiểu yêu cầu của thân chủ qua đơn từ:
Đối với thân chủ là nguyên đơn dân sự, Luật sư cần nghiên cứu kỹ đơn kiện
của thân chủ. Qua nghiên cứu đơn khởi kiện để xác định xem thời hiệu khởi kiện
còn không, yêu cầu cụ thể của thân chủ gồm những gì:

Di sản, quyền tài sản, và tìm hiểu xem ngoài ra thân chủ có yêu cầu gì khác
không. Qua tiếp xúc và qua đơn, Luật sư phải nắm vững được mục đích thực tế,
mục đích sâu xa của thân chủ qua vụ kiện.Qua đơn của thân chủ, Luật sư có thể
nắm bắt nỗi niềm, dự cảm của thân chủ mình. Từ đó để Luật sư hiểu thêm về các
luận cứ mà thân chủ dựa vào đó đưa ra yêu cầu. Nghiên cứu đơn của thân chủ là
nguyên đơn dân sự, để Luật sư có thể giúp thân chủ hoàn chỉnh lại đơn, mở rộng
phạm vi, yêu cầu hoặc sơ bộ giới hạn yêu cầu Việc nghiên cứu kỹ đơn của thân
chủ nhằm xác định đúng yêu cầu của thân chủ, sẽ giúp cho Luật sư tìm những căn
cứ pháp lý và căn cứ thực tế chứng minh cho yêu cầu chính đáng của thân chủ và
sẽ không có những trục trặc khi phiên toà diễn ra. Tránh được tình trạng: ông nói
gà, bà nói vịt giữa thân chủ và luật sư.
Đối với thân chủ là bị đơn dân sự, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
thân chủ của mình, Luật sư phải nắm bắt căn cứ phản tố của thân chủ và những yêu
cầu mà thân chủ có thể đưa ra độc lập đối với nguyên đơn. Tìm hiểu những trăn
trở, băn khoăn của thân chủ, qua đơn phản tố, Luật sư có thể nắm bắt được tinh
thần mà thân chủ mình muốn giải quyết trong vụ việc, mức độ thoả hiệp, những

pháp luật cho phép có thể tiếp xúc với các nhân chứng và những người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của vụ việc tranh chấp thừa kế vì lợi ích của
thân chủ. Bằng nghệ thuật giao tiếp, và trình độ chuyên môn, Luật sư có thể
nắm bắt thêm những vấn đề liên quan đến vụ việc. Tìm hiểu quan hệ của họ
với thân chủ của mình. Nắm bắt ý kiến của những người mình tiếp xúc, làm
việc, để có thể định cho mình phương pháp, cách thức và đề xuất hướng giải
quyết vụ việc vì quyền, lợi ích của thân chủ phù hợp với pháp luật, thấu tình
đạt lý.
2.3.2. Luật sư cần xác định rõ di sản tranh chấp thừa kế
Như đã nêu ở đặc điểm thứ tư, mục I của bài này, quan hệ tranh chấp
thừa kế liên quan trực tiếp đến tài sản thừa kế và thường là những tài sản
vừa có giá trị kinh tế, vừa có ý nghĩa tinh thần. Nên để bảo vệ một cách có
hiệu quả quyền và lợi ích của thân chủ, luật sư phải xác định rõ tài sản đang
tranh chấp thừa kế. Di sản này là tài sản riêng của người chết và phần tài sản
của người chết trong tài sản chung của người khác - tính từ thời điểm mở

thừa kế.Luật sư phải xác định được đó là di sản thừa kế hợp pháp của người
để lại thừa kế.
Trong trường hợp cần thiết phải tra tìm cội nguồn, tập hợp các chứng
cứ, tài liệu cần thiết để chứng minh cho tài sản đó là di sản đang tranh chấp
của thân chủ mình, thì Luật sư nên dành công sức, thời gian thích đáng cho
xác minh điều đó.Đối với pháp luật nước ta, quyền sử dụng đất cũng thuộc
di sản thừa kế và được để lại thừa kế. Ngoài ra, di sản thừa kế còn có thể là
quyền tài sản (ví dụ: lợi ích từ bản quyền tác giả, tác phẩm, quyền phát
minh, sáng chế, quyền sở hữu công nghiệp ).
Khi xác định di sản tranh chấp, luật sư cần xác định rõ: giá trị di sản
tranh chấp, di sản là bất động sản hay động sản, nơi có di sản tranh chấp,
người quản lý di sản, các loại di sản, số lượng, chủng loại (nếu là vật, hàng
hoá, sản phẩm, cổ phiếu ). Nếu cần phải định giá di sản, thì nói rõ với thân
chủ, đề nghị thẩm phán thụ lý vụ việc yêu cầu thành lập hội đồng định giá

chức được hưởng thừa kế theo di chúc, thì cơ quan tổ chức đó phải tồn tại
vào thời điểm mở thừa kế.Nếu thân chủ là người sinh ra còn sống sau thời
điểm mở thừa kế, nhưng thành thai trước khi người để lại thừa kế chết, là
người có quyền hợp pháp hưởng quyền thừa kế theo di chúc hoặc theo quy
định của pháp luật.
2.3. Bảo vệ quyền, lợi ích cho thân chủ trong các vụ việc tranh chấp
thừa kế theo di chúc:
Trước hết, Luật sư cần xác định rõ di chúc đó có hợp pháp hay không
về điều kiện người lập di chúc, hình thức di chúc, nội dung di chúc, hiệu lực
pháp luật của di chúc, những quy định của di chúc có người làm chứng, có
di chúc không cần có người làm chứng, di chúc có chứng nhận của công
chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, các thủ tục lập di
chúc tại phòng công chứng và UBND xã, phường, thị trấn và quy định của
pháp luật về những người không được chứng nhận, chứng thực di chúc

Đặc biệt, Luật sư cần lưu ý khi di chúc có phần không hợp pháp mà
phần đó không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại, thì chỉ có phần
đó không có hiệu lực pháp luật. Hoặc trong trường hợp khi người để lại di
sản thừa kế có nhiều bản di chúc đối với tài sản, thì chỉ có bản di chúc sau
cùng mới có hiệu lực pháp luật.Trong trường hợp thân chủ của mình là
người thừa kế không phụ thuộc di chúc - tức là những người con chưa thành
niên, cha mẹ, vợ chồng, hoặc là con của người để lại di sản thừa kế đã thành
niên mà không có khả năng tự lao động kiếm sống, thì họ được hưởng 2/3 trị
phần được hưởng di sản theo pháp luật. Nếu như người để lại di chúc không
cho họ hưởng di sản thừa kế, hoặc cho họ hưởng ít hơn 2/3 kỉ phần theo
pháp luật, trừ trường hợp họ bị pháp luật cấm được hưởng quyền thừa kế.
Trường hợp thân chủ của Luật sư là người được hưởng di sản di tặng
của người để lại thừa kế, thì cần
lưu ý, thân chủ không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần
được di tặng. Người được hưởng di sản di tặng không được hưởng di sản đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status