Vai trò của người cao tuổi đối với hoạt động trợ
giúp con trong gia đình Phạm Thị Duyên Trường Đại học KHXH&NV
Luận văn ThS. Chuyên ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn: TS. Mai Thị Kim Thanh
Năm bảo vệ: 2013
Abstract: Mô tả về nhận thức của Người cao tuổi người cao tuổi về hoạt
động trợ giúp con trong gia đình. Làm rõ những công việc trợ giúp chính của
người cao tuổi trong gia đình. Phân tích các nhân tố cơ bản quyết định đến
sự tham gia của người cao tuổi vào các hoạt động trợ giúp con trong gia
đình.
Keywords: Người cao tuổi; Gia đình; Xã hội học Content
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
1. Lý do chọn đề tài 9
2.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 10
TRỢ GIÚP CON CỦA NGƢỜI CAO TUỔI 56
3. 1Các nhân tố tác động 56
3.1.1 Cấu trúc gia đình 56
3.1. 2 Những đặc điểm tâm sinh lý của NCT 60
3.1.3 Những đặc điểm nhân khẩu xã hội của NCT 62
3.1. 4 Hoạt động của Hội NCT và các cơ quan đoàn thể 66
3.1.5 Chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về NCT 69
3.2 Hệ quả từ sự trợ giúp của Ngƣời cao tuổi 70
3.2.1 Đối với con cháu 72
3.2.2 Đối với NCT 76
3.2.3 Đối với xã hội 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
1. Kết luận 86
2. Khuyến nghị 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN 92 3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tính đến năm 2011, tỷ lệ NCT Việt Nam chiếm 9,9% dân số(Tổng cục thống kê (2012),
Điều tra biến động dân số - kế hoach hóa gia đình 01/4/2012) Điều này cho thấy Việt Nam đã
bước vào giai đoạn “ già hóa dân số”- giai đoạn mà nhiều người cho rằng có ảnh hưởng không
nhỏ tới sự phát triển kinh tế- xã hội của một Quốc gia. Tuy nhiên, với nét đặc thù riêng của Văn
hóa Việt, NCT vẫn chiếm một vị trí và đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong cả gia đình và
ngoài xã hội. Trong gia đình, họ là điểm tựa vững trãi, là “kho” kinh nghiệm sống quý báu và
với bên ngoài xã hội, họ không chỉ là một lực lượng chính trị, xã hội ngày càng đông đảo tham
gia vào việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị trong địa phương, mà còn là nguồn lực quý giá
trong sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân dân tộc, góp phần thúc đẩy sự nghiệp
Thực trạng đời sống của NCT các dân tộc bản địa Tây Nguyên (Viện nghiên cứu NCT Việt
Nam, 2006); Thực trạng đời sống của NCT từ 80 trở lên (Viện nghiên cứu NCT Việt Nam,
2007); Thực trạng sức khỏe và bệnh tật của NCT Việt Nam (Viện nghiên cứu NCT Việt Nam,
2008); Thực trạng NCT tham gia khôi phục và truyền nghề cho thế hệ trẻ Việt Nam (Viện
nghiên cứu NCT Việt Nam, 2010); Thực trạng NCT tham gia xóa đói, giảm nghèo (Viện nghiên
cứu NCT Việt Nam, 2011)…
Mỗi một nghiên cứu đều hướng đến người cao tuổi, đi sâu vào đời sống của họ, phân
tích nhiều vấn đề. Tuy nhiên, về khía cạnh vai trò trợ giúp con cái của người cao tuổi thì cho
đến nay, chưa ghi nhận thấy có một công trình nghiên cứu riêng biệt nào về vai trò của người
cao tuổi đối với hoạt động trợ giúp con trong gia đình. Chính ở điều này đề tài đã thể hiện
những đóng góp mới qua nỗ lực tìm hiểu về vai trò của người cao tuổi đối với hoạt động trợ
giúp trong gia đình dưới góc độ xã hội học, vận dụng lý thuyết xã hội học vào việc phân tích
những hoạt động trợ giúp của người cao tuổi trong gia đình hiện nay.
