MỘT SỐ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG CÔNG TÁC GIÁO DỤC HỌC SINH CHẬM TIẾN THEO HƯỚNG TÍCH CỰC TẠI TRƯỜNG THCS PHÙ ĐỔNG. - Pdf 28

1. Tên đề tài :
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG
CÔNG TÁC GIÁO DỤC HỌC SINH CHẬM TIẾN THEO HƯỚNG TÍCH
CỰC TẠI TRƯỜNG THCS PHÙ ĐỔNG.
2. Đặt vấn đề :
2.1. Tầm quan trọng của vấn đề:
Trong những năm học gần đây, Bộ GD và ĐT đã xác định mục tiêu giáo dục
của bậc THCS là “ … Tiếp tục phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ , thể chất ,
thẫm mỹ và các kỹ năng cơ bản của nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa có trình độ học vấn THCS và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và
hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, THCN, học nghề hoặc đi vào cuộc sống ”.
Vì thế giáo dục thế nào để các em có thể trở thành những con người có đủ những
phẩm chất, những tố chất cần thiết đáp ứng được những yêu cầu của xã hội trong
một giai đoạn mới là điều vô cùng quan trọng.
Vấn đề đặt ra là trường THCS có nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển trở
thành con người hữu ích cho xã hội. Và trước tiên là phát triển về mặt nhân cách
hay nói cụ thể hơn là đạo đức, hạnh kiểm học sinh phải được hình thành trên cơ
sở tự rèn luyện của bản thân học sinh ngay trên ghế nhà trường THCS. Đó là ý
thức học tập nghiêm túc, chấp hành đúng nội qui lớp học, trường học, chấp hành
đúng pháp luật
2.2. Thực trạng:
Hiện nay trên các phương tiện thông tin báo chí, truyền hình đã lên tiếng
khá nhiều về hiện tượng học sinh cá biệt chậm tiến, bỏ học tụ tập băng nhóm,
gây gỗ đánh nhau, Vấn đề này đã trở thành một mối quan ngại của dư luận,
nhất là đối với gia đình và nhà trường.
Giáo dục là một khoa học và là một nghệ thuật. Trong đó việc giáo dục,
quản lý HS chậm tiến và ngăn chặn nguy cơ bỏ học của HS là một vấn đề khá
nan giải, phức tạp và hết sức nhạy cảm. Công việc này đã và đang trở thành một
thách thức lớn không chỉ riêng ngành giáo dục, mà còn ảnh hưởng toàn xã hôi.
Hội nhập kinh tế quốc tế ngoài mặt tích cực, nó còn làm phát sinh những
vấn đề mà chúng ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, hội nhập

chỉ những học sinh hoang nghịch: thường gây gỗ đánh nhau, bỏ giờ, trốn học…
không chấp hành nội qui nhà trường, qua giáo dục rèn luyện nhưng không tiến
bộ … thêm vào đó là sự lôi kéo của bạn bè về phía mình nhằm thỏa mản cá tính
hoặc thỏa mản nhu cầu giải tỏa tâm lý bị ức chế về hoàn cảnh của bản thân mình
- HS chậm tiến là hiện tượng tâm lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nó dễ bị lôi
cuốn làm cho HS dễ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu dẫn đến tình trạng bỏ
học giữa chừng và có nguy cơ phạm tội là nỗi day dứt của nhà trường, gia đình
và xã hội .
Những học sinh chậm tiến thường học yếu có thói quen lười biếng, quay cóp
trong học tập, lừa dối cha mẹ, thầy cô, dọa nạt bạn bè, hay trốn học và lảng tránh
các hoạt động tập thể như: lao động, sinh hoạt Đội, tập thể lớp, sinh hoạt ngoại
khóa, là bạn mà không để cho các em quay cóp hoặc báo cho thầy cô biết thì các
em sẽ dọa đánh, không trực tiếp đánh thì nhờ người khác đánh.
Những học sinh chậm tiến có tính giảm sút phổ biến trong tất cả các lĩnh vực,
trừ những lĩnh vực gắn liền với những nhu cầu trái với xã hội, trái với đạo đức.
