I.Khái niệm và phân loại doanh nghiệp Error: Reference source not found
1.Khái niệm doanh nghiệp Error: Reference source not found
2. Phân loại doanh nghiệp Error: Reference source not found
3. Huy động vốn trong doanh nghiệp Error: Reference source not found
3.1 Vốn chủ sở hữu Error: Reference source not found
3.1.1 Vốn góp ban đầu Error: Reference source not found
3.1.2 Vốn từ lợi nhuận để lại Error: Reference source not found
3.1.3 Phát hành cổ phiếu Error: Reference source not found
3.2 Nợ vay Error: Reference source not found
3.2 1 Nguồn vốn tín dụng ngân hàng Error: Reference source not found
3.2 2Nguồn vốn tín dụng thương mại Error: Reference source not found
3.2 3 Phát hành trái phiếu Error: Reference source not found
3.3 Huy động vốn qua hình thức cho thuê tài chính Error: Reference source not
found
4. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp Error: Reference source not found
4.1 Khái niệm cơ cấu vốn trong doanh nghiệp Error: Reference source not found
4.2 Thiết lập cơ cấu vốn hợp lý cho doanh nghiệp Error: Reference source not
found
4.2.1 Khái niệm cơ cấu vốn hợp lý Error: Reference source not found
4.2.2 Căn cứ thiết lập cơ cấu vốn hợp lý Error: Reference source not found
5. Nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn tối Error: Reference source not found
5.1 Rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính Error: Reference source not found
5.2 Chi phí phá sản của doanh nghiệp Error: Reference source not found
5.3 Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp và đòn bẩy hoạt động. Error: Reference
source not found
5.4 Các yếu tố quản lý : Nhận thức, năng lực, sự mạo hiểm của nhà quản lý
Error: Reference source not found
5.5 Chính sách thuế Error: Reference source not found
I. Giới thiệu về Công ty TNHH Công Nghiệp & Thương Mại Trí Đạt Error:
Reference source not found
1. Các thông tin chung về công ty Error: Reference source not found
doanh nghiệp. Chính vì vậy trong khuôn khổ bài viết này, em muốn đề cập tới
một số điều mà các nhà quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ cần lưu tâm trong quá
trình xây dựng cơ cấu vốn hợp lý cho doanh nghiệp của mình qua đề tài thực tập
“ Phân tích thực trạng cơ cấu vốn và đề xuất một số giải pháp xây dựng cơ cấu
vốn hợp lý tại công ty TNHH Công Nghiệp & Thương Mại Trí Đạt.
3
I.Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
1.Khái niệm doanh nghiệp
Hiện nay có rất nhiều quan điểm đưa ra về khái niệm doanh nghiệp
- Quan điểm nhà tổ chức: doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy móc
thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích.
- Quan điểm lợi nhuận: doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, thông qua đó, trong
khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau,
nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường và thu khoản chênh
lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm.
- Quan điểm chức năng: doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực
hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuất đến
tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi.
- Quan điểm lý thuyết hệ thống: doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành trong hệ
thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác động tương hỗ lẫn nhau,
phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó
nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội.
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,
được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các
hoạt động kinh doanh” – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của
quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lợi.
2. Phân loại doanh nghiệp
Có nhiều hình thức phân loại doanh nghiệp. Nếu phân loại doanh nghiệp theo hình
thức sở hữu thì có những loại doanh nghiệp sau :
vào doanh nghiệp.
Công ty TNHH có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy phép chứng nhận kinh
doanh.
• Công ty TNHH một thành viên
Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
- Chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân và có thể là: Cơ quan nhà nước,
đơn vị vũ trang, các pháp nhân của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các loại doanh nghiệp, các tổ chức khác theo
quy định của pháp luật.
5
- Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điểu lệ cho
tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về chuyển đổi doanh nghiệp.
- Công ty không được phát hành cổ phần.
- Công ty có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn đối
với kết quả kinh doanh của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn
chế tối đa.
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ
trường hợp được quy định tại khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84 của luật doanh
nghiệp.