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa lí luận.
Đề tài nghiên cứu vận dụng một số lý thuyết, các khái niệm xã hội học nói chung và
xã hội học gia đình nói riêng vào tìm hiểu, mô tả và phân tích vai trò của NCT đối với hoạt
động trợ giúp con trong gia đình và qua đó đóng góp thêm những phát hiện có tính quy luật các
khái niệm, quan điểm trong lý luận về vai trò…
3.2 Ý nghĩa thực tiễn.
Đề tài nghiên cứu này có các ý nghĩa thực tiễn như sau:
Giúp Hội người cao tuổi, tổ chức đoàn thể, nhà quản lý, hoạch định chính sách có một cách
nhìn đầy đủ và toàn diện về những đóng góp của người cao tuổi cho dù hiện tại họ có những hạn
chế về sức khỏe.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu sinh, học viên, sinh
viên quan tâm đến NCT, đến hoạt động của các thành viên trong gia đình.
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Nhận thức của NCT về hoạt động trợ giúp con trong gia đình như thế nào?
- NCT chủ yếu trợ giúp con cái trong gia đình những công việc gì?
- Nhân tố nào là cơ bản quyết định đến việc có trợ giúp cho con cái của mình hay không
nhân tố cơ bản quan trọng nhất ảnh hưởng quyết định đến sự trợ giúp con của NCT là gia đình
8.Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1 Phƣơng pháp luận
Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử. Áp dụng lý luận này vào đề tài nghiên cứu, chúng tôi muốn tìm hiểu, giải thích
sự tác động của xã hội tới nhận thức và hành động trợ giúp con trong gia đình của người cao
tuổi.Vận dùng nguyên lí này vào đề tài tác giả muốn tìm hiểu những hoạt động trợ giúp đặc biệt
là trợ giúp trực tiếp và gián tiếp, những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới nhận thức và hành động
trợ giúp con trong gia đình của người cao tuổi. Chủ nghĩa Mac – Lê Nin là cơ sở lý luận chính
trong đề tài nghiên cứu này.
8.2 Phƣơng pháp thu thập thông tin.
8.2.1 Phƣơng pháp trƣng cầu ý kiến
6
Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở phiếu trưng cầu ý kiến đã được xây dựng từ trước
với số lượng là 200 người cao tuổi của hai phường, xã của TP Thanh Hóa : Phường Tân Sơn và
xã Đông Lĩnh. Trong đó, đã tính tới sự cân bằng giới tính và cân bằng giữa phường và xã trực
thuộc Thành phố Thanh Hóa.
Nội dung của khảo sát bao gồm thông tin về vai trò trợ giúp con của NCT, trợ giúp
trực tiếp, trợ giúp gián tiếp, và một số thông tin cá nhân. Số phiếu thu về được xử lý trên phần
mềm SPSS 16.0.
8.2.2 Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Mục đích phỏng vấn sâu:Các mẫu phỏng vấn sâu được thiết kế để thu thập thông tinh định
tính thực hiện mục tiêu của đề tài: Vai trò của người cao tuổi đối với hoạt động trợ giúp con và
các nhân tổ tác động tới hoạt động trợ giúp mà bảng hỏi chưa trả lời được.
Đối tượng phỏng vấn: Người cao tuổi và thành viên gia đình có người cao tuổi.