Một học sinh hay ngủ gật, lười chép bài, học bài nhưng lại tỏ ra rất khéo léo,
2
nhanh trí trong việc giở những trò tinh nghịch với thầy cô, bè bạn. Những học
sinh này hay xem thường, trêu ngươi, khiêu khích trước các thầy cô giáo, cha
mẹ, bạn bè để nhằm thỏa mãn những nhu cầu tinh nghịch được xếp sẵn trong đầu
óc. Chúng thường đánh mất lòng tự trọng, xấu hổ và trở nên chai lì khác thường.
Tùy theo đối tượng tiếp xúc mà chúng có những thái độ, phản ứng một cách gay
gắt, thô bạo.
Có thể nói, những tác hại do các em HS chậm tiến, những học sinh bỏ học
gây ra là không nhỏ và thậm chí là khá nghiêm trọng. Nó làm ảnh hưởng đến
chất lượng giáo dục chung, phong trào thi đua của nhà trường, trật tự trị an xã
hội, hạnh phúc gia đình và nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng trực tiếp đến tương
lai, cuộc sống của các em sau này. Tuy nhiên, là giáo viên trực tiếp giảng dạy ở
các cấp học phổ thông đều được trang bị đầy đủ các văn bản chỉ đạo đối với
công tác giáo dục đạo đức học sinh, trong đó quan tâm giáo dục HS chậm tiến

học sinh ở trường THCS Phù Đổng trong các năm học liền kề. Để có số liệu,
chất lượng thực tế nhằm đưa ra các giải pháp về việc thực hiện công tác giáo
dục học sinh cá biệt chậm tiến của học sinh THCS trong giai đoạn hiện nay.
3.2.Các phương pháp giáo dục học sinh chậm tiến ở trường THCS:
a Phương pháp thuyết phục:
Là phương pháp tác động vào lý trí tình cảm của học sinh để xây dựng
những niềm tin đạo đức.
b Phương pháp rèn luyện
Là phương pháp tổ chức cho học sinh hoạt động để rèn luyện cho các em
những thói quen đạo đức, thể hiện được nhận thức và tình cảm đạo đức của các
em thành hành động thực tế.
c Phương pháp thúc đẩy:
Là phương pháp dùng những tác động có tính chất “ cưỡng bách đạo đức
bên ngoài ” để điều chỉnh, khuyến khích những “ động cơ kích thích bên trong”
của học sinh nhằm xây dựng đạo đức cho học sinh.
4. Cơ sở thực tiễn :
Qua theo dõi đã phát hiện những năm gần đây, hiện tượng HS chậm tiến có
phần gia tăng và ở nhiều cấp độ khác nhau tác động trực tiếp đến học sinh đang
học trong nhà trường .
- HS chậm tiến tăng theo cấp lớp: Ở lớp 6,7 chưa bộc phát chỉ ham chơi,
nhưng đến lớp 8,9 học sinh có biểu hiện rõ rệt những thái độ thiếu nghiêm túc
trong học tập, sinh hoạt nếu không kịp thời giáo dục sẽ sớm trở thành HS hư
hỏng.
- HS chậm tiến tăng theo xu thế phát triển của xã hội theo “ cơ chế thị trường”
ở khía cạnh tiêu cực .
- Học sinh cá biệt chậm tiến biểu hiện ở nhiều khía cạnh, trạng thái khác nhau,
tạm chia làm 4 nhóm :
+ Gây gổ đánh nhau, kết bè thành băng nhóm theo sở thích.
+ Bỏ giờ trốn học dẫn đến học tập sa sút hơn .
+ Quậy phá, thiếu nghiêm túc trong học tập .

không có ý thức khác, rồi bỏ học và có nguy cơ trở thành học sinh có hành vi
không mong đợi.
Tất cả những HS bình thường trở thành những HS cá biệt chậm tiến đều có
nguyên nhân của nó, ở đây chỉ nêu lên một số nguyên nhân làm ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp đến HS làm cho các em trở thành HS cá biệt chậm tiến.
Nguyên nhân của thực trạng trên:
Rất nhiều yếu tố làm cho HS trở thành HS chậm tiến, nhưng ở đây chỉ nêu một
số nguyên nhân tác động trực tiếp đến HS làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm
không lành mạnh làm ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và làm hạn chế
đến năng lực học tập của các em.