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn, theo
quy định của pháp luật về chứng khoán.
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn,
cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây;
- Trong Bất động sản, vốn chủ sở hữu là sự chênh lệch giữa giá trị hiện tại trên thị
trường của tài sản và phần nợ chủ sở hữu loại tàn sản ấy phải trả cho chủ nợ do đã đem
tài sản đó đi thế chấp. Vì vậy vốn chủ sở hữu sẽ là phần chủ sở hữu nhận được sau khi
bán đi tài sản đó và trả hết phần nợ thế chấp.
Tóm lại, vốn chủ sở hữu có rất nhiều nghĩa phụ thuộc vào ngữ cảnh sử dụng. Nhìn
chung có thể hiểu là phần sở hữu của chủ tài sản đối với bất cứ loại tài sản nào sau khi
số nợ liên quan đến tài sản đó đã được trả hết.
Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm ba bộ phận
a. Vốn góp ban đầu
b. Lợi nhuận không chia
c. Tăng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới.
3.1.1 Vốn góp ban đầu
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốn
ban đầu nhất định do các cổ đông – chủ sở hữu đóng góp. Mỗi doanh nghiệp tùy theo
hình thức sở hữu mà sẽ có phương thức tạo vốn riêng.
Theo luật doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp phải có một số vốn ban đầu nhất định để
xin đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của nhà nước.
Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước là nhà nước.
7
Đối với các công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định hình
thành nên công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công tyvaf chỉ chịu trách nhiệm
hữu hạn trên số vốn mà họ nắm giữ. Đối với các hình thức doanh nghiệp khác như
công ty TNHH, công ty có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài các nguồn vốn cũng
tương tự như trên ; tức là sô vốn cố thể do chủ đầu tư bỏ ra hoặc do các bên tham gia,
đối tác đóng góp.
3.1.2 Vốn từ lợi nhuận để lại
Quy mô số vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng, tuy nhiên số
vốn này cần phải được tăng lên theo quy mô phát triển của doanh nghiệp. Trong quá
trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp kinh doanh có hiệu
thời không lưu hành. Việc mua, bán lại cổ phiếu này tùy thuộc vào một số yếu tố : tình
hình cân đối vốn và khả năng đầu tư, tình hình biên động thị giá chứng khoán trên thị
trường, chính sách đối với việc sáp nhập hoặc thôn tính công ty, tình hình trên thị
trường chứng khoán và các quy định của Ủy ban chứng khoán Nhà nước, mệnh giá và
thị giá
Giá trị ghi trên mặt của cổ phiếu là mệnh giá, giá cả của cổ phiếu trên thị trường là thị
giá. Giá trị của của phiếu được phản ánh trong sổ sách của công ty được gọi là giá trị
ghi sổ, đó cũng chính là mệnh giá của cổ phiếu đã phát hành. Mệnh giá không chỉ
được ghi trên mặt của cổ phiếu mà còn được ghi rõ trong giấy phép phát hành và trên
sổ sách kế toán của công ty. Tuy nhiên mệnh giá chỉ có ý nghĩa khi mới phát hành cổ
phiếu và trong một thời gian ngắn sau khi cổ phiếu được phát hành. Thị giá phản ánh
sự đánh giá của thị trường đối với cổ phiếu, phản ánh lòng tin của các nhà đầu tư đối
vói tình hình hoạt động của công ty.
Thông thường, các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường có 1 quyền bỏ phiếu/cổ phiếu để
bầu ra ban Giám đốc (mặc dù số phiếu bầu luôn luôn không tương ứng về số lượng với
số cổ phiếu được sở hữu).
Ban Giám đốc là một nhóm các thành viên đại diện cho những người sở hữu công ty
và đưa ra các quyết định chính cho hoạt động của công ty. Những cổ đông thường
cũng có quyền bỏ phiếu liên quan đến các vấn đề khác của công ty như tách cổ phiếu
và xây dựng mục tiêu cho công ty. Ngoài quyền bỏ phiếu, các cổ đông thường còn có
quyền "ưu tiên mua trước". Quyền ưu tiên mua trước cho phép các cổ đông thường
duy trì tỷ lệ cổ phần của mình (bằng cách mua thêm cổ phiếu) trong trường hợp công
ty phát hành thêm cổ phiếu. Điều này có nghĩa rằng các cổ đông thường với quyền ưu
tiên mua trước có quyền nhưng không bị bắt buộc phải mua số cổ phiếu mới được phát
hành thêm để duy trì tỷ lệ cổ phần như cũ trong công ty.