Số lượng phỏng vấn: 10 phỏng vấn sâu
8.2.3 Phƣơng pháp quan sát
Phương pháp quan sát được áp dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, với phương pháp này tác
giả có thể nắm bắt được một số thông tin sơ bộ tại địa bàn nghiên cứu.
việc làm
8
NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Những khái niệm công cụ
1.1.1. Khái niệm vai trò xã hội
1.1.2. Khái niệm ngƣời cao tuổi
1.1.3. Khái niệm gia đình
1.1.4. Khái niệm trợ giúp
1.2Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
12.1 Lý thuyết cấu trúc- chức năng
Về mặt thuật ngữ, chủ thuyết chức năng còn được gọi là thuyết chức năng – cấu trúc hay
thuyết cấu trúc – chức năng. Nguồn gốc lý luận của thuyết cấu trúc – chức năng là: thứ nhất:
truyền thống khoa học xã hội Pháp coi trọng sự ổn định, trật tự của hệ thống với các bộ phận có
quan hệ chức năng – hữu cơ với chỉnh thể hệ thống. Thứ hai: truyền thống khoa học Anh với
thuyết tiến hóa, thuyết kinh tế, thuyết vị lợi, thuyết hữu cơ phát triển mạnh. Từ hai truyền thống
này đã nảy sinh những ý tưởng khoa học về xã hội như là một thể hữu cơ đặc biệt với hệ thống
gồm các thành phần có những chức năng nhất định tạo thành cấu trúc ổn định.
1.2.2 Lý thuyết xã hội hoá
Xã hội hóa là quá trình tiếp thu những tri thức, những tri thức, những khuôn mẫu,
những giá trị, những biểu trưng, tóm lại đó là “những cách suy nghĩ, cảm giác và hành động
riêng của các nhóm, của xã hội, của nền văn minh mà một cá nhân phải sống trong đó.
1.2.3 Lý thuyết về vai trò
Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng. Nó
chính là mặt động của vị thế xã hội vì luôn biến đổi trong xã hội.
Vai trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi
của xã hội đối với từng vị thế nhất định để thực hiện quyền và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế
đó.
Như vậy vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội. Những đòi hỏi
cá nhân khác trong xã hội. Hiểu theo một cách khác, nhận thức là quan điểm, cách nhìn nhận,
đánh giá của một cá nhân, một nhóm xã hội về một đối tượng hay vấn đề nào đó. Mỗi NCT tùy
theo đặc điểm gia đình, hiện trạng sống, trình độ học vấn, tuổi, giới tính….sẽ có nhận thức khác
nhau về vai trò và vị trí của chính họ. Người cao tuổi có một vai trò vị trí quan trọng trong gia
đình. Mỗi một người cao tuổi trước khi về già đều trải qua nhiều công việc trong xã hội và gia
đình. Người cao tuổi là nam giới thường đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh tế gia đình.
Người cao tuổi là nữ thường quán xuyến việc gia đình, dạy dỗ con cái, chi tiêu gia đình. Mỗi
người đều nỗ lực đều nỗ lực đảm nhiệm vị trí, vai trò của mình một cách toàn tâm toàn ý. Mặc
dù sức yếu nhưng vẫn cố gắng tham gia các sinh hoạt của hội NCT, hoạt động xã hội, chăm sóc
con cháu. NCT mong rằng những việc mình làm mang lại niềm vui cho người khác. Đó chính là
ý nghĩa và giá trị cuộc sống của NCT.
Từ đó, NCT sẽ có những lựa chọn nhất định có tham gia trợ giúp con cái trong gia đình hay
không. Vậy nhận thức của NCT về hoạt động trợ giúp con cái trong gia đình như thế nào?
Nhìn chung, qua khảo sát về người cao tuổi tại TP Thanh Hóa cho thấy, mặc dù có nhiều quan
điểm khác nhau song khi được hỏi về sự trợ giúp con cái thì họ đều nhận thức đúng đắn và tích
cực về vấn đề này. Ở hầu hết các phỏng vấn sâu không phân biệt độ tuổi, giới tính, nơi cư trú
NCT đều cho rằng xuất phát từ mong muốn của bản thân người cao tuổi, tinh thần tự nguyện
muốn giúp đỡ con cháu để con cháu có thời gian làm việc, chăm lo học hành nên NCT trợ giúp
con .Thêm nữa, tâm lý “ sống vui, sống khỏe, sống có ích” cũng là một trong những suy nghĩ
của mà NCT tham gia trợ giúp con trong gia đình.
