Quyền tự do kinh doanh trong thành lập doanh nghiệp và quyền tự do ký kết hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trường - Pdf 28

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1996 đã tạo ra một bước ngoặt to lớn trong
nền kinh tế của đất nước. Đó là chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang
nền kinh tế thị trường. Đảng xác định chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng XHCN nhằm đưa nước ta từ một nước công nghiệp lạc hậu sang
một nước công nghiệp phát triển. Nhờ đó, sức lao động sẽ được giải phóng, năng
suất lao động sẽ được tăng lên. Đời sống của nhân dân được cải thiện, đất nước
ngày càng vững mạnh, phồn vinh, tiến tới trở thành một cường quốc trên thế giới.
Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục xây dựng và phát triển nền kinh tế theo
đường lối đổi mới của Đảng. Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường đó, mỗi người kinh doanh và mỗi tổ chức kinh doanh
đều có quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật. Mỗi người kinh
doanh và mỗi tổ chức kinh doanh là một đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập, có
quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh của mình. Để quyền này được thực hiện một cách tự giác, đầy đủ và phát
huy giá trị đích thực của nó đòi hỏi phải có những tiền đề, điều kiện về chính trị,
kinh tế, và pháp luật. Pháp luật đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành và bảo
đảm quyền tự do kinh doanh. Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày
12/06/1999, có hiệu lực từ ngày 01/01/2000 đã thực sự là bước tiến cho việc thực
hiện quyền tự do kinh doanh ở nước ta.
Với quyền tự do kinh doanh của mình, mỗi cá nhân kinh doanh, tổ chức
kinh doanh với tư cách là chủ thể độc lập của nền kinh tế, dù muốn hay không, họ
đều phải tự mình thiết lập các quan hệ kinh tế với các cá nhân kinh doanh và tổ
chức kinh doanh khác. Các quan hệ này được hình thành trên cơ sở sự thoả thuận
giữa các bên mà hình thức pháp lý của chúng là hợp đồng. Nền kinh tế thị trường
là nền kinh tế của hệ thống các quan hệ hợp đồng. Trong nền kinh tế thị trường,
hợp đồng là công cụ không thể thiếu được của nhà kinh doanh để họ thực hiện
trao đổi sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. Hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể
kinh doanh nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh, theo pháp luật Việt Nam

giá trị quyền tự do kinh doanh của con người, cho phép chúng ta tìm hiểu quyền
tự do kinh doanh-quyền tự do trong lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội.
Theo Điều 57 Hiến pháp 1992 quy định: "Công dân có quyền tự do kinh
doanh theo quy định của pháp luật.". Như vậy, khi bàn về quyền tự do kinh
doanh, trước hết phải thấy rằng đó là một phạm trù pháp lý. Dưới góc độ này,
quyền tự do kinh doanh được xem xét dưới hai khía cạnh :
+Trước hết, quyền tự do kinh doanh là quyền chủ thể, tức là quyền của một
cá nhân (hay pháp nhân) trong việc lựa chọn các lĩnh vực của đời sống kinh tế để
đầu tư tiền vốn, sức lao động, máy móc, thiết bị… tiến hành các hoạt động sản
xuất, mua bán, cung ứng dịch vụ nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Ở khía cạnh này, các
quyền tự do kinh doanh bao hàm một loạt các hành vi mà các chủ thể được phép
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tiến hành như : Lựa chọn ngành nghề kinh doanh, lựa chọn hình thức kinh doanh,
quy mô kinh doanh, lựa chọn khách hàng…
+Mặt khác, quyền tự do kinh doanh còn được hiểu là tổng hợp toàn bộ các
quy định và đảm bảo pháp lý mà Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các
cá nhân (hay pháp nhân) thực hiện quyền chủ thể nói trên. Ở góc độ này thì quyền
tự do kinh doanh bao hàm các hành vi mà cá nhân (hay pháp nhân) được phép
thực hiện, những ưu đãi mà họ được hưởng. Xét ở góc độ kia, nó bao hàm các
hành vi của các cơ quan Nhà nước, nhân viên Nhà nước khi thực hiện chức năng
quản lý của mình. Hai khía cạnh này là một thể thống nhất trong quyền tự do kinh
doanh của chủ thể mà không đảm bảo cho nó những điều kiện để thực hiện thì
quyền tự do kinh doanh chỉ mang tính hình thức, chẳng đem lại ý nghĩa thiết thực
cho sự phát triển kinh tế.
Tóm lại, quyền tự do kinh doanh phải được nhìn nhận một cách tổng thể,
toàn diện trên những vấn đề cơ bản sau :
-Quyền tự do kinh doanh là một bộ phận cấu thành và đóng vai trò quan
trọng trong hệ thống các quyền tự do của con người và vì vậy, phải được xem xét
như một giá trị tự thân con người (nhân quyền) mà Nhà nước phải tôn trọng chứ