Cổ phiếu ưu tiên
Cổ phiếu ưu tiên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành. Tuy
nhiên trong một số trường hợp việc dùng cổ phiếu ưu tiên lại là thích hợp. Cổ phiếu ưu
tiên có đặc điểm là nó thường có cổ tức cố định. Người chủ cổ phiếu này có quyền
được thanh toán lãi trước các cổ đông sở hữu cổ phiếu thường. Nếu lãi chỉ đủ trả cho
vay đầu tư tài sản cố định, cho vay đầu tư tài sản lưu động. Cho vay để thực hiện dự án
.
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm, nhưng nguồn vốn này cũng có
những hạn chế nhất định:
1. Điều kiện về tín dụng : Các doanh nghiệp muốn vay vốn tại các ngân hàng
thương mại phải đáp ứng được những yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng của
ngân hàng. Doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần
thiết mà ngân hàng yêu cầu. Trước tiên, ngân hàng phải phân tích hồ sơ xin vay
vốn, đánh giá các thông tin liên quan đến dự án đầu tư hoặc kế hoạch sản xuất –
kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn.
2. Điều kiện đảm bảo tiền vay: Khi doanh nghiệp xin vay vốn, ngân hàng thường
yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có bảo đảm tiền vay, phổ biến nhất là tài sản
thế chấp. Viêc yêu cầu người đi vay có tài sản thế chấp trong nhiều trường hợp
làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay do đó khiến cho
doanh nghiệp gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn này.
10
3. Sự kiểm soát của ngân hàng: Khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng, doanh
nghiêp phải chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng
vốn vay.
4. Lãi suất vay vốn: Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sủ dụng vốn. Lãi suất vay
vốn của ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng
thời kỳ. Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử
dụng vốn lớn và làm giảm thu nhập cho doanh nghiệp.
3.22Nguồn vốn tín dụng thương mại
nguồn vốn này được hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua
bán trả chận hay trả góp. Trong một doanh nghiệp nguồn vốn tín dụng thương mại
thường ở dưới dạng các khoản phải trả, có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn. Đối với
doanh nghiệp tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thương mại là phương thức tài trợ rẻ,
tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh; hơn nữa nó còn tạo điều kiện cho doanh
nghiệp mở rộng quan hệ buôn bán. Các điều kiện rằng buộc cụ thể có thể được ấn định
Việc phát hành trái phiếu, cũng cần chú ý đến mệnh giá ví nó có thể liên quan đến sức
mua của dán chúng. Đặc biệt ở Việt Nam, khi phát hành trái phiếu, doanh nghiệp cần
xác định một mức mệnh giá vừa phải vừa để nhiều người có thể mua được, tạo được
sự lưu thông dễ dàng cho trái phiếu trên thị trường.
Trái phiếu có lãi suất thay đổi
Loại trái phiếu này có lãi suất phụ thuộc vào một số nguồn lãi suất quan trọng khác
( lãi suất LIBOR, ) Khi phát hành loại trái phiếu này doanh nghiệp cần phải cân nhắc
thời điểm phát hành cũng như điều kiện khi phát hành, thường thì khi nền kinh tế đang
có lạm phát và lãi suất thị trường không ổn định thì doanh nghiệp có thể khai thác tình
ưu việt của loại trái phiếu này. Song bên cạnh đó trái phiếu này cũng có một số nhược
điểm khi phát hành đó là doanh nghiệp không thể biết chắc chắn về chi phí lãi vay của
trái phiếu, điều này sẽ ảnh hưởng đến việc quản lý tài chính của doanh nghiệp.