+ Đại Hồng là một xã miền núi của huyện Đại Lộc, đời sống nhân dân chủ yếu
canh tác nông nghiệp và làm nương rẫy, có nhiều gia đình cha mẹ thường đi làm
ăn xa hằng tuần, con cái tự sinh hoạt hoặc gởi ông bà quản lý, không có thời gian
quan tâm đến việc học của con em. Từ đó môi trường giáo dục gia đình bỏ ngỏ,
nhiều cha mẹ tỏ ra bó tay trong việc giáo dục con em mình. Thường các em rơi
vào diện học sinh cá biệt chậm tiến ở các nhóm 2, 3, 4 như đã nêu trên.
5
+ Công tác phối kết hợp giữa ba môi trường giáo dục xã hội, gia đình, nhà
trường chưa có hiệu quả cao.
+ Thực trạng về GVCN trong năm học 2011-2012 tại trường: Tỷ lệ giáo viên
đứng lớp 1,65 còn thiếu so với yêu cầu 6 giáo viên để đạt chuẩn 1,9/ lớp, trong
đó phân công 20 giáo viên phụ trách công tác chủ nhiệm của 20 lớp, Còn một số
giáo viên chủ nhiệm chưa có tâm huyết với công tác này, giáo dục HS cá biệt
chậm tiến nặng về hình thức xử phạt, chưa mạnh dạn vận dụng kỷ luật tích cực
vào giáo dục đối tượng học sinh chậm tiến ở lớp mình, do vậy hiệu quả công tác
giáo dục chưa mang lại hiệu quả cao.
+ Có một số học sinh rất ngoan, lễ phép với thầy cô, học giỏi nhưng lại vi
phạm bị các học sinh khác lôi kéo vi phạm nội quy của nhà trường.
+ Một bộ phận GVBM chưa phát huy hết vai trò trách nhiệm phối hợp với
GVCN trong công tác giáo dục học sinh chậm tiến, đôi lúc việc giáo dục lại

thành một con người sống ích kỷ đến lạnh lùng. Hãy tập cho các em có tính tự
lập ngay từ nhỏ và biết chịu đựng, biết khắc phục những khó khăn thiếu thốn
trong cuộc sống đời thường. Phải để cho các em thấy được sự lao động, vất vả
khó nhọc khi làm ra đồng tiền và sử dụng đồng tiền như thế nào cho có hiệu quả.
Một nguyên nhân cơ bản là gia đình thiếu quan tâm, kiểm tra, đôn đốc, nhắc
nhở, động viên các em trong học tập, vui chơi. Có gia đình phó thác hẳn việc
giáo dục con cái cho thầy cô giáo, cho nhà trường. Có gia đình thiếu biện pháp
giáo dục, thiếu kết hợp với nhà trường, với các lực lượng giáo dục khác. Không
ít gia đình chỉ biết làm ăn, đầu tư kinh tế, xem nhẹ việc giáo dục con cái. Nếu có
nắm thông tin về con cái thì cũng chung chung, một chiều rất phiến diện.
Thực tế cho thấy, nếu nơi nào có sự phối kết hợp chặt chẽ, thường xuyên có
hiệu quả giữa ba lực lượng giáo dục là gia đình – nhà trường – xã hội thì hiện
tượng HS cá biệt chậm tiến sẽ giảm đi rất nhiều.
Về phía nhà trường, một lực lượng giáo dục rất quan trọng góp phần hình
thành nhân cách của học sinh là GVCN, song hiện tại thì việc phối hợp chặt chẽ
với hai lực lượng giáo dục gia đình và xã hội chưa cao, chưa tạo được sự đồng
bộ, đồng thuận trong việc giáo dục các em, còn coi nhẹ kỷ cương – tình thương –
trách nhiệm.
Người giáo viên, nhất là giáo viên chủ nhiệm phải nắm thông tin một cách
đầy đủ, chính xác, kịp thời về học sinh của mình đặc biệt là những HS cá biệt
chậm tiến để đề ra những biện pháp giáo dục thích hợp. Có quá ít thời gian tiếp
cận với học sinh của lớp mình cũng là một hạn chế trong việc giáo dục học sinh
cá biệt, ngăn chặn học sinh bỏ học.