+Chính sách thuế, tín dụng, chính sách xuất khẩu, nhập khẩu..
Quyền tự do kinh doanh có nội dung rất rộng, bao hàm hệ thống các quyền
tự do cơ bản sau :
+Quyền tự do sở hữu;
+Quyền tự do lựa chọn ngành nghề, địa điểm, quy mô và hình thức kinh
doanh;
+Quyền tự do thành lập doanh nghiệp;
+Quyền tự do trong lĩnh vực của hoạt động sản xuất, kinh doanh;
+Quyền tự do hợp tác kinh tế;
+Quyền tự do lựa chọn hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp
trong kinh doanh;
+Quyền bình đẳng trong kinh doanh.
Các quyền tự do trên có mối liên hệ hữu cơ thành một thể thống nhất trong
nội dung của quyền tự do kinh doanh.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Như vậy, nếu căn cứ vào nội dung cơ bản của quyền tự do kinh doanh, nếu
nhìn vào hệ thống những quy định hiện hành trong pháp luật kinh tế nước ta thì
về cơ bản, những nội dung trên đã được pháp luật ghi nhận tương đối nhất quán.
Do vậy, trọng tâm công tác thể chế hoá quyền tự do kinh doanh trong thời gian
tới là phải hướng vào việc tạo ra cơ chế pháp lý đảm bảo cho việc mở rộng và
phát triển quyền tự do kinh doanh trong thực tiễn.
2. Những yếu tố chi phối quyền tự do kinh doanh .
Quyền tự do kinh doanh bị chi phối bởi chế chính trị-xã hội và trình độ
phát triển kinh tế, văn hoá của mỗi quốc gia ở từng giai đoạn sử nhất định. Do đó,
không tồn tại quan niệm quyền tự do kinh doanh tuyệt đối phổ biến. Quyền tự do
kinh doanh có biên giới quốc gia, do những điều kiện về chính trị-xã hội, kinh tế,
văn hoá chi phối. Ở mỗi quốc gia, tính chất và mức độ của quyền tự do kinh
doanh có những đặc điểm khác nhau. Tất nhiên, chúng ta không phủ nhận một số
tính chất chung nào đó của nội dung quyền tự do kinh doanh giữa các quốc gia