Việc quản lý trái phiếu đò hỏi tốn nhiều thời gian do doanh nghiệp phải thông báo các
lần điều chỉnh lãi suất.
Trái phiếu có thể thu hồi
Trái phiếu có thể thu hồi cũng là một hình thức lựa chọn khi doanh nghiệp thực hiện
phát hành trái phiếu. Khi phát hành loại trái phiếu này thì doanh nghiệp có thể mua lại
trong một thời gian nào đó. Trái phiếu như vậy phải được quy định ngay khi phát hành
và doanh nghiệp phải quy định rõ thời hạn cũng như giá cả khi mua lại trái phiếu.
Doanh nghiệp phát hành loại trái phiếu này sẽ có nhữnh ưu điểm như là điều chỉnh
được nguồn vốn sử dụng, thay thể nguồn tài chính của doanh nghiệp.
Chứng khoán có thể chuyển đổi
Các doanh nghiệp khi phát hành trái phiếu có thể kèm theo những điều kiện có thể
chuyển đổi được. Một số hình thức chuyển đổi : giấy bảo đảm ( người sở hữu giấy bảo
đảm có thể mua một số lượng cổ phiếu thường); trái phiếu chuyển đổi (loại trái phiếu
cho phép chuyển đổi thành một số lượng cổ phiếu nhất định).
Ngoài các hình thưc huy động vốn như trên còn có các hình thức huy động vốn khác
3.3 Huy động vốn qua hình thức cho thuê tài chính
Công ty cho thuê tài chính có những đặc điểm sau:
12
kinh doanh của doanh nghiệp.
Có rất nhiều yếu tố tác động đến cơ cấu vốn, do đó không có một cơ cấu vốn hợp lý
cho mọi doanh nghiệp, trong mọi chu kỳ sản xuất kinh doanh.
13
4.2 Thiết lập cơ cấu vốn hợp lý cho doanh nghiệp
4.2.1 Khái niệm cơ cấu vốn hợp lý
Mộy cơ cấu vốn được gọi là hợp lý khi chi phí vốn là thấp nhất đồng thời khi đó, giá
trị thị trường của cổ phiếu của doanh nghiệp cũng là cao nhất.
Như vậy căn cứ để xác định cơ cấu vốn hợp lý cho doanh nghiệp đó là chi phí vốn và
giá trị thị trường của cổ phiếu. Tuy nhiên giá trị thị trường của cổ phiếu là tiêu chí
mang tính khách quan, không phải chỉ do những yếu tố nọi tại của chính sách quản lý
vốn của doanh nghiệp quyết định. Giá cổ phiếu trên thị trường có thể là cao nhất
nhưng không phải vì một yếu tố khách quan nào đó tác động. Chi phí vốn thấp nhất sẽ
dẫn đến giá cổ phiếu trên thị trường là cao nhất.
Do vậy, thiết lập cơ cấu vốn hợp lý sẽ dựa trên cơ sở xác định chi phí vốn thấp nhất.
Tuy nhiên các doanh nghiệp không thể đạt được cơ cấu vốn hợp lý mà chỉ có thể tiến
gần tới điểm hợp lý đó. Khi cơ cấu vốn của doanh nghiệp chưa đạt đến mức hợp lý thì
doanh nghiệp có thể sử dụng thêm nợ. Ngược lại khi cơ cấu vốn của doanh nghiệp đã
vượt qua điểm hợp lý thì việc sử dụng thêm nợ sẽ gây bất lợi cho doanh nghiệp.
Như vậy có thể thấy việc thiết lập cơ cấu vốn hợp lý cho doanh nghiệp là nội dung
quan trọng trong chính sách quản lý vốn của doanh nghiệp. Bất kỳ doanh nghiệp nào
khi xây dựng chính sách quản lý vốn cùng nhằm vào mục đích huy động được vốn với
quy mô tối đa, xác định cơ cấu vốn hợp lý và duy trì được cơ cấu vốn hợp lý.