Thực tế trong nhà trường phổ thông hiện nay việc giáo dục HS chậm tiến chủ
yếu là do giáo viên chủ nhiệm phụ trách. Có giáo viên tiếp xúc với lớp chủ
nhiệm khoảng 7 tiết/tuần nhưng cũng có giáo viên chỉ có tiếp xúc với lớp không
quá 3 tiết/tuần. Trong khi công việc của giáo viên chủ nhiệm đâu chỉ có giáo dục
HS chậm tiến.
Thực tế hiện nay các hoạt động, phong trào trong nhà trường (trừ hoạt động
giảng dạy) nhìn chung còn nghèo nàn, chưa phong phú, mang tính hình thức.

trong quan hệ xã hội rất phong phú và vô cùng phức tạp, học sinh luôn nhạy cảm
với cái mới, cái lạ trong đó có cái tốt và cái xấu. GVCN cần có ý thức sâu sắc
trong việc giúp các em thiết lập quan hệ đúng đắn, lành mạnh, thuận lợi là nhiệm
vụ không đơn giản và rất cần thiết đối với công tác chủ nhiệm lớp.
- Người GVCN phải tự hoàn thiện phẩm chất nhân cách của người thầy giáo
giúp đỡ các em rèn luyện ý thức, thái độ, hình thành những phẩm chất tình cảm
trong sáng đúng đắn. Xây dựng cho các em lý tưởng, sống cao thượng, có bản
lĩnh “đề kháng” với những cám dỗ, những ảnh hưởng tiêu cực diễn ra xung
quanh.
Từ những yêu cầu về vai trò trách nhiệm của GVCN lớp trên, trong công tác
giáo dục học sinh cá biệt chậm tiến, nhà trường chỉ đạo cho GVCN thực hiện các
giải pháp sau:
- Điều tra, tìm hiểu và nắm bắt được hoàn cảnh của đối tượng học sinh cá biệt
chậm tiến của lớp thông qua GVCN của năm học trước đối với các lớp 7,8,9.
Lập danh sách HS cá biệt chậm tiến theo dõi vào sổ chủ nhiệm, báo cáo danh
sách cho nhà trường theo dõi. Trong quá trình giáo dục rèn luyện HS, GVCN cần
vận dụng kỷ luật tích cực đối với các em “là động viên, khuyến khích, hỗ trợ,
nuôi dưỡng lòng ham học dẫn đến ý thức kỷ luật một cách tự giác, nâng cao
8
năng lực và lòng tin của HS vào GV. Giáo dục không hề mang tính bạo lực mà
thể hiện sự tôn trọng HS nên các em sẽ tiếp thu hiệu quả hơn”
+ Phải biết lắng nghe học sinh nói.
+ Phải có cái nhìn của một nhà sư phạm, tôn trọng và không nên áp đặt học
sinh, phải có thái độ thiện cảm với học sinh
- Trong thực tế giáo dục HS cá biệt chậm tiến, đôi lúc GVCN quá nóng vội và
bức xúc trước các vi phạm của học sinh đã có những biện pháp không phù hợp,
không thể hiện được tính kiên trì, khoa học, sư phạm như: ứng xử của GV đôi
lúc còn làm tổn thương đến tâm lí lứa tuổi, làm mâu thuẫn giữa thầy và trò! thậm
chí còn mạt sát học sinh. Hoặc trong công tác giáo dục học sinh, còn có tư tưởng
đuổi một vài học sinh để nêu gương- như thế là chưa hữu hiệu

giáo để xứng đáng là tấm gương tốt cho học sinh noi theo.
