BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----------------
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƢỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2009”
TÊN CÔNG TRÌNH:
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Bến Tre là một tỉnh còn nghèo nhƣng có tiềm năng rất lớn để phát triển ngành
dừa, đặc biệt là nhu cầu xơ dừa hiện nay đang tăng trên thị trƣờng thế giới. Chỉ xơ dừa
đƣợc xuất sang các nƣớc nhƣ: Ấn Độ, Trung Quốc, các nƣớc châu Âu…Tuy nhiên
trong quá trình thu mua còn nhiều bất cập, phải trải qua nhiều khâu trung gian nên làm
gia tăng chi phí, giảm hiệu quả xuất khẩu do đó cần có các giải pháp hỗ trợ quá trình
này nhằm nâng cao giá trị của lƣới xơ dừa xuất khẩu.
Hiện tại chƣa có nhiều đề tài nghiên cứu nhiều về chỉ xơ dừa, đặc biệt là quá
trình thu mua và sản xuất chỉ xơ dừa ở Bến Tre vì thế nhóm đề tài tập trung nghiên cứu
quá trình này, đánh giá những ƣu điểm và hạn chế từ đó đƣa ra giải pháp hỗ trợ cho các
đối tƣợng tham gia hoạt động, tìm hƣớng nâng cao hiệu quả thu mua, xuất khẩu cho chỉ
xơ dừa ở Bến Tre.
1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động của các đối tƣợng trong quá trình thu mua chỉ xơ
dừa xuất khẩu ở huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, đánh giá những ƣu thế và những
hạn chế từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ các đối tƣợng trong chuỗi thu mua xơ dừa,
giúp hoạt động thu mua diễn ra tốt hơn.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động quá trình thu mua chỉ xơ dừa, phạm vi
nghiên cứu chủ yếu là các hộ trồng dừa, những ngƣời thu mua dừa và các chủ vựa xơ
thành rẻ hơn rất nhiều so với sợi tổng hợp và thân thiện với môi trƣờng, có thể đƣợc
tận dụng để chế biến thành rất nhiều thành phẩm, nếu đƣợc tận dụng tốt chỉ xơ dừa sẽ
góp phần tăng thu nhập cho ngƣời nông dân tỉnh Bến Tre. 4
CHÖÔNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU MUA
1.1
KHÁI NIỆM VỀ THU MUA
Thu mua bao gồm hàng loạt các quá trình, tiếp tục quá trình sản xuất: sơ chế,
bảo quản, vận chuyển và chế biến sản phẩm. Quá trình này làm thay đổi hình thức giá
trị sử dụng và làm tăng giá trị trao đổi.
Vai trò
Trao đổi sản phẩm tiến hành dƣới hình thức mua bán sản phẩm là mối liên hệ
kinh tế chủ yếu giữa những ngƣời sản xuất và tiêu dùng trong xã hội.
Phân loại
Thu mua trực tiếp
Thu mua gián tiếp
5
Tuỳ theo tính chất phức tạp của hàng hoá, có thể có một hay nhiều ngƣời trung
gian làm cầu nối cho việc trao đổi hàng hoá. Số lƣợng ngƣời trung gian càng nhiều thì
giá cả của hàng hoá ngày càng tăng thêm, ảnh hƣởng đến khả năng cạnh tranh của hàng
Họ thu mua dừa từ các nhà vƣờn, tập trung dừa tại một địa điểm từ đó vận
chuyển đi bán cho các chủ vựa. Dừa trái đƣợc thƣơng lái đến tận các nhà vƣờn bẻ rồi
vận chuyển về bằng xe đạp, xe cải tiến, xuồng hay ghe. Sau khi tập trung dừa trái từ
các nhà vƣờn, thƣơng lái có thể dùng ghe chở dừa trái đến bán trực tiếp cho chủ vựa,
hoặc là chở đến chỗ chủ vựa lột và bán vỏ cho chủ vựa còn “hột” – trái dừa đã lột vỏ
xơ đi còn gáo dừa, cơm dừa và nƣớc – thì vận chuyển đi bán ở nơi khác.
1.2.3
Vựa thu mua
Cơ sở chế biến có quy mô nhỏ, nằm ngay tại địa phƣơng. Chủ vựa thu mua dừa
trái hoặc vỏ dừa khô từ thƣơng lái, cho vỏ dừa vào máy tƣớc chỉ rồi đem chỉ ra phơi
khô, sau đó gom lại đóng thành từng kiện bán cho các công ty xuất khẩu. Các công ty
xuất khẩu đến tận vựa để thu gom chỉ xơ dừa. Các công ty sẽ tái chế và đóng gói xuất
khẩu hoặc bán cho các doanh nghiệp sản xuất trong nƣớc.