Điều này hoàn toàn đúng với thuyết lựa chọn hợp lý, khi NCT lựa chọn công việc trợ giúp con
cháu trong gia đình thay vì dành toàn bộ thời gian cho bản thân.
2.2.Hoạt động trợ giúp con của ngƣời cao tuổi
10
2.2.1 Hoạt động trợ giúp trực tiếp
Chính những nhận thức đúng đắn và tích cực của NCT về hoạt động trợ giúp con cái trong gia
đình sẽ là một con đường, kim chỉ nam hướng sự tiếp cận của họ tới hoạt động này. Không chỉ
là nhận thức đúng đắn hướng đến hành động chuẩn mực mà nhận thức cũng chính là lát cắt để
NCT để hiện thái độ, quan điểm của họ đối với hoạt động trợ giúp con cháu và ngược lại.
cháu về chăm sóc con cháu,nội trợ… NCT còn là trung tâm hòa giải, gỡ rối tơ lòng cho con,
cháu. NCT có rất kinh nghiệm sống, cách đánh giá và nhìn nhận con người rất chuẩn xác. Với
những giá trị, tiêu chuẩn phù hợp, NCT nhìn nhận rất chuẩn khi đánh giá tính cách, gia đình
của “đối tượng” có phù hợp với con cháu hay không? Vì vậy khi được hỏi có đến 20,5% NCT
thường xuyên định hướng chọn bạn đời cho con cháu, 8% NCT chọn rất thường xuyên, chiếm
tỷ lệ cao nhất là thỉnh thoảng chiếm 56%, hiếm khi:15%, không bao giờ 0,5%.
11
CHƢƠNG 3: CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN ẢNH HƢỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP
CON CỦA NGƢỜI CAO TUỔI
3. 1Các nhân tố tác động
3.1.1 Cấu trúc gia đình
Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động trợ giúp con của NCT là đặc điểm sống của
họ. Trong các nhân tố về đặc điểm sống được nhìn nhận dưới các khía cạnh gia đình mở rộng có
ông bà, bố mẹ , con cháu và sống cùng con cháu và không sống cùng. Là người ông, người bà
trong gia đình, người cao tuổi có vai trò không kém quan trọng trong việc giữ gìn truyền thống
gia đình, truyền thụ những kinh nghiệm sống, chăm sóc cho con cháu. Mối quan hệ giữa người
cao tuổi và conn cái và vấn đề lớn mà cả xã hội quan tâm. Sự khác nhau về cách sống, lứa tuổi,
hệ thống quan điểm giá trị dẫn đến hành vi của người người cao tuổi và con cái khác nhau. Khi
con cái trưởng thành, lập gia đình cũng là lúc bố mẹ bước vào hoặc sắp bước vào giai đoạn trở
thành người cao tuổi. Càng về già thì con cái càng chiếm vị trí quan trọng hơn trong cuộc sống
của người cao tuổi. Tình yêu của cha mẹ giành cho con cái bao la và tâm huyết nhiều hơn là tình
cảm của con cái dành cho cha mẹ. Con cái dành tình cảm cho cha mẹ chủ yếu là hàm ơn và
trách nhiệm. Tuy nhiên, khi con cái bắt đầu chuyển sang giai đoạn làm cha mẹ thì thấu hiểu hơn
tình cảm của cha mẹ giành cho mình. Và khi đó, tình cảm của con cái dành cho cha mẹ ở mức
độ cao hơn. Tình cảm của cha mẹ lúc đó cũng chuyển tình thương và tình yêu dành cho cháu
nhiều hơn. Sau khi con cái kết hôn sống chung với cha mẹ thì cảm giác chăm sóc và được chăm
sóc của người cao tuổi tốt hơn, tuy nhiên, cũng xuất hiện một số mâu thuẫn nhất định. Đó cũng
là một trong những lý do dẫn đến tình trạng sống chung với con cái, hay sống riêng với con cái,
hoặc sống chung ăn riêng hay sống riêng ăn chung của người cao tuổi hiện nay. Điều tra tại 2
* Trình độ học vấn
Trình độ học vấn khác nhau cũng có sự khác nhau trong việc trợ giúp trực tiếp con của NCT.
