NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ
NGHIỆP Y TẾ
1.1- Khái niệm, đặc điểm chi NSNN cho sự nghiệp y tế.
Ngân sách Nhà nước Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam là một hệ
thống thống nhất, bao gồm: Ngân sách Trung ương và Ngân sách các cấp chính
quyền địa phương. Ngân sách các cấp được phân định cụ thể nguồn thu và nhiệm
vụ chi của cấp mình theo luật NSNN .
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự
toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.
Cơ cấu chi của NSNN bao gồm hai khoản chi lớn và chủ yếu đó là: Chi
cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Chi thường xuyên của NSNN là quá
trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc
thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý Kinh tế - Xã hội và
đảm bảo An ninh quốc phòng .
Xét theo từng lĩnh vực chi thì chi NSNN cho sự nghiệp y tế là khoản chi
thường xuyên cho các hoạt động văn xã. Từ đó, ta có thể hiểu: Chi NSNN cho sự
nghiệp y tế là thể hiện quan hệ phân phôí, sử dụng vốn từ quỹ NSNN nhằm duy trì
và phát triển sự nghiệp y tế. Chi NSNN cho sự nghiệp y tế có đặc điểm:
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế cũng như các khoản chi thường xuyên
khác luôn mang tính ổn định khá rõ nét. Dù trong giai đoạn nào Nhà nước cũng
luôn phải chú ý đến việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, phát triển sự nghiệp y
tế và nhiệm vụ của ngành y tế cũng mang tính ổn định thường xuyên, đó là các
hoạt động khám chữa bệnh, phòng bệnh dịch, y tế dự phòng, . . nhằm chăm sóc và
không ngừng năng cao sức khoẻ cho nhân dân. Những khoản chi cho sự nghiệp y
tế phát sinh một cách đều đặn thường xuyên, bao gồm: Các khoản chi cho con
người; chi cho nghiệp vụ chuyên môn; chi cho công tác quản lý hành chính; chi
cho mua sắm tài sản, sửa chữa lớn tài sản cố định hoặc xây dựng nhỏ. Chính vì
vậy, có thể nói chi NSNN cho sự nghiệp y tế mang tính ổn định khá rõ nét.
Hoạt động của ngành y tế có ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của mỗi người
dân mà sức khoẻ là tiền đề tạo ra trí tuệ, tài sản quí giá nhất trong các tài sản.Trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia, quốc gia nào có lợi thế về nguồn
nhân lực ( Sức khoẻ và trình độ chuyên môn ) sẽ có lợi thế rất lớn trong quá trình
phát triển và xẽ phát triển nhanh hơn các quốc gia hạn chế về điều kiện này. Tốc
độ phát triển kinh tế xã hội phụ thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực chuyên môn
của mỗi người lao động, đội ngũ lao động không nắm vững khoa học công nghệ
hiện đại, không có những phẩm chất nhân cách phù hợp với công việc thì rất khó
có thể nâng cao trình độ sản xuất và tốc độ phát triển kinh tế. Qua đó ta thấy chi
NSNN cho sự nghiệp y tế không chỉ là một dịch vụ xã hội đơn thuần mà nó có tác
động rất lớn đến sự phát triển của một quốc gia. Xuất phát từ vai trò kinh tế to lớn
của chi NSNN cho sự nghiệp y tế đòi hỏi có sự quản lý sao cho thật phù hợp để với
một khoản chi nhất định nhưng chất lượng và hiệu quả của hoạt động kinh tế mang
lại là lớn nhất.
Chi NSNN cho sự nghiệp y tế còn có một vai trò xã hội rất lớn và cũng rất
dễ nhận biết đó là thực hiện công bằng xã hội. Trong xã hội ta, sự phân biệt giàu
nghèo còn khá lớn đó cũng là một quy luật tất yếu của nền kinh tế vận hành theo
cơ chế thị trường. Những người giàu thì khả năng thanh toán bằng tiền túi của họ
cho dịch vụ y tế là rất cao, điều kiện chăm sóc sức khoẻ tốt. Bên cạnh đó còn một
tầng lớp người nghèo có nguy cơ bị thiệt thòi không được khám chữa bệnh khi ốm
đau.
Theo số liệu điều tra mức sống dân cư Việt nam có được chỉ ra rằng
những người sử dụng bệnh viện công chủ yếu thuộc nhóm 20% có thu nhập cao
nhất, còn những người sử dụng trạm y tế xã lại thuộc nhóm 20% nghèo nhất,
nguyên nhân của tình trạng này là hầu hết các bệnh viện đều đặt ở thành thị thuận
lợi hơn cho ngươì dân thành thị đến khám chữa bệnh, bên cạnh đó chi phí trực tiếp
của cá nhân cho việc sử dụng các dịch vụ ở bệnh viện là lớn nên thường những cá
nhân có thu nhập khá hơn sử dụng.
Do việc mở rộng phạm vi của Bảo hiểm y tế đã củng cố thêm tình trạng trên
vì các cá nhân có BHYT thường khá giả hơn những người không có BHYT, cơ
định cuối cùng cho dự toán chi thường xuyên thuộc về Quốc hội. Quá trình tổ chức
thực hiện chi cho sự nghiệp y tế cũng phải căn cứ vào dự toán đã được duyệt mà
phân bổ và sử dụng, khâu cuối cùng là khâu quyết toán cũng phải lấy dự toán làm
căn cứ đối chiếu và so sánh.