Các vựa tƣớc chỉ thƣờng có một máy tƣớc chỉ làm việc với công suất 1 đến 2
tấn một ngày nếu là chỉ khô, còn chỉ ƣớt thì công suất đƣợc khoảng 4 đến 5 tấn một
ngày.
7
Các vựa tƣớc chỉ là nơi giải quyết phần lớn công việc cho ngƣời dân ở đây, một
vựa thu mua dừa tƣớc chỉ trung bình có khoảng 20 đến 25 nhân công thực hiện các
công đoạn: lột vỏ dừa, đứng máy, bốc vác, phơi chỉ,…
1.2.4
Công ty xuất khẩu
Là đầu mối tiêu thụ sản phẩm, hiện tại việc xuất khẩu chỉ xơ dừa không chỉ có
các công ty Việt Nam mà đã có sự tham gia ngày càng nhiều của các công ty nƣớc
ngoài nhƣ Công ty Chế biến Dừa Phú Hƣng (đơn vị liên doanh giữa Tập đoàn
Silvermill - Sri Lanka và Công ty Treximco- Bến Tre) đặc biệt là các công ty Trung
Quốc, Đài Loan càng gia tăng sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu mua và xuất khẩu
dƣời biển bới độ bền, lâu bị phân huỷ trong môi trƣờng nƣớc nặng, cách âm, cách
nhiệt. Giá trị xuất khẩu: 170 - 185 USD/tấn.
Dừa là một trong những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của nƣớc ta
trong tháng 4/2007 - chiếm 30,3% tổng kim ngạch xuất khẩu trái cây của cả nƣớc.
Dừa Việt Nam tập trung chủ yếu ở 3 nơi: Bến tre, Trà Vinh và Bình Định. Bến
Tre đƣợc biết đến có diện tích dừa lớn nhất Việt Nam, hiện nay khoảng 40.000 ha. Sản
lƣợng dừa cũng cao nhất nƣớc (trên 300 triệu trái/năm). Giá trị xuất khẩu các sản phẩm
dừa năm 2009 dự kiến đạt trên 66 triệu USD trong tổng số 170 triệu USD giá trị xuất
khẩu của toàn tỉnh.
2.2
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ CÂY DỪA BẾN TRE
Vƣờn dừa ĐBSCL tập trung chủ yếu ở Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, Cà Mau,
Vĩnh Long… Trong đó, Bến Tre và Trà Vinh là nơi phát triển mạnh về diện tích lẫn
chế biến xuất khẩu. Tại các huyện Mỏ Cày, Bình Đại, Giồng Trôm (Bến Tre); Càng
Long, Cầu Kè (Trà Vinh). Trung bình mỗi vƣờn dừa (4.000m2) mỗi tháng cho thu
hoạch khoảng 7-8 trăm trái (mỗi trăm bằng 120 trái). Giá dừa bán tại vƣờn hiện nay là
320.000đ/ trăm dừa vào mùa nắng (mùa mƣa giá có sụt đôi chút).
Về giống, theo khảo sát dừa trồng tại Bến Tre chia thành 2 nhóm chính: giống
dừa cao và giống dừa lùn; dừa cao có 3 giống chính: dừa ta chiếm 35% tổng diện tích
dừa của tỉnh, dừa dâu chiếm 4% diện tích vƣờn dừa của tỉnh, dừa lửa chiếm 2% diện
tích vƣờn dừa của tỉnh; dừa lùn chiếm trên 10% diện tích trồng dừa của tỉnh gồm các
giống dừa: dừa xiêm, dừa tam quan, dừa ẻo… Mật độ trồng khoảng 150-180 cây/ha với
giống dừa cao và 200-220 cây đối với giống dừa lùn. Trong khâu chọn giống, qua khảo
sát thực tế 500 hộ trồng dừa trong tỉnh cho thấy: 89% nông dân chọn giống từ vƣờn
nhà; mua giống từ vƣờn khác chiếm 10%; mua giống từ các trung tâm giống chiếm
dƣới 1%. . Hiện tại, đa số diện tích dừa ĐBSCL trồng tự phát quá lâu, giống cũ nên
10
nghèo, đồng thời nâng cao thu nhập cho nông dân trồng dừa.
Nhu cầu thị trường
Giá các loại thảm xơ dừa (thảm chùi chân) trên thị trƣờng thế giới dao động từ
12,5 – 37,84 USD/m2, hiện nay giá có khuynh hƣớng giảm với tỷ lệ giảm khoảng
5,6%. Giá chổi xơ dừa và bàn chải xơ dừa hiện khoảng 0,77 USD/chiếc tăng khoảng
14,2% so với giá cùng thời điểm năm trƣớc.