Trình độ đại học, cao đảng trợ giúp về trông nom chăm sóc con cháu chiếm 10,4%, trình độ
trung học chiếm 17,6%Tuy nhiên, hầu hết những công việc trợ giúp trực tiếp đều là những công
việc giản đơn không đòi hòi nhiều về trình độ học vấn, chủ yếu đòi hỏi về vấn đề sức khỏe. Do
vậy, có sự khác nhau giữa trình độ học vấn khi tham gia trợ giúp con của NCT, nhưng không
gây ảnh hưởng nhiều.
3.1. 4 Hoạt động của Hội NCT và các cơ quan đoàn thể
Bằng thực tiễn hoạt động của NCT và Hội NCT, Hội NCT Việt Nam đã có những đóng góp cụ
thể. Ban chấp hành TW Hội NCT và các cấp Hội đã trực tiếp tham gia bằng nhiều hình thức:
Góp ý kiến bằng văn bản vào các báo cáo chính trị tại Đại hội Ĩ, Đại hội X, tham mưu giúp nhà
nước những vấn đề cụ thể về NCT như:Thành lập Ủy ban quốc gia về NCT Việt Nam, xây dựng
chương trình hành động Quốc gia về NCT giai đoạn 2006-2010, sơ kết 5 năm thực hiện pháp
lệnh NCT, chế độ trợ cấp cho NCT từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm
xã hội, chế độ khám chữa bệnh cho NCT, chế độ cho cán bộ Hội các cấp theo công văn
372/BNV của Bộ Nội vụ đầu xuân năm 2008.
3.1.5 Chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về NCT
Chăm sóc và phát huy vai trò của NCT là một chính sách nhất quán và rất quan trọng của Đảng
và Nhà nước. Pháp lệnh NCT năm 2000, khẳng định “Việc chăm sóc và phát huy đời sống vật
chất, tinh thần và phát huy vai trò của NCT là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và toàn xã
hội, là thể hiện bản chất tốt đẹp, đạo lý truyền thống của dân tộc ta”.
Pháp lệnh 2000 và luật người cao tuổi 2009 nêu khung pháp lý để phát huy vai trò NCT Việt
Nam trong gia đình, xã hội. Các chính sách, chương trình hành động quốc gia về NCT đã quy
định những điều kiện và cơ chế để NCT có cơ hội tham gia phát huy vai trò.
Trong đó, có những chính sách như: đưa NCT tham gia xây dựng chính quyền xã, cơ sở, có đại
diện tại Quốc hội. Chính quyền các cấp khi thiết kế kế hoạch thực hiện các chủ trương đều mời
đại diện hội NCT tham gia.
NCT có tổ chức Hội của mình để nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng và tổ chức các hoạt động đáp
ứng nhu cầu, bảo vệ lợi ích hợp pháp của NCT. NCT là nhân tố quan trọng để giữ gìn truyền
thống văn hóa dân tộc, xây dựng gia đình hạnh phúc.
văn hóa truyền thống. Khi đó, NCT có vai trò rất lớn trong việc hình thành những giá trị văn
hóa mới, người chọn lọc, phát triển và là người truyền lại những giá trị văn hóa tốt đẹp cho các
thế hệ. Là tấm gương chăm lo giáo dục, truyền thụ văn hóa cho các thế hệ sau. NCT luôn có vị
trí tôn kính, là sự bảo đảm cho các chuẩn mực văn hóa gia đình được duy trì và thực hiện.
Thông qua việc răn dạy hay phê phán những biểu hiện xa rời các giá trị văn hóa, NCT cũng
động viên khen ngợi sự trưởng thành của con cháu, các thế hệ trong gia đình. Đồng thời là
người giữ gìn những chuẩn mực văn hóa gia đình có sức sống mạnh mẽ, có giá trị thực tiễn và
các thành viên tự giác tuân theo như các quy phạm đạo đức.
