Quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu - Pdf 28

PHẦN MỞ ĐẦU
Bảo vệ quyền sở hữu là một chế định pháp luật quan trọng trong hệ
thống pháp luật Việt Nam. Hiến pháp 1992 đã quy định rõ, Điều 58:
“Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành,
nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh
nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao
sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18.
“Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công
dân.”
Bộ luật dân sự 2005 đã giành 1 phần, với 6 chương, cùng 167 điều luật
để quy định những vấn đề xung quanh quyền sở hữu. Trong đó, bảo vệ quyền
sở hữu được quy định tại chương XV, với 7 điều luật. Là một chế định quan
trọng trong pháp luật Việt Nam, bảo vệ quyền sở hữu đồng thời là một vấn đề
rất bức thiết ở nước ta hiện tại, đó là vấn đề thực tiễn, khi nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển cao, xã hội phát triển nhanh,
các vấn đề mới nảy sinh thì các nhân tố đe dọa đến quyền sở hữu ngày càng
nhiều và đa dạng. Nhu cầu được bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của các chủ
thể pháp luật từ các quy định của pháp luật dân sự là rất lớn. Do đó, cần bàn
luận về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu, qua đó tìm ra được những phương hướng
và giải pháp nhằm hoàn thiện chế định về bảo vệ quyền sở hữu nói riêng và
BLDS nói chung.
NỘI DUNG
I. Quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu
1. Về quyền sở hữu
Quyền sở hữu là một chế định pháp luật quan trọng được Nhà nước quy
định nhằm xác định nội dung về sở hữu.Theo Điều 164 Bộ luật Dân sự
(BLDS) của Việt Nam:
“Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định
đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”.
Bộ luật dân sự đã đưa ra định nghĩa của quyền sở hữu bằng cách nêu ra
những quyền năng cơ bản của chủ sở hữu và chủ thể của quyền này, quyền sở

Trong một số trường hợp Nhà nước sử dụng biện pháp cưỡng chế bằng bạo
lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với một cá nhân hay tổ chức
nhất định về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ chức
phải thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi nhất định để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể khác, hoặc người đó phải phục
tùng một số hạn chế nhất định đối với tài sản của mình hoặc tự do thân thể
nhằm bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể khác.
Ngành luật hình sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định một số
hành vi nhất định xâm phạm đến quyền sở hữu là tội phạm và quy định mức
hình phạt tương xứng với mỗi loại hành vi phạm tội đó. Việc bảo vệ bằng biện
pháp hình sự mang tính chất trừng trị và răn đe. Người nào có hành vi xâm
phạm đến sở hữu XHCN (Điều 129 đến Điều 142 trong BLHS), sở hữu của
công dân (theo Điều 151 đến Điều 163 BLHS), thì phải chịu trách nhiệm pháp
lý tùy theo mức độ phạm tội.
Khác với các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu do luật hành chính và luật
hình sự, chủ thể thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu do Nhà nước thực
hiện thì thông qua biện pháp dân sự, cá nhân, tổ chức bị xâm phạm quyền sở
hữu có thể dùng các phương thức dân sự bảo vệ quyền sở hữu của mình:
• Tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu;
• Bảo vệ quyền sở hữu thông qua các phương thức kiện dân sự.
Thực tế cho thấy, chủ sở hữu chủ yếu sử dụng các phương thức dân sự
để bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình. Bài viết này
của em chỉ đề cập đến bảo vệ quyền sở hữu của các chủ thể thông qua các
phương thức dân sự.
II. Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu
1. Tự bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp
1.1. Khái niệm chung về biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu
Điều 255 BLDS ghi nhận:
“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản
thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện

quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp
pháp của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trường hợp tài sản rời khỏi sự
nắm giữ, quản lý của họ đến tay người khác hoàn toàn ngoài sự kiểm soát của
họ. Để bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu tài sản của mình, chủ sở hữu,
người chiếm hữu hợp pháp có quyền truy tìm tài sản của mình. Truy tìm tài
sản là hình thức đầu tiên để tự bảo vệ quyền sở hữu, cũng là cơ sở để chủ sở
hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện được việc tự đòi lại tài sản hoặc
kiện đòi lại tài sản.
Khi phát hiện tài sản của mình đang nằm trong sự chiếm hữu, sử dụng
bất hợp pháp của người khác, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể
thực hiện quyền đòi lại tài sản. Điều 256 BLDS quy định “Chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài
sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc
quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó”.
Dù tự đòi lại tài sản hay yêu cầu Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu
hợp pháp phải trả lại tài sản, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp vẫn có
vai trò trung tâm, quyết định trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.
Họ phải tự chứng minh quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của
mình; chứng minh tài sản đang do người khác chiếm hữu trái pháp luật.
Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải xác định tài sản đang
nằm trong sự chiếm hữu không có căn cứ pháp của ai.
Tự yêu cầu người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài
sản hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người này phải trả lại
tài sản
• Yêu cầu ngăn chặn và chấm dứt hành vi trái pháp luật đối với
việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp
Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền chiếm hữu, sử dụng
tài sản để thoả mãn nhu cầu của mình trong đời sống sinh hoạt cũng như hoạt
động sản xuất kinh doanh. Mọi chủ thể được thực hiện các hành vi theo ý chí

các cơ quan có thẩm quyền, giúp giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, kịp
thời, tiết kiệm thời gian và chi phí.
1.3. Ưu điểm và hạn chế của phương thức tự bảo vệ quyền sở hữu
• Ưu điểm
Thứ nhất, biện pháp tự bảo vệ là biện pháp mang tính định đoạt cao độ
của chủ thể: Khi phát hiện ra những hành vi xâm phạm quyền, lợi ích của
mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể chủ động linh hoạt lựa
chọn cách thức bảo vệ phù hợp như: yêu cầu người xâm phạm chấm dứt hành
vi xâm phạm, yêu cầu người chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản hoặc
bồi thường thiệt hại. Chủ thể có quyền thương lượng hòa giải bất cứ lúc nào
trong quá trình giải quyết tranh chấp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status