TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN THỦY SẢN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
SO SÁNH SỰ SINH SẢN VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ẤU TRÙNG
VÀ HẬU ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium
rosenbergii) NGUỒN GỐC ĐỊA PHƯƠNG VÀ HAWAII CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: ThS. CAO VĂN THÍCH
Long Xuyên, tháng 5/2009
LỜI CẢM TẠ
đối với nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản nước ngọt.
Tuy nhiên, hiện nay chất lượng tôm càng xanh post xuất trại không ổn định, tình trạng suy
thoái con giống ngày càng trầm trọng đang gây ảnh hưởng lớn đến năng suất nuôi.
Đề tài “So sánh sự sinh sản và phát triển của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm càng xanh
(Macrobrachium rosenbergii) có nguồn gốc địa phương và Hawaii”, Nhằm tìm hiểu sức
sinh sản và sự phát triển của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm càng xanh có nguồn gốc địa
phương và Hawaii để làm cơ sở cho việc chọn lựa nguồn tôm bố mẹ tốt, phục vụ cho công
tác sản xuât giống và nuôi thương phẩm. Kết quả thu được cho thấy:
Sức sinh sản của tôm càng xanh Hawaii cao hơn so với sức sinh sản của tôm càng xanh địa
phương và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Ấu trùng tôm càng xanh Hawaii có
chỉ số phát triển tốt hơn tôm càng xanh địa phương nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống
kê (p>0,05). Thời gian biến thái của ấu trùng tôm càng xanh Hawaii ngắn hơn tôm càng xanh
địa phương. Tỷ lệ sống trung bình từ giai đoạn ấu trùng lên tôm post của tôm càng xanh
Hawaii đạt 41,39%, tôm càng xanh địa phương đạt 37,12%, sự khác biệt này không có ý
nghĩa thống kê (p>0,05). Sự phát triển về trung bình chiều dài và khối lượng trong thời gian
ương từ tôm post đến tôm giống của nghiệm thức tôm Hawaii luôn cao hơn so với tôm địa
phương, nhưng sư khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê (p<0,05). Tỷ lệ sống ương từ
tôm post đến tôm giống của nghiệm thức tôm địa phương là 80% và tôm Hawaii là 81%.
2.2 Sự phát triển của ấu trùng tôm...................................................................................... 28
2.3 Độ no của ấu trùng ....................................................................................................... 30
2.4 Tỷ lệ sống...................................................................................................................... 30
III. Theo dõi sự phát triển của hậu ấu trùng tôm từ tôm bột đến tôm giống 1 tháng tuổi... 32
3.1 Các chỉ tiêu môi trường ................................................................................................ 32
3.2 Tăn trưởng của tôm từ tôm bột đến 35 ngày tuổi ......................................................... 32
3.3 Tỷ lệ sống...................................................................................................................... 35
CHƯƠNG 3 ........................................................................................................................ 36
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I. Kết luận............................................................................................................................ 36
II. Đề xuất ........................................................................................................................... 36
Tài liệu tham khảo .............................................................................................................. 37
Phụ lục……………………………………………………………………………………..39
Bảng 7 Số ấu trùng/tôm mẹ tôm càng xanh địa phương và Hawaii
Bảng 8 Số ấu trùng/g tôm mẹ tôm càng xanh địa phương và Hawaii
Bảng 9 Chiều dài ấu trùng của tôm càng xanh địa phương và Hawaii
Bảng 10 Chỉ số phát triển của ấu trùng tôm càng xanh địa phương và Hawaii
Bảng 11 Tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái của ấu trùng
Bảng 12 Biến động môi trường
Bảng 13 Tỷ lệ sống từ tôm bột lên tôm giống
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1 Hình thái tôm càng xanh
Hình 2 Vùng phân bố của tôm càng xanh
Hình 3 Vòng đời tôm càng xanh
Hình 4 Tôm cái mang trứng
CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là đối tượng thủy sản có chất lượng thịt
thơm ngon, có giá trị dinh dưỡng cao. Tôm càng xanh là loài có kích thước lớn nhất
trong hơn 100 loài thuộc giống Macrobrachium (Nguyễn Việt Thắng, 1993). Chính vì
vậy, tôm càng xanh là một trong những đối tượng rất quan trọng đối với nghề nuôi trồng
và khai thác thủy sản nước ngọt. Tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới đạt trên
119.000 tấn, đạt giá trị 410 triệu USD vào năm 2000. Trong số này, sản lượng tôm càng
xanh từ nuôi trồng chiếm tỷ lệ rất lớn với 72%, sản lượng tôm khai thác là 28%. Châu
Á, đặc biệt là Trung quốc, là châu lục sản xuất giống tôm càng xanh chủ yếu, chiếm
khoảng 95% tổng sản lượng tôm trên thế giới. Năm 2003, chỉ riêng Trung Quốc, sản
lượng tôm càng xanh đạt trên 300.000 tấn (Miao, 2003).