Trong gia đình, NCT là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại là những người giữ gìn những giá trị
vât chất và tinh thần của các bậc tiền bối. Vì vậy, họ là người truyền thụ, bổ sung cho thế hệ trẻ
nền văn hóa gia đình dòng tộc, giữ cho nó ngày càng thêm trong sáng, phong phú, có nét đặc
thù văn hóa chung của dân tộc. NCT cũng là tấm gương sáng trong lao động,học tập, cống hiến
và nghệ thuật ứng xử để con cháu noi theo thông qua lời nói, việc làm, thông qua cách nghĩ, lý
giải của NCT về các giá trị của cuộc sống và thông qua tín ngưỡng, tôn giáo, cách thờ cúng tổ
14
tiên. Thời gian, sự trải nghiệm và cách sống mẫu mực hàng ngày chính là bài học về văn hóa có
sức tryền cảm trực tiếp, mạnh mẽ và thấu sâu vào các thế hệ con cháu.
3.2.1 Đối với con cháu
Người cao tuổi hiện nay là lớp người có công sinh thành, nuôi dạy con cháu, giáo dục lý tưởng
và truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, đồng
thời là lớp người đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu về nhiều mặt, có uy tín, có vai trò,
trách nhiệm quan trọng trong gia đình và xã hội như trách nhiệm nêu gương trong gia đình,
trách nhiệm điều hòa các mối quan hệ trong gia đình, giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống
cho con cháu, giáo dục gia phong của dòng họ, gia đình, giáo dục truyền thống lịch sử của đất
nước, dân tộc, tryền thụ kinh nghiệm nghề nghiệp, làm ăn cho con cháu.Với những vai trò đóng
góp của NCT, được con cháu nhìn nhận, tôn trọng và học tập.
3.2.2 Đối với NCT
Trong cuộc sống gia đình, truyền thống tôn trọng NCT luôn được duy trì, NCT luôn có vị trí cao
nhất trong gia đình. Họ luôn được kính trọng, tiếng nói của họ luôn có ảnh hưởng quyết định
đầy đủ và sâu sắc hơn về vai trò của người cao tuổi đối với hoạt động trợ giúp con trong gia
đình.
Trong luận văn đã trình bày ở trên, chúng tôi tập trung chú trọng đến hai vấn đề chính là: Vai
trò của người cao tuổi thể hiện qua các hoạt động trợ giúp và các nhân tố tác động đến hoạt
động trợ giúp con trong gia đình.
Vai trò của người cao tuổi đối với hoạt động trợ giúp con
Nhận thức của người cao tuổi khi tham gia trợ giúp: Xuất phát từ mong muốn của bản thân mà
NCT tham gia trợ giúp con cháu trong gia đình
Hình thức trợ giúp: Nghiên cứu cho thấy người cao tuổi khi trợ giúp con có xu hướng trợ giúp
trực tiếp khi ở cùng với con cháu và trợ giúp gián tiếp khi không ở cùng với con cháu.
Khi trợ giúp trực tiếp thì người cao tuổi thường trông nom con cháu hoặc nội trợ, cơm nước
trong gia đình để giúp đỡ con cháu
Khi trợ giúp gián tiếp NCT thường đến, gọi điện tâm sự hỏi thăm con cháu, giáo dục về mặt đạo
đức lối sống
Các nhân tố tác động tới hoạt động trợ giúp con cháu của người cao tuổi. Qua những phân tích
trên có thể thấy gia đình có vai trò quan trọng trong hoạt động trợ giúp con của người cao tuổi.
Khi người cao tuổi sống chung với con cái thì hoạt động trợ giúp của người cao tuổi thường là
trợ giúp trực tiếp, và giúp đỡ con cái được nhiều hơn là khi người cao tuổi sống riêng.
Những đặc trưng về nhân khấu xã hôi của NCT tác động rất lớn đến hoạt động trợ giúp con của
NCT.