Trình độ phát triển kinh tế thể hiện ở sự phát triển của lực lượng sản xuất
và theo đó là quan hệ sản xuất phù hợp. Mức sống của nhân dân ngày càng cao,
nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn thì càng kích thích sự phát triển của nền sản xuất
kinh doanh.
Thực tế cho thấy, ở những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đã
nảy sinh nhu cầu lớn hơn về quyền tự do kinh doanh. Nền kinh tế thị trường là
giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá. Do tác động của quy luật kinh
tế thị trường như: quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh… mà sự hình thành tự do
kinh doanh là tất yếu. Do vậy, có thể nói khái niệm quyền tự do kinh doanh luôn
gắn liền với nền kinh tế thị trường. Bởi lẽ, về bản chất, cơ chế thị trường là cơ chế
tự do với những đặc trưng cơ bản như:
-Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với hình thức sở hữu đa dạng;
-Tất cả các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh đều được tiền
tệ hoá;
-Các vấn đề liên quan đến việc phân bố, sử dụng các nguồn lực như: vốn,
lao động, tài nguyên… về cơ bản được quyết định một cách khách quan thông
qua hoạt động của các quy luật kinh tế: Cung cầu, giá trị, cạnh tranh;
-Động lực thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là lợi ích, được
biểu hiện tập trung ở mức lợi nhuận;
-Tự do lựa chọn việc sản xuất kinh doanh và tiêu dùng từ phía các nhà kinh
doanh và những người tiêu dùng thông qua các mối quan hệ kinh tế;
-Cạnh tranh là môi trường và động lực thúc đẩy kinh tế;
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-Quan hệ giữa các nhà kinh doanh và người tiêu dùng được coi là trung
tâm;
-Sự can thiệp của Nhà nước vào các quá trình kinh tế được cân nhắc, có
liều lượng.
Những đặc trưng đó đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải được tự do thì mới
hoạt động được.

hai hoạt động này, và hai hoạt động này đã bị lẫn lộn với nhau. Nhà nước lập kế
hoạch ở cả tầm vi mô và vĩ mô. Nhà nước dùng quyền lực của mình để điều hành
cả những hoạt động chung và những hoạt cụ thể. Do đó, các doanh nghiệp đã ở
vào trạng thái bị động. Nhà nước điều hành nền kinh tế theo cơ chế mệnh lệnh.
Do đó, nền kinh tế cơ sở bị gò bó, giữa lưu thông, sản xuất và tiêu dùng không có
sự gắn bó, liên kết.
Ngày nay, đất nước ta đã đổi mới, hai hoạt động này đã được tách bạch. Cơ
quan Nhà nước chỉ tập trung quản lý ở tầm vĩ mô. Hoạt động quản lý kinh tế của
Nhà nước thuộc về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước như : Chính phủ, Bộ,
Uỷ ban nhân dân…là các chủ thể mang quyền lực Nhà nước.
2. Khái niệm đơn vị kinh doanh .
Đơn vị kinh doanh là những cá nhân, tổ chức được thành lập để trực tiếp và
chủ yếu thực hiện các hoạt động kinh doanh. Họ là những người tham gia vào
quan hệ kinh doanh do pháp luật kinh doanh điều chỉnh. Họ còn được gọi là chủ
thể kinh doanh. Đơn vị kinh doanh được chia thành 3 nhóm sau đây:
Nhóm thứ nhất : doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.
Nhóm thứ hai : hộ gia đình hay còn gọi là hộ kinh doanh cá thể, quy mô
nhỏ hơn nhóm một nhưng kinh tế hộ gia đình có vai trò rất quan trọng trong nền
kinh tế.
Nhóm thứ ba : cá nhân có hoặc không có địa điểm kinh doanh cố định, còn
gọi là người kinh doanh nhỏ.
3. Khái niệm doanh nghiệp.
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật doanh nghiệp : "Doanh nghiệp là tổ chức kinh
tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh."
Có một số tiêu chí phân loại doanh nghiệp như sau:
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiêu chí thứ nhất: Phân loại theo hình thức sở hữu tài sản của Doanh
nghiệp gồm có:

tài sản phát sinh trong kinh doanh bằng phần tài sản thuộc sở hữu của doanh
nghiệp.Tài sản này là tài sản do các thành viên góp vốn.
Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ và các nghĩa
vụ tài sản phát sinh trong kinh doanh bằng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu hợp pháp
của người chủ sở hữu doanh nghiệp. Tài sản này bao gồm : tài sản được đưa vào
đăng ký kinh doanh và toàn bộ tài sản không đưa vào kinh doanh của chủ doanh
nghiệp.
III. Quyền tự do kinh doanh trước và sau khi có Luật doanh
nghiệp.
Khi quyết định chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước thì Đảng và Nhà nước ta đã ghi nhận quyền tự do kinh
doanh là một trong những quyền cơ bản của công dân. (Điều 57 Hiến pháp
1992:"Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.")
Vì vậy, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm rất nhiều đến
việc bảo đảm cho nguyên tắc tự do kinh doanh được thực hiện nhằm tạo ra cơ chế
pháp lý rộng rãi để thúc đẩy mọi thành phần kinh tế cùng phát triển. Điều này
được thể hiện khá rõ trong các văn bản pháp luật của Nhà nước.
Ngay bước đầu của công cuộc đổi mới, Luật công ty và Luật doanh nghiệp
tư nhân, đã được Quốc hội khoá VIII thông qua ngày 12/12/1990 và sau đó được
Quốc hội khoá IX sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 1994. Sự ra đời của hai
đạo Luật trên có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế-chính trị-xã hội, nó khẳng định
quan điểm nhất quán không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế của
Đảng và Nhà nước, đã động viên được các nguồn lực đầu tư vào sản xuất kinh
doanh và tạo công ăn việc làm cho đông đảo người lao động trong thời gian vừa
qua.
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhưng qua một số năm thực hiện, cùng với sự phát triển của đất nước, các
văn bản pháp luật này đã xuất hiện những bất cập, hạn chế cần phải được khắc

tính sinh lợi hợp pháp của việc kinh doanh.
Sau này,các quyền này được thể hiện rõ ràng hơn trong Luật doanh nghiệp
ngày 12/06/1999. Bên cạnh việc công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
loại hình doanh nghiệp, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các doanh
nghiệp, thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh. Nhà nước còn
công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi
ích khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh
nghiệp không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.
Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích
quốc gia, Nhà nước quyết định trưng mua hoặc trưng dụng tài sản doanh nghiệp,
thì chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của doanh nghiệp được thanh toán
hoặc bổi thường theo giá thị trường tại thời điểm quyết định trưng mua hoặc
trưng dụng và được tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư, kinh doanh vào lĩnh vực,
địa bàn thích hợp.
2. Quyền tự do trong thành lập doanh nghiệp .
Tự do kinh doanh trước hết thể hiện ở quyền tự do trong thành lập doanh
nghiệp. Mọi cá nhân, tổ chức nếu muốn, đều có thể thành lập doanh nghiệp.
Nhưng họ phải tuân theo những quy định của pháp luật trong việc thành lập
doanh nghiệp.
2.1. Những điều kiện cơ bản khi thành lập doanh nghiệp.
2.1.1. Điều kiện về tài sản.
Điều kiện cơ bản đầu tiên để thành lập doanh nghiệp là điều kiện về tài sản.
Tài sản để thành lập doanh nghiệp phải thuộc quyền sở hữu của người thành lập
doanh nghiệp. Tài sản đưa vào kinh doanh phải là tài sản hợp pháp của người
kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Theo Luật công ty ngày 12/12/1990 thì hình thức của tài sản có thể là tiền
Việt Nam, vàng, tài sản bằng hiện vật hoặc bản quyền sở hữu công nghiệp.

Doanh nghiệp tư
nhân
Công ty trách
nhiệm hữu hạn
Công ty cổ phần
-Nông, Lâm,
Thuỷ sản
-Công nghiệp và
xây dựng
-Thương mại và
dịch vụ
150
300
250
300
600
500
500
1000
800
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối với những cá nhân và nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định
thì phải kinh doanh theo Nghị định 66-HĐBT ngày 02/03/1992 của Hội đồng bộ
trưởng về cá nhân và nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định trong
Nghị định số 221-HĐBT ngày 23/07/1991 của Hội đồng bộ trưởng ban hành quy
định về cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 12/12/1990.
Song trên thực tế với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, các quy định
trên đã trở nên lỗi thời và gây rất nhiều trở ngại cho các nhà đầu tư.Với việc hợp
nhất Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty ngày 12/12/1990, Luật doanh