4.2.2 Căn cứ thiết lập cơ cấu vốn hợp lý
chi phí vốn
Để có thể xác định được một cơ cấu vốn hợp lý cho doanh nghiệp thì việc nghiên cứu
chi phí vốn rất quan trọng. Việc xác định chi phí vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp có căn
cứ để thiết lập cơ cấu vốn hợp lý.
Chi phí vốn được hiểu là chi phí bỏ ra để sử dụng một nguồn vốn nào đó. Nếu doanh
nghiệp vay vốn ngân hàng thì lãi vay và các chi phí khác để tiếp cận với vốn vay ngân
hình định giá tài sản tài chính CAMP.
Mô hình tăng trưởng cổ tức DGM
Mô hình DGM được nghiên cứu dựa trên thu nhập từ cổ phiếu là giá trị hiện tại của
các dòng tiền thu được từ cổ tức, với một tỷ lệ tăng trưởng cổ tức nhất định hàng năm.
Nếu Po là giá cổ phiếu tại thời điểm hiện tại, P1 là giá cổ phiếu tại thời điểm năm
sau. Di là cổ tức nhận được cuối năm thứ I, khi đó ta có:
Po = D1/(1+R) + D2/(1+R)+
- Chi phí của lợi nhuận giữ lại
Chi phí của lợi nhuận giữ lại chính là chi phí cơ hội đối vớ việc sử dụng lợi nhuận giữ
lại của nhà đầu tư. Thay vì nhận được cổ tức vào cuối năm, các cổ đông đồng ý cho
doanh nghiệp giữ lại lợi nhuân với điều kiện việc giữ lại lợi nhuận sẽ tái đầu tư để tạo
ra một tỷ suất sinh lời trong tương la cao hơn tỷ lệ chi trả cổ tức hiện tại.
Như vậy đối với doanh nghiệp để có thể sử dụng lợi nhuân để tái đầu tư doanh nghiệp
phải mất chi phí vốn, đó chính là tỷ suất sinh lời nhà đầu tư yêu cầu đối với doanh
nghiệp. Có ba phương pháp để xác định chi phí này.
15
Phương pháp lãi suất trái phiếu cộng phần bù rủi ro
Bất kỳ nhà đầu tư nào cũng có thể tiếp cận cơ hội đầu tư ít rủi ro nhất đó là đầu tư vao
trái phiếu chính phủ , khi đó lãi suất nhận được là thấp nhất. Do vậy thay vì nhận được
cổ tức từ trái phiếu chính phủ nhà đầu tư đồng ý cho doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận .
Vì thế chi phí của việc giữ lại lợi nhuận đối với doanh nghiệp chính là cơ hội có được
lợi nhuận do đầu tư vào trái phiếu chính phủ của nhà đầu tư cộng thêm một mức phần
thưởng rủi ro α.
Ks = lãi suất trái phiếu + phần thưởng rủi ro
Phương pháp này tương đối dễ áp dụng vì lãi suất trái phiếu chính phủ được công bố
công khai, tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là hệ số α không phản ánh
chính xác mức độ rủi ro của doanh nghiệp.
Phương pháp mô hình tăng trưởng cổ tức
Cơ sở của phương pháp này là thay vì nhận được cổ tức thì các cổ đông sẽ nhận được
một lượng cổ phiếu tương ứng với giá trị cở tức nhận , Khi đó chi phí của việc giữ lại
ta phải quan sát và đo lường danh mục đầu tư hiệu quả này. Điều này là vô
cùng khó vì thị giá và tỷ trọng của các tài sản biến động không ngừng.
(iii) CAMP dựa trên sự sẵn có của tài sản phi rủi ro ở mức lái suất đi vay và cho
vay bằng nhau. Trêm thực tế sự khan hiếm của tài sản phi rủi ro là luôn xảy
ra.
• Chi phí trung bình của vốn
Một doanh nghiệp không sử dụng một loại vốn đơn lẻ mà sẽ kết hợp nhiều loại vốn
khác nhau. Do vây chi phí vốn của doanh nghiệp sẽ được tính toán dựa trên chi phí
bình quân gia quyền của các nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng. Tuy nhiên doanh
nghiệp sẽ lựa chọn các nguồn vốn sao cho chi phí bình quân gia quyền là thấp nhất.