5.2.2. Hiệu trưởng chỉ đạo cho GVCN tổ chức cho HS lớp học tập quy chế
đánh giá xếp loại HS, nội quy của nhà trường:
- Để cho HS nắm bắt được việc đánh giá xếp loại hạnh kiểm (HK) tức là những
chuẩn mực các em đạt được trong quá trình rèn luyện hạnh kiểm của mình. Ngay
từ đầu năm học nhà trường đã chỉ đạo cho GVCN tổ chức cho tất cả học sinh học
tập quy chế đánh giá xếp loại HS, cho các em biết được các mức độ xếp loại HK
( tốt, khá, trung bình, yếu ) theo Thông tư 40, Điều lệ trường PT, Thông tư số:
58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo về quy chế đánh giá xếp loại HS THCS áp dụng từ HKII, năm học 2011-
2012. Hiểu được thì các em sẽ tránh được vi phạm mà các em mắc phải, để rồi
các em khỏi phải bị xếp loại HK yếu, khỏi phải liệt vào danh sách HS cá biệt
chậm tiến.
- Tổ chức cho HS thảo luận nội qui nhà trường và hướng dẫn cho các em thực
hiện nội qui, có chế độ khen chê công bằng, khách quan.
- Triển khai các văn bản về đánh giá xếp loại HS THCS, nội quy nhà trường
trong các lần họp CMHS ở đầu năm học và sơ kết HKI của năm học. Bên cạnh
đó còn tổ chức học riêng đối với diện học sinh cá biệt chậm tiến của lớp, từng
bước phân tích kỹ các nội dung liên quan đến giáo dục đạo đức học sinh, yêu cầu
các em cam kết không vi phạm với nội dung đã cam kết.
5.2.3. Định hướng cho GVCN tổ chức tiết sinh hoạt lớp:
Ngoài việc giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường, giờ sinh hoạt lớp
cũng rất quan trọng trong vấn đề này. Bởi vì thông qua giờ SHL, GVCN, CB lớp
kịp thời uốn nắn những sai trái khuyết điểm của HS khi bị vi phạm, lấy tình cảm
bạn bè, lấy nghĩa thầy trò làm cho các em thấy được khuyết điểm của mình.
Đồng thời với sự chân thành của GVCN, HS trong lớp, HS khi vi phạm sẽ sớm
nhận ra lỗi lầm của mình mà sửa chữa .
Trong khi giáo dục các em, GVCN không nên nặng về kiểm điểm, phê bình,
mà phải tìm ra và xác định đúng nguyên nhân đã tác động đến các em làm cho
các em mắc sai lầm, vi phạm, vận dụng những điều khoản trong nội qui, trong

trốn học đến đi học chuyên cần và học tập nghiêm túc. Mặt khác, TT ban đại
diện CMHS đã tác động đến gia đình các em để cha mẹ các em quan tâm và có
trách nhiệm đối với con cái của họ hơn, từ đó sẽ hạn chế được HS hoang nghịch,
chậm tiến dẫn đến nguy cơ bỏ học.
5.2.5. Phối hợp với GVBM trong công tác giáo dục đạo đức HS chậm tiến:
+ Một bộ phận GVBM chưa phát huy hết vai trò trách nhiệm phối hợp với
GVCN trong công tác giáo dục học sinh chậm tiến, đôi lúc việc giáo dục lại
mang tính những chiều trái ngược như “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Như
đối tượng HS cá biệt chậm tiến có nguy cơ bỏ học, GVCN cùng với CMHS vận
động các em ra lớp học, nhưng GVBM lại yêu cầu chất lượng, không tạo điều
kiện giúp đỡ đối với diện HS này, từ đó làm các em trở nên chán nản, tiếp tục lại
bỏ tiết, trốn học.
+ Qua các lần sinh hoạt chuyên môn toàn thể CB-VC, nhà trường đánh giá
phân tích các giải pháp giáo dục học sinh chậm tiến, rút kinh nghiệm về công tác
phối hợp các lực lượng, để từng bước nâng cao chất lượng đạo đức học sinh
chậm tiến và giải quyết đã nêu trên.