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích nước ngọt khoảng 600.000 ha với nhiều
sông ngòi, kênh rạch, ao, vườn, ruộng, ….. Vùng này có tiềm năng rất lớn cho nghề
nuôi tôm càng xanh với 6.000 ha tiềm năng nuôi tôm càng xanh, đạt sản lượng 2.500 tấn
(Bộ thủy sản, 1999). Nghề nuôi tôm càng xanh phát triển ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ,
Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh với nhiều hình thức nuôi phổ biến như nuôi tôm kết
hợp mương vườn, nuôi ao và nuôi đăng quầng (Phương và ctv., 2004). Đặc biệt trong
những năm gần đây, cùng với việc chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, nghề nuôi tôm luân
canh trong ruộng lúa đã phát triển mạnh ở các tỉnh An Giang và Đồng Tháp, với mô
hình một vụ lúa, một vụ tôm. Năng suất đạt từ 1.000 – 1.600 kg/ha (Bộ thủy sản, 2007).
Tuy nhiên, hiện nay chất lượng tôm càng xanh post xuất trại không ổn định, tình trạng
suy thoái con giống ngày càng trầm trọng đang gây ảnh hưởng lớn đến năng suất nuôi.
Nguyên nhân, để giảm chi phí sản xuất, người sản xuất đã bỏ qua khâu chọn và nuôi vỗ
tôm bố mẹ, chỉ dùng tôm mẹ có trứng sẵn ở các ao, ruộng nuôi để cho sinh sản. Sau đó
tôm post sản xuất ra được bán trở lại cho các ao, ruộng nuôi trên. Cứ thế, dần dần các
thế hệ tôm sau này chắc chắn sẽ bị thoái hóa.
sau:
Ngành tiết túc: Arthropoda
Lớp giáp xác: Crustacea
Lớp phụ giáp xác bậc cao: Malacostraca
Bộ mười chân: Decapoda
Bộ phụ chân bơi: Natantia
Phân bộ: Caridea
Họ: Palaemonidea
Họ phụ: Palaemonina
Giống: Macrobrachium
Loài: Macrobrachium rosenbergii (de Man,1897)
2
Hình 1: Hình thái của tôm càng xanh (Phương và ctv, 2003)
1.2 Phân bố tôm càng xanh
Tôm càng xanh phân bố ở các khu vực Nam Á và Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương,
Bắc châu Úc, Nam Trung Quốc và Đài Loan, từ vùng nhiệt đới đến cận nhiệt đới. Trong
tự nhiên, tôm càng xanh phân bố nước ngọt lẫn nước lợ. Chúng phân bố ở hầu hết các
thủy vực nội địa như sông, hồ, kênh, rạch, ao đầm và vùng cửa sông. Ở Việt Nam, tôm
càng xanh phân bố từ Khánh Hòa trở vào, tập trung chủ yếu ở vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long, mặc dù hiện nay tôm càng xanh đã được di giống nuôi nhiều ở Việt Nam,
đặc biệt là các ở các tỉnh phía Bắc.
Hình 2: Vùng phân bố của tôm càng xanh (Phương và ctv, 2003) 3
trứng có thể thay đổi thường không quá 3 tuần. Các trứng được cung cấp oxy nhờ sự
hoạt động tích cực của các đôi chân bụng và các trứng được vệ sinh nhờ đôi chân ngực
thứ nhất (New và Sinhholka, 1985). Con cái tiến hành di cư ra vùng cửa sông nơi có
nồng độ muối 6 – 18%
0
. Để trứng nở thành ấu trùng bơi lội phù du trong nước, giai
đoạn ấu trùng thường kéo dài 4- 6 tuần, tùy thuộc vào nhiệt độ nước, chất lượng nước
và thức ăn (Aquacop, 1977). Hậu ấu trùng có tập tính bám, chuyển sang sống ở tầng đáy
và bắt đầu di cư ngược dòng vào khu vực nước ngọt.