Giả sử một doanh nghiệp sử dụng D: nợ, E: vốn chủ sở hữu. Khi đó tổng giá trị thị
trường của doanh nghiệp là V, V= D+ E. Tiếp theo giả sử chi phí của nợ là Kd, chi phí
của vốn chủ sở hữu là Ke. Do chi phí mợ chịu tác động của thuế thu nhập doanh
nghiệp t nên khi đó chi phí bình quân gia quyền của vốn được xác định như sau:
WACC = D/V* Kd (1- t) + E/V*Ke
Ta có thể thấy chi phí bình quân của vốn bao gồm chi phí nợ và chi phí vốn chủ sở
hữu. Chi phí nợ chịu tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp nên sẽ giảm đúng bằng
phần tiết kiệm nhờ thuế. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp càng lớn thì chi phí nợ
càng thấp. Đây chính là cơ sở của việc sử dụng đòn bẩy tài chính.
Chi phí vốn trung bình của doanh nghiệp sẽ thay đổi khi một trong các nguồn vốn
riêng lẻ có chi phí thay đổi. Có hai lý do làm cho chi phí vốn sẽ thay đổi. Một là do
hoạt động đầu tư của doanh nghiệp tăng rủi ro, khi đó nhà đầu tư sẽ đòi hỏi tỷ suất lợi
nhuận cao hơn để bù đắp mức độ rủi ro tăng lên. Do đó chi phí vốn sẽ tăng lên. Hai là
do cung cầu vốn trên thị trường thay đổi. Khi cầu về vốn tăng hay doanh nghiệp muốn
huy động thêm một lượng vốn mới thì chi phí vốn hay lãi suất thị trường sẽ tăng lên
tương ứng vì lượng cung vốn trên thị trường lúc này đang thấp hơn so với nhu cầu của
các doanh nghiệp. Do vậy chi phí bình quân gia quyền của vốn sẽ thay đổi theo từng
thời kỳ.
17
Sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận
Nếu không có tác động của thuế, công thức tính WACC = (E/V)*Re + (D/V)* Rd
Trong đó V = D + E là tổng giá trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó chi phí trung bình của
vốn được xem như tỷ suất sinh lời cần thiết đối với tổng tài sảm doanh nghiệp. Nếu ta
sử dụng Ra thay cho WACC khi đó công thức trên sẽ thành
Ra = (E/V)*Re + (D/V)* Rd
Rd= Ra + (Ra – Rd)(D/E)
18
Đây là công thức của mô hình 2. Theo mô hình này chi phí vốn chủ sở hữu phụ thuộc
vào ba nhân tố : tỷ lệ lãi suất yêu cầu đối với tổng tài sản doanh nghiệp Ra, chi phí nợ
của doanh nghiệp Rd, và tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu.
Trong mô hình M & M 2 ta thấy chi phí vốn chủ sở hữu bao gồm hai bộ phận. Bộ
phận thứ nhất Ra – tỷ lệ lãi suất yêu cầu đối với các tài sản của doanh nghiệp, tỷ lệ này
phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Rủi ro tiềm ẩn trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đươck gọi là rủi ro kinh doanh. Rủi
ro kinh doanh gắn liền với rủi ro hệ thống và có thể đa dạng hóa được.
Bộ phận thứ hai là ( Ra – Rd)* (D/E) được xác định bởi cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp không sử dụng nợ chỉ tiêu này bằng không. Khi doanh nghiệp
bắt đầu huy động nợ, tỷ lệ lãi suất yêu cầu đối với vốn chủ sở hữu tăng lên. Điều này
là tất nhiên vì khi doanh nghiệp huy động thêm nợ, rủi ro đối với các cổ đông tăng lên.
Rủi ro tăng lên khi doanh nghiệp sử dụng thêm nợ được gọi là rủi ro tài chính.