Quý 1/2009, giá chỉ xơ dài khoảng 862 USD/tấn tăng 35,4%, giá chỉ xơ xoắn
khoảng 962USD/tấn tăng 5,25%, giá mụn dừa khoảng 315USD/tấn tăng 11,8% so với
giá quý 1/2008.
Nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm chỉ xơ dừa luôn biến đổi. Năm 2008, mụn dừa
chủ yếu đƣợc xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc, tiếp theo là EU (các nƣớc Tây Ban
Nha, Hà Lan, Ý, Pháp, Anh Đức, Phần Lan). Các nƣớc Bắc Mỹ (Mỹ, Canada, Mexico)
nhập khẩu mụn dừa. Các nƣớc Châu Mỹ La linh nhƣ Argentina, Ecuador và Chi Lê
cũng nhập khẩu một số lƣợng nhỏ mụn dừa. Ngoài ra, các sản phẩm chỉ xơ dài, chỉ xơ
cứng, chỉ xơ xoắn, nệm xơ dừa cũng đƣợc xuất khẩu sang thị trƣờng Mỹ, Trung Quốc,
Hàn Quốc, Á Rập Saudi, các nƣớc EU.
Ngoài Đức, có 6 quốc gia quan trọng khác ở thị trƣờng EU đang nhập khẩu
thảm lót sàn bằng xơ dừa từ thị trƣờng thế giới là Ai Cập, Netherlands, Tây Ban Nha,
Ý, Anh (UK) và Ba Lan. Thị trƣờng nhộn nhịp nhất theo nhận định là Tây Ban Nha, Ý
và Ba Lan. Ba quốc gia này có tốc độ tăng trƣởng nhập khẩu rất đáng kể là 26,9%,
19,2% và 18,4%/năm trong suốt 5 năm qua. Nhu cầu trung bình hàng năm của các
quốc gia này là 1,6 triệu tấn (Tây Ban Nha), 3,0 triệu tấn (Ý) và 0,3 triệu tấn (Ba Lan).
12
Các quốc gia nhập khẩu ở thị trƣờng EU nhƣ Ai Cập, Netherlands có tỷ lệ tăng trƣởng
giảm với 4,7% và 13,8%/năm tƣơng ứng với lƣợng nhập khẩu trung bình là 0,33 triệu
tấn (Ai Cập) và 0,61 triệu tấn (Netherlands).
Mặc dù có xu hƣớng giảm trong vòng 5 năm qua, nhƣng thị trƣờng EU vẫn là
một trung tâm thị trƣờng nhập khẩu xơ dừa và các bán thành phẩm. Đức vẫn có nhu
cầu cần khoảng 8,7 triệu tấn/năm đối với các sản phẩm xơ dừa nhƣ xơ thảm và xơ cứng
triển tốt nhất tuy nhiên cũng rất ít hộ thực hiện đƣợc điều này, bên cạnh việc trồng dừa
không cần công chăm sóc nhiều, ngƣời nông dân cần có nhiều công việc phụ thêm.
Tuổi thọ cây dừa trung bình là 60 năm, sau lần thu hoạch đầu tiên cứ khoảng 1
tháng - 20 ngày lại thu hoạch, nhƣ vậy 1 năm ngƣời trồng dừa thu hoạch khoảng 10
lần. Về cách thức thu hoạch, chủ vƣờn có thể thuê ngƣời chuyên môn bẻ dừa rồi bán
cho thƣơng lái với giá 32.000VNĐ/ chục hoặc thƣơng lái đến bẻ dừa, đếm rồi mua
luôn, giá hiện tại là 30.000VNĐ/ chục, giảm gần một nửa so với năm trƣớc. Theo cách
khác, trong trƣờng hợp chủ vựa lột dừa bán thẳng cho chủ tàu Trung Quốc để cạnh
tranh họ sẽ liên hệ trực tiếp với nhà vƣờn, nhà vƣờn bẻ sẵn rồi họ tới lấy. Phƣơng tiện
vận chuyển dừa có thể dùng xe đạp (1 xe đạp máng đƣợc 50 trái dừa), xe lôi, xe ba gác,
ghe, xuồng máy…hoặc dùng bè kết dừa thả trôi theo đƣờng nƣớc kênh rạch nếu nhƣ
ghe, xuồng máy không thể vào.Trong quá trình vận chuyển có thể kết hợp nhiều cách
thức, phƣơng tiện vận chuyển bằng đƣờng thủy là phổ biến và hiệu quả nhất vì có thể
tận dụng hệ thống sông ngòi, kênh rạch cùng các con nƣớc lên xuống theo thời gian.