1.4.2 Đẻ trứng
Sau khi giao vĩ 6 – 20 giờ, con cái bắt đầu đẻ trứng, ở những con cái thành thục không
giao vĩ vẫn đẻ trứng trong khoảng 24 giờ sau khi lột xác, tuy nhiên trứng không thụ tinh
sẽ thoái hóa sau 2- 3 ngày (nguyễn Việt Thắng, 1993). Trong điều kiện nuôi tốt, trứng
phát triển trong buồng trứng khi tôm mẹ vẫn mang trứng (O’Donovan et al, 1984)
1.4.3 Ấp trứng
Quá trình ấp trứng kéo dài từ 19 – 23 ngày ở nhiệt độ 25 – 31
0
C (Ling, 1962). Trong
thời gian ấp trứng, màu trứng sẽ chuyển từ màu vàng sang cam, rồi xám hay nâu đậm
khi nở. Sự ấp trứng liên quan trực tiếp đến nhiệt độ và tôm cái rất nhạy cảm với những
chấn động trong thời gian mang trứng. Khi gặp những chấn động lúc ấp trứng dẫn đến
hoạt động của chân bụng thường giảm, làm trở ngại đến nở trứng và tỷ lệ sống của ấu
trùng. Đặc điểm các giai đoạn phát triển trứng của tôm càng xanh có thể chia ra làm bốn
giai đoạn sau:
Giai đoạn I: Trứng chưa thành thục. Buồng trứng nhỏ, trong suốt, nằm ở vùng chót sau
của khoang giáp đầu ngực. Trứng có hình cầu với nhân rõ ràng và nguyên sinh chất
trong suốt. Đường kính trứng đạt 0,064 – 0,128mm.
Giai đoạn II: Chớm thành thục, buồng trứng chiếm khoảng ½ - ¼ chiều dài của khoang
giáp đầu ngực và có màu vàng. Trứng hơi ngà do có noãn hoàng trong nguyên sinh chất.
61.6 Mùa vụ sinh sản
Theo Phan Hữu Đức (1988), tôm càng xanh sinh sản tập trung vào tháng 4 -6 và 8 – 10.
Tôm cái đẻ 4 – 6 lần/năm, mỗi lần cách nhau 19 – 45 ngày tùy theo điều kiện nhiệt độ
và dinh dưỡng (Nguyễn Việt Thắng, 1995).
1.7 Sức sinh sản
Sức sinh sản tuyệt đối của tôm càng xanh là số trứng trên khối lượng cơ thể tôm cái, số
lượng trứng thường phụ thuộc kích thước tôm cái, con cái càng lớn số trứng càng nhiều
(Nguyễn Việt Thắng, 1995).Sức sinh sản tuyệt đối của tôm ngoài tự nhiên dao động từ
60.000 – 130.000 trứng/con cái (Patra, 1976). Theo Ang (1991) nghiên cứu sức sinh sản
của tôm càng xanh trong ao, với kích cỡ 9.0 – 15.8 cm và khối lượng trứng 6,22 –
45,80g, sức sinh sản dao động từ 1.216 – 89.747 trứng/con cái. Theo Phan Hữu Đức
(1988) thì sức sinh sản tuyệt đối của tôm tùy thuộc vào kích thước, khối lượng tôm bố
mẹ cũng như theo loài. Sức sinh sản của một số loài tôm khác là tôm thẻ 200.000 –
500.000 trứng/tôm mẹ; tôm sú 200.000 – 1.200.000 trứng/tôm mẹ; Tôm hùm 200.000 –
1.400.000 trứng/tôm mẹ. Kết quả cho thấy tôm càng xanh là loài có sức sinh sản tương
đối thấp hơn một số loài giáp xác nêu trên.
Bảng 1: Sức sính sản tuyệt đối của tôm càng xanh (Phan Hữu Đức, 1988)
Khối lượng toàn
thân (g)
Sức sinh sản tuyệt đối
(trứng/tôm cái)
Khối lượng buồng
trứng (g)
Chiều
dài thân
(mm)
Dao
75.843
0.6-2.0
0.9-4.0
1.7-8.5
7.5-13.1
1.7
2.8
3.67
9.5
13.5
Tôm cái ôm trứng thường gặp nhất có chiều dài 126 – 150mm, khối lượng cá thể 20 -
39g. Cũng gặp một số cá thể dài 100mm, khối lượng 7,5g đã ôm trứng, cá biệt có cá thể
ôm trứng dài 220mm, khối lượng 113g. Khối lượng buồng trứng thay đổi từ 0,5- 13,5g,
thường gặp 1 - 4g. Sức sinh sản tuyệt đối của một cá thể cao nhất 180.000, bình quân
80.000 trứng/cá thể (Phan Hữu Đức, 1988).