Do vậy tổng rủi ro của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận : rủi ro kinh doanh và rủi ro
tài chính. Bộ phận thứ nhất rủi ro kinh doanh phụ thuộc vào các loại tài sản và hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chứ không phụ thuộc vào cơ cấu vốn. Bộ
phận thứ hai rủi ro tài chính sẽ được phụ thuộc vào chính sách tài trợ của doanh
nghiệp
Chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ tăng khi doanh nghiệp sử dụng thêm nợ
vì rủi ro tài chính tăng.
Mô hình M & M có tác động của thuế
Mô hình M & M 1 có tác động của thuế.
Sử dụng nợ có tác động tiêu cực và tích cực. Chi phí nợ là chi phí trước thuế, do vậy
vốn có sử dụng nợ đã mang đến cho các cổ đông một mức EPS cao hơn.
Vay sẽ là một biện pháp tốt là tốt nếu như doanh nghiệp có khả năng tạo ra được thu
nhập từ nợ vay nhiều hơn chi phí lãi vay và các chi phí liên quan kèm theo( nếu có).
Tuy nhiên, vay nợ đến một mức nào đó thì mỗi lượng nợ tăng thêm sẽ trở nên rủi ro
hơn và doanh nghiệp sẽ đối mặt với những chi phí phát sinh khác như chi phí hao mòn
doanh nghiệp, chi phí phá sản… Do đó doanh nghiệp nào luôn tin rằng vay nợ tốt và
cứ thế vay nhiều đến mức mất khả năng chi trả lãi vay đúng hạn thì nguy cơ phá sản là
không có gì phải bàn cãi. Tình hình sẽ tệ hại hơn nữa nếu doanh nghiệp nằm trong
ngành có sự cạnh tranh gay gắt, khó khăn của bạn chính là thời cơ cho đối thủ chiếm
lĩnh thị phần.
5. Nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn tối
5.1Rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính
20
Mô hình M & M tình huống 2 đã chỉ ra rằng chi phí vốn chủ sở hữu được chia thành
hai bộ phận. Bộ phận thứ nhất Ra là tỷ lệ lãi suất yêu cầu trên tổng tài sản, phụ thuộc
vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của
doanh nghiệp được gọi là rủi ro kinh doanh. Rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp
càng cao thì Ra càng cao, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi chi phí vốn của
doanh nghiệp càng cao.
Bộ phận thứ hai của chi phí vốn chủ sở hữu ( Ra – Rd)* D/E được xác định bởi cơ
cấu vốn của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp sử dụng toàn bộ vốn chủ sở hữu
thì bộ phận này bằng không. Khi doanh nghiệp bắt đầu huy động nợ thì chi phí vốn
chủ sở hữu sẽ tăng. Vì khi đó xuất hiện rủi ro tài chính do sử dụng thêm nợ mà các cổ
đông phải gánh chịu.
Tổng rủi ro có hệ thống của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận : rủi ro kinh doanh và
rủi ro tài chính. Rủi ro kinh doanh sẽ phụ thuộc vào việc đa dạng hóa tài sản và hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, không phụ thuộc vào cơ cấu vốn. Bộ phận thứ
hai là rủi ro tài chính sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách tài chính của doanh
nghiệp. Chi phí vốn chủ sở hữu sẽ tăng khi doanh nghiệp sử dụng thêm nợ.
Rủi ro có hệ thống là một trong những yếu tố quyết định mức doanh lợi dự kiến của
hay tình trạng khủng hoảng tài chính sẽ phát sinh chi phí này. Một số doanh doanh
nghiệp khi rơi vào khủng hoảng tài chính có thể dẫn đến phá sản, tuy nhiên các doanh
nghiệp luôn cố gắng tìm cách khắc phục để vượt qua khủng hoảng.
Chi phí để tránh nguy cơ phá sản khi cac doanh nghiệp lâm vào tình trạng khủng
hoảnh tài chính gọi là chi phí phá sản gián tiếp. Chi phí khủng hoảng tài chính bao
gồm chi phí trực tiếp và phá sản gián tiếp liên quan đến quá trình phá sản hay tránh
nguy cơ phá sản của một doanh nghiệp.
5.3 Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp và đòn bẩy hoạt động.
Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp là tỷ trọng tài sản cố định trong tổng tài sản của
doanh nghiệp. Giữa cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn có mối liên hệ mật thiết phản ánh sự
phù hợp về ỳ hạn của vốn và tài sản. Một doanh nghiệp có tỷ trọng tài sản cố định cao
chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mang tính đầu tư dài hạn, tiềm ẩn rủi
ro lớn nên khi đó nếu một giám đốc ưa thích mạo hiểm sẽ tận dụng nợ để tạo ra đòn
bẩy tài chính. Ngược lại một giám đốc bảo thủ sẽ sử dụng vốn chủ sở hữu để giảm
thiểu rủi ro.
Như vậy cơ cấu đầu tư thể hiện ở cơ cấu tài sản khác nhau sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu
vốn của doanh nghiệp. Việc lựa chọn một cơ cấu vốn như thế nào phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan của doanh nghiệp.
Ảnh hưởng của cơ cấu tài sản đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp được thể hiện thông
qua cơ chế đòn bẩy hoạt động. Nếu như đòn bẩy tài chính là tận dụng nợ để tạo ra sự
gia tăng của thu nhập trên cổ phiếu ( EPS) thì đòn bẩy hoạt động chính là tạn dụng chi
phí cố định để gia tăng thu nhập trước thuế và lãi cho doanh nghiệp(EBIT). Độ lớn của
đòn bẩy hoạt động được đo lường bằng công thức sau :
DOL = Q(P- V)/ [Q(P-V) – F]
Trong đó DOL : mức độ của đòn bẩy hoạt động
Q : sản lượng tiêu thụ
22
P : giá bán
V : chi phí biến đổi
F : chi phí cố định
tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (EPS) tăng lên. Nhưng sử dụng nợ cũng có tác
23
động tiêu cực làm suy giảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp nhiều hơn so với
doanh nghiệp không sử dụng nợ.
5.5Chính sách thuế
Thuế là một công cụ điều tiết nền kinh tế rất quan trọng của nhà nước. Tuy nhiên nếu
doanh nghiệp hiểu và biết cách vận dụng linh hoạt thì sẽ tận dụng tác động tích cực
của thuế trong việc xây dựng cơ cấu vốn hợp lý. Khi doanh nghiệp sử dụng càng nhiều
nợ do tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp chi phí nợ sẽ được điều chỉnh thành
chi phí nợ sau thuế, doanh nghiệp được hưởng phần tiết kiệm nhờ thuế. Do vậy nếu
thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp càng cao thì doanh nghiệp sẽ tạo ra được đòn
bẩy tài chính dương dẫn đến tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu tăng.
5.6Mức độ hiệu quả của thông tin trên thị trường tài chính
Thị trường tài chính phát triển sẽ đảm bảo mức độ hiệu quả của thông tin trên thị
trường. Mức độ hiệu quả của thông tin trên thị trường tài chính được đo lường bằng lý
thuyết thị trường hiệu quả. Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng tất cả thông tin tác
động đến giá thị trường của các trái phiếu, cổ phiếu sẽ được sử dụng để định giá các
chứng khoán này. Một thị trường hiệu quả không để lãng phí thông tin. Theo lý thuyết
thị trường hiệu quả, thị trường tài chính không bỏ qua bất kỳ thông tin có thể tạo ra lợi
nhuận do vậy không một hoạt động mua bán nào diễn ra mà không có lợi nhuận.
24
Chương II
I. Giới thiệu về Công ty TNHH Công Nghiệp & Thương Mại Trí Đạt
1. Các thông tin chung về công ty
Tên công ty
Tên tiếng việt : Công ty TNHH Công Nghiệp & Thương Mại Trí Đạt
Tên tiếng anh : Tri Dat Industrial & Comercial Company Limited
Tên viết tắt : TriDat Co. Ldt
Công ty TNHH Công Nghiệp & Thương Mại Trí Đạt được thành lập 22/8/2005 và là
công ty kinh doanh trong lĩnh vực mua, bán thiết bị máy móc, vật liệu xây dựng, dịch