MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I. Cơ sở, nội dung và tầm quan trọng của nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa
dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế:
1. Cơ sở của nguyên tắc:
2. Nội dung của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan
hệ quốc tế
3. Các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực
trong quan hệ quốc tế
II. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực
trong quan hệ quốc tế:
1. Thực tiễn việc sử dụng vũ lực
2. Vai trò của Liên hợp quốc đối với việc thực hiện nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe
dọa sử dụng vũ lức trong quan hệ quốc tế
KẾT LUẬN
1
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh sự phát triển của khoa học kĩ thuật thế giới hiện nay, việc các quốc
gia phát triển khoa học kĩ thuật của mình vào cấc lĩnh vực nhằm phục vụ cho mục đích an
ninh quốc gia là điều tất yếu. Tuy nhiên, nếu quốc gia lại dùng những nghiên cứu của
mình để phát động chiến tranh xâm lược quốc gia khác hay bằng các biện pháp phi quân
sự khác nhằm mục đích sử dụng sức mạnh của mình nhằm đạt được một số lợi ích nhất
định thì đây lại là những hành động vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của luật quốc tế
hiện đại. Cụ thể đó là nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan
hệ quốc tế
2
NỘI DUNG
I. Cơ sở, nội dung và tầm quan trọng của nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe
dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế:
1. Cơ sở của nguyên tắc:
a) Cơ sở thực tiễn:
Luật quốc tế hiện đại), đã chứng tỏ mong muốn của cộng đồng quốc tế: việc sử dụng vũ
lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực cần phải bị nghiêm cấm và loại bỏ trong quan hệ quốc tế.
3
Nhưng Hiến chương Liên hợp quốc không dừng lại ở mức độ cấm chiến tranh xâm
lược như trong giai đoạn từ 1917 đến 1945. nó phát triển thành nguyên tắc cấm dùng vũ
lực trong quan hệ quốc tế.
Hiến chương đã đạt được những bước tiến quan trọng hơn Hiệp ước Paris năm
1928 ở chỗ nếu như Hiệp ước Paris 1928 chỉ cấm dùng chiến tranh như một công cụ quốc
sách thì tại Hiến chương qui định rõ ràng và dứt khoát: cấm các quốc gia dùng vũ lực và
đe dọa dùng vũ lực vào những mục đích trái với mục đích hòa bình và hợp tác hữu nghị
của Liên hợp quốc. Như vậy nếu so sánh với nguyên tắc cấm chiến tranh xâm lược,
nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực có nội dung rộng hơn nhiều bao
gồm ngoài việc cấm xâm lược vũ trang còn cấm cả các hình thức xâm lược khác như xâm
lược về kinh tế, tư tưởng và những sự xâm lược gián tiếp... đồng thời với cả những hành
động đe dọa sử dụng vũ lực. Việc mở rộng nội dung của nguyên tắc cấm chiến tranh xâm
lược là thắng lợi của các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Nó hoàn
toàn phù hợp với tình hình thế giới sau thế chiến II.
b) Cơ sở pháp lí:
Như trên đã phân tích, nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong
quan hệ quốc tế được qui định cụ thể trong Hiến chương Liên hợp quốc tại chương I, Điều
2, khoản 4.
Trong khuôn khổ những nỗ lực của Liên hợp quốc, nguyên tắc cấm dùng vũ lực và
đe dọa sử dụng vũ lực đã từng bước được cụ thể hóa qua các văn kiện quốc tế quan trọng,
đáng chú ý là Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ hữu
nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc được Đai hội
đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết số 2625, ngày 14/1/1970. Tuyên bố đã đặt
lên hàng đầu nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực. Phát triển nguyên tắc đã
được Hiến chương xác lập trước đó, Tuyên bố chỉ rõ: “Mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ
việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự toàn vện lãnh
thổ hoặc nền độc lập chính trị của bất kì quốc gia nòa... Việc đe dọa dùng vũ lực như trên
a) Cấm xâm lược vũ trang:
Nội dung chính của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực là
cấm chiến tranh xâm lược hay xâm lược vũ trang nói chung. Bởi vì xâm lược vũ trang là
hành động nguy hiểm nhất trực tiếp đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế. Cho nên luật
quốc tế hiện đại mới qui định rằng: “xâm lược vũ trang là tội ác quốc tế nghiêm trọng nhất
chống lại nhân loại và do vậy những kẻ gây ra nó cũng phải chịu trách nhiệm nặng nề nhất
trước nhân loại”.
Nhiều văn bản pháp lí qui định về nguyên tác này:
- Hiệp ước Paris ngày 27/8/1928 cấm chiến tranh xâm lược và cấm dùng chiến
tranh làm công cụ quốc sách để giải quyết các tranh chấp quốc tế.
- Bản án tòa án quốc tế Niu-răm-be qui định “chiến tranh xâm lược không những là
hành động không hợp pháp, mà còn là hành động tội ác”, “gây chiến tranh xâm lược
không đơn giản là tội ác mang tính chất quốc tế, mà còn tội ác quốc tế nghiêm trọng
nhất”.
- Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc
cấm các quốc gia dùng vũ lực để thực hiện những mục đích trái với mục đích của Hiến
chương Liên hợp quốc. Trong các hình thức “vũ lực” thì trước hết cấm sử dụng vũ lực
quân sự, tức là xâm lược vũ trang.
5
b) Cấm xâm lược gián tiếp, xâm lược về kinh tế và xâm lược về tư tưởng:
Như đã trình bày, theo Luật quốc tế hiện đại các quốc gia có nghĩa vụ không được
tiến hành những hành động xâm lược vũ trang và cả các hình thức xâm lược khác, cụ thể
là xâm lược về kinh tế và xâm lược về tư tưởng..
- Xâm lược gián tiếp: là phương pháp hoạt động phá hoại phổ biến của chủ nghĩa
đế quốc và bọn phản động quốc tế chống lại các quốc gia khác. Xâm lược gián tiếp khác
với xâm lược vũ trang ở chỗ quốc gia xâm lược hoạt động giấu mặt thông qua người khác.
Những hành động sau đây có thể gọi là xâm lược gián tiếp:
+ Xúi giục, giúp đỡ các quốc gia khác đi xâm lược để thực hiện mưu đồ chính trị
của mình.
+ Khuyến khích các hành động phá hoại như khủng bố, tàn sát chống nước khác.