Mối tương quan giữa kích cỡ tôm mẹ và sức sinh sản, kích thước trứng và ấu trùng mới
nở được Nguyễn Việt Thắng (1993) trình bày qua bảng sau
7Bảng 2: Tương quan giữa khối lượng tôm mang trứng – sức sinh sản với kích thước
trứng và ấu trùng mới nở (Nguyễn Việt Thắng 1993).
Khối lượng tôm
mang trứng
Sức sinh sản thực
tế (số at/g cơ thể)
2.010
1.930
1.8 Sự phát triển của ấu trùng
Ấu trùng trải qua 11 giai đoạn khác nhau, và giai đoạn sau rất khác với giai đoạn trước
khi biến thái (Uno và Soo, 1969). Mỗi giai đoạn có những đặc điểm khác nhau. Ấu
trùng giai đoạn I dài không qua 2mm, trong khi ở giai đoạn XI chúng đạt chiều dài hơn
7mm (Uno và Soo, 1969). Khóa đơn giản để phân biệt ấu trùng này được trình bày qua
bảng sau
Bảng 3: Khóa phân biệt các giai đoạn ấu trùng của tôm càng xanh
Giai đoạn ấu trùng Đặc điểm lưu ý
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
Mắt không có cuống
Mắt có cuốn
Chân đuôi xuất hiện
Chũy có hai răng ở cạnh trên
Đốt đuôi hẹp và dài
Mầm chân bụng xuất hiện
Chân bụng có hai nhánh và chưa có lông tơ
Chân bụng có lông tơ
Nhánh trong của chân bụng có nhánh phụ trong
Chủy có 3 -4 răng ở đầu cạnh trên
nhiệt độ trong mùa lạnh, và bể ương dạng hình chóp, thể tích 1 – 5m
3
. Tỷ lệ sống 35-
50%
1.9.4 Qui trình nước xanh cải tiến (Ang,1986)
Qui trình này sử dụng nước tảo nuôi từ cá rô phi (chủ yếu tảo chlorella) cho vào bể
ương, không thay nước, không siphon, mật độ ương 50 – 60con/l. Tỷ lệ sống 30-98%.
1.10 Nguồn tôm bố mẹ
1.10.1 Nguồn tôm tự nhiên và nhân tạo
Nguồn tôm mang trứng thu từ tự nhiên thường được sử dụng cho các trại sản xuất qui
mô nhỏ. Nguồn tôm này có ưu điểm là tiện lợi và ít tốm kém cho phí, công lao động,
các đầu tư khác trong nuôi vỗ tôm bố mẹ. Tuy nhiên, tôm trứng tự nhiên xuất hiện theo
mùa, khó chủ động về số lượng và chất lượng ấu trùng thường không ổn định do
phương tiên đánh bắt, thu gom và vận chuyển không phù hợp.
Để chủ động nguồn tôm mẹ nhằm đảm bảo sản xuất ổn định, đặc biệt vào những tháng
tôm ít trứng tự nhiên, nên chọn tôm mẹ từ ao nuôi thịt hay ao nuôi vỗ để có chế độ cho
ăn đầy đủ về chất lượng và số lượng.
1.10.2 Kích cỡ tôm bố mẹ
Theo Ling (1969), Fujimura (1974) chọn tôm mẹ cho sản xuất giống từ 40 – 80g. Đối
với các ao nuôi thương phẩm, trong thời gian nuôi 7 – 8 tháng, khối lượng tôm mẹ
thường giao động từ 20 – 50g, số lượng tôm mẹ trên 50g thường không nhiều. Vì vậy,
các trại giống thường chú ý đến số lượng tôm bố mẹ hơn là khối lượng tôm miễn sao
tôm mẹ khỏe mạnh, buồng trứng đạt đầy là đủ.
Để đánh giá nguồn tôm bố mẹ cung cấp và chất lượng ấu trùng. Chất lượng ấu trùng
không chỉ phụ thuộc vào thể trọng mà còn phụ thuộc vào nguồn gốc tôm mẹ mang
trứng. Đánh giá chất lượng ấu trùng có thể sử dụng sức sinh sản hiệu quả, chỉ số này
được tính bằng số lượng ấu trùng nở ra dựa trên 1g thể trọng tôm mẹ.