NCT là nam giới trợ giúp gián tiếp nhiều hơn NCT là nữ giới, gọi điện, hỏi thăm con cháu, cho
những lời khuyên khi gặp khó khăn trong cuộc sống, định hướng làm kinh tế, đinh hướng dựng
vợ gả chồng. Còn NCT là nữ giới thường trợ giúp trưc tiếp thông qua các hoạt động nội trợ,
cơm nước hay trông nom, chăm sóc con cháu.
Hội người cao tuổi hàng năm phát động phong trào “tuổi cao – gương sáng” để người cao tuổi
phát huy vai trò của mình.
Pháp lệnh 2000 và luật người cao tuổi 2009 nêu khung pháp lý để phát huy vai trò NCT Việt
Nam trong gia đình, xã hội. Các chính sách, chương trình hành động quốc gia về NCT đã quy
định những điều kiện và cơ chế để NCT có cơ hội tham gia phát huy vai trò.
2. Khuyến nghị
3. Hoàng Trọng Chu, Nguyễn Mộng Ngọc (2005), phân tích dữ liệu
nghiên cứu với SPSS, NXB Thống kê, Hà Nội.
4. Phạm Khắc Chương – Huỳnh Phước (2000), Ông bà cha mẹ trong
gia đình. NXB Thanh Niên, Hà Nội
5. Bùi Quang Dũng, Lê Ngọc Hùng (2005), Lịch sử Xã hội học,
NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội.
6.Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2001), Xã hội học đại cương,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
7. Trần Thị Minh Đức (1996), Tâm lý học đại cương, NXB Giáo dục
Hà Nội, Hà Nội.
8. Nguyễn Thị Hằng – Đàm Hữu Đắc (1999) Người cao tuổi Việt
Nam – Thực trạng và giải pháp. NXB Lao Động, Hà Nội
9. Nguyễn Thế Huệ(2006), Những điều kiêng kỵ của người cao tuổi,
tập 1, tập 2, Hà Nội.
17
10. Nguyễn Thế Huệ (2005), Chủ tịch Hồ Chí Minh với người cao
tuổi Việt Nam, Hà Nội
11. Nguyễn Thế Huệ (2005), Sổ tay chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
người cao tuổi, Hà Nội
12. Nguyễn Thế Huệ (2007), Người cao tuổi và bạo lực gia
đình, NXB Pháp lý.
13. Nguyễn Thế Huệ (2010), Thực trạng đời sống của người cao tuổi
từ 80 trở lên. NXB Văn hóa thông tin
14. Lê Ngọc Hùng (2001), Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
15. Hội người cao tuổi (2003), Về người cao tuổi và tổ chức của
người cao tuổi, Hà Nội
16. Hệ thống các văn bản pháp chính sách của Đảng và Nhà nước về
người cao tuổi Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (2005),Hà Nội
xử trong gia đình. NXB Phụ nữ, Hà Nội
30. Đinh Văn Tư- Nguyễn Thế Huệ (2010), Nâng cao chất lương
hoạt động của hội người cao tuổi Việt Nam trong thời kỳ mới. NXB Văn
hóa thông tin, Hà Nội
31. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp
nghiên cứu xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
32. Lê Ngọc Văn (1998) Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội
hóa, NXB Giáo dục, Hà Nội
33. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2005)Vài nét về người cao tuổi
Việt Nam nhìn từ quan điểm giới, dự án điều tra bình đẳng giới.
34.Viện Khoa học lao động và xã hội (2012) Báo cáo kết quả nghiên
cứu “Vai trò của chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi
Việt Nam(nghiên cứu trường hợp ở Thanh Hóa do Viện khoa học lao động
19
và xã hội phối hợp với tổ chức evanplan thuộc trường Đại học Heidelberg,
cộng hòa liên bang Đức thực hiện.
35. Đoàn Yên(2011), Cuộc sống sau nghỉ hưu. NXB Y học, Hà Nội.
36. Tony Bilton và những người khác (1993), Nhập môn xã hội học,
NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.