hợp giá trị tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế của nó tại
thời điểm góp vốn, thì người góp vốn và người định giá phải góp đủ số vốn như
đã được định giá. Nếu gây thiệt hại cho người khác thì phải liên đới chịu trách
nhiệm bồi thường.
Trường hợp người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan chứng minh
được tài sản góp vốn được định giá sai so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn,
thì có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh buộc người định giá phải định
giá lại hoặc chỉ định tổ chức giám định để giám định lại giá trị tài sản góp vốn."
Với những quy định về người định giá, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích
liên quan, trách nhiệm của người định giá chi tiết như vậy, những tài sản không
phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng khi đưa vào làm vốn kinh
doanh đã được định giá một cách chính xác, hạn chế được rất nhiều tình trạng
khai gian vốn kinh doanh.
Nếu như Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 12/12/1990
không quy định về việc chuyển quyền sở hữu tài sản thì tại Điều 22 Luật doanh
nghiệp ngày 12/06/1999 đã quy định khá rõ về vấn đề này:
"1. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, người cam kết
góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh
phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây :
a. Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất, thì người góp
vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho
công ty tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
b. Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, Việc góp vốn phải được
thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác định bằng biên bản.
c. Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng các tài sản không phải là tiền Việt
Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền
sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty.
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Tài sản sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân

pháp định được đánh giá như là sự bảo đảm về mặt tài sản của người kinh doanh
đối với khách hàng như kinh doanh ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh
chứng khoán thì khi kinh doanh những ngành nghề này, nhà đầu tư phải có đủ số
vốn tối thiểu và trong hồ sơ đăng ký kinh doanh của họ phải có sự xác nhận của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về vốn.
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.1.2. Điều kiện về ngành nghề kinh doanh.
Người kinh doanh phải lựa chọn và đăng ký những ngành nghề mà doanh
nghiệp lựa chọn hoạt động. Theo phương pháp loại trừ,pháp luật chỉ quy định
những ngành, nghề cấm kinh doanh và những ngành nghề kinh doanh có điều
kiện. Còn lại, nhà kinh doanh có toàn quyền tự do lựa chọn những ngành, nghề
kinh doanh mà mình mong muốn. Có thể nói đây là điểm tiến bộ trong kỹ thuật
lập pháp ở nước ta bởi vì chúng ta đang hướng tới "nhà kinh doanh có quyền làm
bất cứ cái gì mà pháp luật không cấm". Nhưng nếu họ lựa chọn kinh doanh vào
những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì họ phải đảm bảo đủ điều những
điều kiện do pháp luật quy định.
Theo Điều 5 Luật doanh nghiệp tư nhân và Điều 11 Luật công ty ngày
12/12/1990 thì:
Ngoài một số ngành, nghề mà pháp luật cấm kinh doanh, việc thành lập
công ty, doanh nghiệp tư nhân trong các ngành, nghề dưới đây phải được Thủ
tướng Chính phủ cho phép :
1. Sản xuất và lưu thông thuốc nổ, thuốc độc, hoá chất độc;
2. Khai thác các loại khoáng sản quý;
3. Sản xuất và cung ứng điện, nước có quy mô lớn;
4. Sản xuất các phương tiện truyền tin, dịch vụ bưu chính viễn thông,
truyền thanh, truyền hình, xuất bản;
5. Vận tải viễn dương và vận tải hàng không;
6. Chuyên kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu, du lịch quốc tế.
Những vấn đề trên còn được cụ thể hoá tại Nghị định 221-HĐBT như:

Cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân, các sáng lập viên muốn
thành lập công ty trong những ngành, nghề phải được Thủ tướng Chính phủ cho
phép như trên phải gửi hồ sơ xin phép thành lập doanh nghiệp đến Chủ tịch
UBND tỉnh hoặc thành phố trực thuộc TW. Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, có ý
kiến và gửi hồ sơ lên Bộ quản lý ngành. Bộ quản lý ngành xem xét, có ý kiến,
trình Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định và thông báo cho
Chủ tịch UBND tỉnh. Căn cứ vào quyết định đó, UBND cấp hay không cấp giấy
phép thành lập doanh nghiệp cho đương sự.
Những trường hợp sau đây, Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền cho Chủ tịch
uỷ ban nhân dân Tỉnh xem xét, quyết định cấp hoặc không cấp giấy phép thành
lập doanh nghiệp tư nhân, công ty sau khi có ý kiến của Bộ quản lý ngành :
-Một số lĩnh vực thuộc ngành khai khoáng;
-Sản xuất phân hoá học và sản xuất các loại pháo;
-Sản xuất và cung ứng điện;
-Dịch vụ cho truyền thanh, truyền hình trong phạm vi địa phương;
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-Sau khi cấp giấy phép thành lập cho công ty, doanh nghiệp tư nhân trong
các trường hợp nói trên, Chủ tịch uỷ ban nhân dân Tỉnh phải báo cáo Thủ tướng
Chính Phủ và Bộ quản lý ngành.
Tuy nhiên, những quy định trên chỉ mang tính hình thức,làm mất rất nhiều
thời gian và gây khó khăn cho các nhà đầu tư.Luât doanh nghiệp ngày 12/06/1999
đã khắc phục được những vấn đề này. Luật doanh nghiệp và Nghị định của Chính
phủ số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật doanh nghiệp quy định:
Thứ nhất: Cấm kinh doanh các ngành, nghề gây phương hại đến quốc
phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức,
thuần phong mỹ tục Việt Nam và sức khoẻ của nhân dân.
Danh mục các ngành, nghề cấm kinh doanh bao gồm:
-Kinh doanh vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng và phương tiện kỹ

Đối với ngành, nghề kinh doanh phải có giấy phép kinh doanh, thì doanh
nghiệp được quyền kinh doanh ngành, nghề đó, kể từ khi được cấp giấy phép
kinh doanh.
Đối với ngành, nghề kinh doanh phải có điều kiện kinh doanh không cần
giấy phép, thì doanh nghiệp được quyền kinh doanh ngành, nghề đó từ khi có đủ
các điều kiện kinh doanh theo quy định và cam kết thực hiện đúng các điều kiện
đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh.
Thứ ba: Đối với doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật,
pháp lệnh hoặc Nghị định đòi hỏi phải có vốn pháp định hoặc chứng chỉ hành
nghề, thì doanh nghiệp đó chỉ được đăng ký kinh doanh khi có đủ vốn hoặc chứng
chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
Chứng chỉ hành nghề là văn bản mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc
hội nghề nghiệp cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề
nghiệp về một ngành, nghề nhất định. Chứng chỉ hành nghề chỉ cấp cho cá nhân,
các chứng chỉ hành nghề đã cấp cho tổ chức đều hết hiệu lực.
Ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề bao gồm:
-Kinh doanh dịnh vụ pháp lý;
-Kinh doanh dịch vụ khám, chữa bệnh và kinh doanh dược phẩm;
-Kinh doanh dịch vụ thú y và kinh doanh thuốc thú y;
-Kinh doanh dịch vụ thiết kế công trình;
-Kinh doanh dịch vụ kiểm toán;
-Kinh doanh dịch vụ môi giới chứng khoán.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề quy định như trên thì
việc đăng ký kinh doanh phải có thêm điều kiện về chứng chỉ hành nghề theo quy
định dưới đây:
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Một là: Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, một trong số
những người quản lý doanh nghiệp phải có chứng chỉ hành nghề.
Hai là: Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh phải có chứng