Tôm mẹ chọn từ ao nuôi thương phẩm, ấu trùng phát triển chậm hơn so với ấu trùng
tôm mẹ ở ao nuôi vỗ. Theo New (2002), một số trại giống thích sử dụng tôm trứng từ tự
nhiên và họ cho rằng chất lượng ấu trùng tốt hơn trong ao nuôi. Tuy nhiên, bắt tôm từ tự
đến năm 1974 đã có 40 tỉnh trong tổng số 72 tỉnh nuôi tôm càng xanh và sản lượng
khoảng 15.000 tấn/năm (New và Singholka, 1985). Ở Đài Loan năm 1969 bắt đầu nuôi
thử, năm 1979 đạt 65 tấn/năm đến năm 1986 đạt 3.500 tấn/năm (New, 1988). Ở Hawaii
1981 nuôi đạt 118 tấn/năm đến 1986 đạt từ 4.000 – 5.000 tấn/năm (New, 1988).
1.11.2 Trong nước
Trước năm 1975, nhiều tác giả nghiên cứu về tôm càng xanh nhưng phần lớn chỉ dừng
lại ở mức độ tổng kết các tài liệu nước ngoài và kinh nghiệm của nông dân nhằm phục
vụ cho việc khai thác.
Sau năm 1975, tôm càng xanh mới phát triển nuôi ở Đồng bằng Sông Cửu Long, tổng
sản lượng tôm nuôi năm 1975 đạt 1.000 tấn; 1984 đạt 4.000 tấn; năm 1985 đạt 15.000
tấn (Aquatic Farm, 1989)
Theo thống kê các tỉnh Nam bộ có diện tích có nuôi tôm càng xanh là 168.000 ha, tuy
nhiên hiện nay chỉ nuôi đạt khoảng 6.000 ha sản lượng 2.500 tấn/năm (Bộ Thủy sản,
1999).
Tôm càng xanh được nuôi tập trung ở các tỉnh Vĩnh Long, Cần Thơ, Tiền Giang, An
Giang, Đồng Tháp, …. Nghề nuôi tôm hiện nay phổ biến với các hình thức nuôi như
nuôi tôm kết hợp ruộng lúa, nuôi trong mương vườn, nuôi ao, nuôi đăng quầng (Trần
11Thị Thanh Hiền và ctv., 1998). Ở miền Bắc tôm càng xanh cũng đã được đưa vào nuôi
thành công từ những năm 1982 và hiện nay đã phát triển ra nhiều khu vực (Nguyễn
Văn Thành và ctv, 1991). Nhu cầu con giống đang gia tăng theo diện tích và mô hình
nuôi.
Tuy nhiên các mô hình trước đây chủ yếu dựa vào nguồn tôm giống tự nhiên có chất
lượng rất biến động và số lượng giới hạn. Những thành công gần đây về sản xuất giống
tôm càng xanh nhân tạo đã mở ra triển vọng cho nghề nuôi tôm càng xanh.
Ở nước ta, từ năm 1975, FAO đã đầu tư xây dựng trại tôm càng xanh đầu tiên tại Vũng
Tàu. Tuy nhiên, trại vẫn chưa hoàn chỉnh và chưa hoạt động được sau một thời gian dài.
Nguồn nước:
- Nước ngọt: sử dụng nước máy do nhà máy nước cung cấp.
- Nước mặn: nước ót lấy từ Bạc Liêu có nồng độ muối ban đầu là 110%o và pha lại với
nước ngọt để được nước lợ có nồng độ 12%o.
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá sức sinh sinh sản của 2 nguồn tôm
Số lượng và kích thước trứng: khảo sát sức sinh sản giữa nguồn tôm càng xanh địa
phương và tôm càng xanh có nguồn gốc từ Hawaii. Tôm mới đẻ được tách buồng trứng,
đem cân, sau đó cân mẫu trứng với 3 lần lập lại, cân khối lượng tôm mẹ. Sức sinh sản
được tính bằng phương pháp trọng lượng (McGregor, 1992 trích dẫn bởi Ang, 1991).
Kích thước trứng được đo ngẫu nhiên 10 trứng/tôm mẹ vừa mới đẻ dựa trên kính hiển vi
và trắc vi thị kính
Số lượng và kích thước ấu trùng: khảo sát số ấu trùng/g tôm trứng giữa tôm càng
xanh địa phương và tôm càng xanh có nguồn gốc từ Hawaii. Tôm trứng được cân trước
và sau khi ấu trùng nở. Bố trí tôm trứng trong xô 15 lít/con. Số lượng ấu trùng nở ra
được tính bằng phương pháp thể tích (Nguyễn Việt Thắng, 1995). Chiều dài ấu trùng
một ngày tuổi được xác định dựa trên kính hiển vi và trắc vi thị kính (đo 10 ấu
trùng/mẫu).