+ Việc phối hợp với các giáo viên bộ môn trong công tác giáo dục đạo đức
học sinh là hết sức quan trọng nhằm theo dõi từng học sinh qua đó có kế hoạch
điều chỉnh cũng như giáo dục các em có dấu hiệu vi phạm, giúp các em học tập
tốt hơn. Mặt khác có những em học sinh thích học môn này, lại không thích môn
11
kia vì những lý do khác nhau do vậy phải luôn tìm hiểu cặn kẽ các nguyên nhân
từ các giáo viên bộ môn để cùng với giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích
hợp nhằm giúp các em có thể có kết quả học tập tốt hơn, từ đó các em sẽ hứng
thú học tập và đi học đều đặn hơn. Hơn nữa thông qua việc phối hợp với các giáo
viên bộ môn trong trường để phát hiện về năng khiếu cũng như sở thích cũng
như những hạn chế của từng học sinh để từ đó phát hiện và bồi dưỡng kịp thời
giúp các em phát triển một cách hoàn thiện hơn. Sự phối hợp giữa GVCN và
GVBM là nguyên nhân quyết đinh đến việc hạn chế học sinh cá biệt chậm tiến
của lớp của nhà trường.

2008-
2009
750 466 62,1 211 28,1 58 7,7 15 2
2009-
2010
734 401 54,6 235 32 84 11,4 14 1,9
2010-
2011
717 485 67,6 169 23,6 59 8,2 4 0,6
HKI:
2011-
2012
729 494 67,8 196 26,9 36 4,9 3 0,4
7. Kết luận :
Sáng kiến gồm các bước hỗ trợ GVCN trong công tác giáo dục HS chậm tiến:
a.Xác định Vai trò, trách nhiệm của GVCN khi thực thi trách nhiệm với lớp
b. GVCN tổ chức cho HS lớp học tập quy chế đánh giá xếp loại HS, nội quy
của nhà trường
c. Giáo dục học sinh thông qua giờ sinh hoạt lớp
d. Phối hợp với ban đại diện CMHS, Đoàn – Đội, GVBM lớp để giáo dục HS
Sáng kiến này chỉ đi sâu vào định hướng các giải pháp hỗ trợ GVCN trong
công tác giáo dục học sinh cá biệt chậm tiến theo hướng tích cực tại đơn vị trong
năm học 2011-2012, từng bước giúp chúng ta tránh đối xử thô bạo, trách móc
các em, hãy tôn trọng nhân cách các em. Thầy cô, bè bạn hãy gần gũi, cảm
thông, độ lượng, chia sẻ, tạo điều kiện và cơ hội để các em sửa chữa những lỗi
lầm, khuyết điểm hoặc phát huy những tài năng, sáng tạo của các em. Chúng ta
hãy giúp các em lấy lại lòng tin, lòng tự trọng, đừng bao giờ để các em đánh mất
niềm tin ở chính bản thân mình. Bởi vì đánh mất niềm tin ở chính bản thân mình
thì các em sẽ mất tất cả. Hãy đến với các em bằng tình thương, sự đồng cảm hơn
là một người giáo dục.

b. Nghiệp vụ quản lý trường THCS – tập 4- trường cán bộ quản lý giáo dục TP.
Hồ Chí Minh. Năm 2003.
c. Lý luận quản lý giáo dục và phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
trường THCS- tập 2- trường cán bộ quản lý giáo dục TP. Hồ Chí Minh. Năm
2003.
d.Tài liệu BDTX cho giáo viên THCS chu kỳ 3( 2004-2007) môn GDCD- vụ
giáo dục trung học.
e. Quyết định số 40/2006/QĐ- BGDĐT về việc ban hành quy chế đánh giá xếp
loại học sinh THCS và học sinh THPT.Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT về
việc ban hành điều lệ trường THCS, trường THPT và trường PT có nhiều cấp
học.
g. Thông tư số: 58/2011/TT-BGDĐT, ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo về quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở
và học sinh trung học phổ thông.
h. Tài liệu bồi dưỡng CBQL, GV về công tác chủ nhiệm trong trường THCS,
THPT của BGD&ĐT, ban hành thực hiện từ tháng 6/2011. 15
11. Mục lục :
1. Tên đề tài: Trang 1
2. Đặt vấn đề: Trang 1
3. Cơ sở lý luận: Trang 2
4. Cơ sở thực tiễn: Trang 4
5. Nội dung nghiên cứu: Trang 6
6. Kết quả nghiên cứu: Trang 12
7. Kết luận: Trang 13
8. Đề nghị: Trang 14
9. Phụ lục: Trang 14
10.Tài liệu tham khảo: Trang 15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status