-Ngoài các quy định nói trên, thì còn phải viết rõ loại hình doanh nghiệp.
Với Công ty trách nhiệm hữu hạn thì cụm từ trách nhiệm hữu hạn viết tắt là
TNHH; Công ty cổ phần, từ cổ phần viết tắt là Cp; Công ty hợp danh, từ hợp
danh viết tắt là HD; Doanh nghiệp tư nhân, từ tư nhân viết tắt là TN.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể đăng ký những tên khác như: Tên viết
tắt, tên giao dịnh quốc tế…
Doanh nghiệp có con dấu riêng theo quy định của Chính phủ.
*Địa chỉ : bắt buộc mỗi doanh nghiệp phải đăng ký một địa chỉ của trụ sở
giao dịch chính. Trụ sở chính của doanh nghiệp phải nằm trong phạm vi lãnh thổ
Việt Nam. Địa chỉ này phải được xác định, gồm: số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc
tên thôn, làng, xã, phường, tỉnh, thành phố trực thuộc TW, số điện thoại và số fax
(nếu có). Trụ sở chính của doanh nghiệp có thể thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, có thể đi muợn hoặc đi thuê. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể có các địa
chỉ khác như địa chỉ trụ sở giao dịch phụ (văn phòng đại diện), lập chi nhánh của
doanh nghiệp ở trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Như vậy, việc quy định về tên gọi và địa chỉ của doanh nghiệp không chỉ
mang tính hình thức mà nó còn có ý nghĩa pháp lý. Việc xác định tên và địa chỉ
doanh nghiệp giúp cho việc phân biệt doanh nghiệp được rõ ràng, Nhà nước quản
lý các doanh nghiệp dễ dàng, tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh.
2.1.4. Điều kiện về tư cách thành lập doanh nghiệp.
Pháp luật quy định mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền thành lập doanh
nghiệp và quản lý doanh nghiệp cũng như quyền góp vốn vào thành lập doanh
nghiệp nhằm thu lợi trừ những trường hợp bị cấm.
Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 12/12/1990 quy định:
Mọi công dân Việt Nam đủ 18 tuổi có quyền thành lập doanh nghiệp tư
nhân theo quy định của Luật này. Và những trường hợp bị cấm thành lập doanh
nghiệp tư nhân đó là: Người mất trí, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự
hoặc bị kết án tù mà chưa được xoá án, viên chức tại chức trong bộ máy Nhà
nước, các sĩ quan tại ngũ trong các lực lượng vũ trang nhân dân.
23

định của Hội động bộ trưởng về công chức Nhà nước số 169-HĐBT ngày
25/05/1991.
-Những người đang giữ các chức vụ trong bộ máy chính quyền các cấp
theo chế độ bầu cử.
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-Các cán bộ quản lý các liên hiệp xí nghiệp và xí nghiệp quốc doanh.
-Sĩ quan tại ngũ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân
Việt Nam."
Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty chưa phân định rõ
ba hành vi góp vốn, thành lập và quản lý doanh nghiệp, tài sản nào là tài sản của
Nhà nước và công quỹ cũng chưa quy định cụ thể.
Luật doanh nghiệp ngày 12/06/1999 đã khắc phục được những hạn chế
này. Theo quy định của Luật doanh nghiệp và Nghị định của Chính phủ số
03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật doanh
nghiệp thì:
Thứ nhất: Mọi tổ không phân biệt nơi đăng ký địa chỉ trụ sở chính, mọi cá
nhân không phân biệt nơi cư trú, nếu không thuộc đối tượng bị cấm thành lập
doanh nghiệp đều có quyền thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định
của Luât doanh nghiệp.
Thứ hai: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường
trú tại Việt Nam có quyền thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của
Luật doanh nghiệp.
Thứ ba: Những người không được quyền thành lập doanh nghiệp và quản
lý doanh nghiệp bao gồm:
Một là: Cơ quan Nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân sử
dụng tài sản của Nhà nước và công quỹ để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu
lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình.
Tài sản của nhà nước và công quỹ gồm:
-Tài sản mua sắm bằng vốn ngân sách Nhà nước;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status