2.3.2 Thí nghiệm 2: Theo dõi sự phát triển của ấu trùng tôm từ khi mới
nở đến giai đoạn tôm post theo quy trình nước xanh cải tiến
Tôm mang trứng xám đen được xử lý bằng formol 20 – 25 ppm (tính cho formol
nguyên chất) trong 30 phút, sau đó thay nước 100% và được lợ hóa từ từ đến 12%o.
Loại bỏ ấu trùng yếu bằng cách tạo dòng chảy, ấu trùng yếu sẽ tập trung ở giữa và được
siphone ra ngoài, ấu trùng khỏe được chuyển qua các bể ương. Số ấu trùng được xác
định bằng phương pháp thể tích (Nguyễn Việt Thắng, 1995).
Bố trí thí nghiệm: Tôm được phân thành 2 nhóm tương ứng với 2 nghiệm thức, cụ thể
như sau:
- Nghiệm thức 1: Tôm càng xanh địa phương
- Nghiệm thức 2: Tôm càng xanh có nguồn gốc Hawaii
hoặc trống rỗng trong dạ dày).
ĐN% = (n(100) + n(75) + n(50) + n(0))/N
Trong đó:
n: số con được xác định
N: tổng số con xác định (60 con)
- Tỷ lệ sống của ấu trùng được xác định sau khi thu toàn bộ tôm post (postlarvae 15
ngày tuổi)
- Tỷ lệ phân đàn của ấu trùng được xác định bắt đầu từ ngày thứ 8
Theo dõi các yếu tố môi trường:
Các yếu tố môi trường được theo dõi trong quá trình ương từ ấu trùng lên post của các
nghiệm thức bao gồm:
- Nhiệt độ: theo dõi hàng ngày, lúc 7h và 14h bằng nhiệt kế thủy ngân
- pH: định kỳ 3 ngày/lần bằng test đo nhanh
14- DO: định kỳ 3 ngày/lần bằng test đo nhanh
- S%o: định kỳ 3 ngày/lần bằng khúc xạ kế
- N-NH
4
+
: định kỳ 3 ngày/lần bằng test đo nhanh
- N-NO
2
-
: định kỳ 3 ngày/lần bằng test đo nhanh
- N-NO
-
3
CHƯƠNG II
KẾT QUẢ - THẢO LUẬN
I. Đánh giá sức sinh sản của 2 nguồn tôm
1. Số lượng và kích thước trứng
1.1 Số lượng trứng
Sức sinh sản tuyệt đối
Sức sinh sản tuyệt đối của tôm địa phương và tôm Hawaii với trọng lượng tôm mẹ từ
17 – 35g (bảng 4 và hình 7) cho thấy, giá trị trung bình số lượng trứng của tôm Hawaii
cao hơn so với tôm địa phương và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Bảng 4: Sức sinh sản tuyệt đối của tôm địa phương và tôm Hawaii
Nghiệm thức N Số trứng/ tôm mẹ
Tôm địa phương 40
27.799±6712 a
Tôm Hawaii 39
32.534±6937 b
Các giá trị thể hiện trên bảng là số trung bình và độ lệch chuẩn
N là số mẫu
Các giá trị trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05)
16
32534
27799
0
5000
10000
15000
1091
957
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
Tôm địa phương Tôm Hawaii
Số trứng
số trứng/g tôm mẹ
Hình 8: Số trứng/g tôm mẹ
Theo Nguyễn Việt Thắng (1995), sức sinh sản tương đối của của tôm càng xanh dao
động từ 500 – 1.000 trứng/g tôm mẹ. Tuy nhiên, sức sinh sản tương đối còn phụ thuộc
vào sức khỏe tôm mẹ. Trong thực tế, tôm cái ngoài tự nhiên có sức sinh sản cao hơn
trong ao nuôi (trung bình từ 600 – 1.000 trứng/g).
Tương quan giữa số lượng trứng và khối lương tôm mang trứng
Sự tương quan giữa số lượng trứng và khối lượng tôm mang trứng từ nguồn tôm địa
phương và tôm Hawaii được thể hiện qua hình 9 và 10.
y = 492.52x
1.1861
R
2
= 0.8845
10000
15000