Ngƣời trồng vƣờn chịu nhiều áp lực vì một trái dừa mang lại các giá trị khác
nhau và chỉ cần một trong các yếu tố có vấn đề thì giá dừa sẽ giảm. Nhìn chung giá bấp
14
bênh gây nhiều khó khăn cho ngƣời trồng dừa, cầu thị trƣờng biến động, phụ thuộc
nhiều vào tàu Trung Quốc. Bên cạnh đó, còn các yếu tố cũng gây ảnh hƣởng tới việc
trồng dừa nhƣ thời tiết, sâu bọ, phân bón,…Sâu bọ phá hại nếu xuất hiện ở một cây
trong vƣờn có thể sẽ ăn hết vƣờn gây thiệt hại lớn cho ngƣời trồng. Mức độ phá hại của
chuột không bằng sâu bọ song cũng làm năng suất giảm đáng kể.
Nhà nƣớc ta có qui định trong công việc trồng dừa, một cây một tháng hái đƣợc
6 trái, nếu dừa công nghiệp (hay còn gọi là dừa ta/dừa bị): 10 trái/cây, 1 công dừa 19
cây thì chỉ đƣợc 15 cây thu hoạch. Từ đó ngƣời nông dân có thể so sánh đối chiếu với
kết quả thu hoạch của mình, để có kế hoạch trồng và chăm sóc vƣờn dừa tốt hơn. Các
hộ nông dân trồng dừa sẽ đƣợc tập huấn qua các hội thảo, chƣơng trình do phòng nông
nghiệp của huyện tổ chức. Nếu hộ nào nằm trong vùng dự án sẽ đƣợc tập huấn thƣờng
xuyên hơn, hình thành hợp tác xã, đƣợc hỗ trợ phân bón, tƣ vấn kĩ thuật. Tuy nhiên
sông, khu tƣớc chỉ xơ dừa, khu sân phơi và kho dự trữ. Nhờ nghề sản xuất chỉ xơ dừa,
mỗi lao động thu nhập thƣờng xuyên trên 50.000 đồng/ngày. Làng nghề này có gần
200 cơ sở, mỗi cơ sở giải quyết việc làm từ 18-20 lao động. Lột dừa khô 1 cò (200 trái)
tiền công là 8.000 đồng, trung bình một ngày một ngƣời lột từ 8-10 cò (1 thiên dừa
1.200 trái). Thảy dừa từ ghe lên bờ tiền công 7.000 đồng/thiên dừa. Đập vỏ dừa (bằng
máy) 50.000 đồng/tấn. Tƣớc chỉ xơ dừa (bằng máy) 120.000 đồng/tấn, bình quân 8
tiếng, 5 ngƣời tƣớc đƣợc ít nhất 2 tấn. Còn công đoạn phơi chỉ xơ dừa tuy nhẹ nhƣng
cực công, nhất là vào mùa mƣa. Nhƣng tiền công phơi 1 tấn chỉ xơ dừa cao, 120.000
đồng/tấn... Các cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa hoạt động quanh năm, chỉ nghỉ mấy ngày
16
Tết. Với công suất 2-3 tấn chỉ/ngày, một chủ vựa có thể có thu nhập 400.000
đồng/ngày sau khi trừ hết chi phí.
Các cơ sở sản xuất các sản phẩm từ dừa hiện nay tại Bến Tre đều chƣa hoạt
động hết công suất thiết kế. Qua điều tra 25 cơ sở sản xuất chế biến thì năng suất hoạt
động trung bình của các cơ sở này đều vào khoảng 60%, trong đó cơ sở hoạt động thấp
nhất là 40% và cơ sở hoạt động cao nhất là 70%. Có khoảng 45% cơ sở dự tính sẽ tăng
quy mô hoạt động của mình lên hơn 10%, và 35% cơ sở dự tính tăng hơn 50%, trong
khi số còn lại (khoảng 20%) không có ý định tăng quy mô hoạt động của cơ sở mình.
Điều này cho thấy các cơ sở sản xuất chế biến đang bị động về đầu ra, không có thị
trƣờng tiêu thụ nên việc tổ chức mạng lƣới marketing cho các sản phẩm ngành dừa vô
cùng cấp thiết và quan trọng.
Theo các số liệu nghiên cứu, chỉ có khoảng 5% các cơ sở sản xuất chế biến của
ngành dừa có máy móc tiên tiến, còn 62% có máy móc trung bình, trong khi 33% cơ sở
đang trong tình trạng sản xuất với các thiết bị máy móc lạc hậu, kho bãi còn hạn chế,
chƣa có hệ thống bảo quản đạt tiêu chuẩn, do đó chỉ thƣờng bị hao hụt, độ ẩm không
đạt chuẩn, không thể dự trữ lâu đƣợc. Điều này dẫn đến bị động cho các chủ vựa trong
việc tiêu thụ, họ phải tìm ngƣời tiêu thụ ngay trong 1 – 2 ngày sau khi chỉ đƣợc đóng
kiện.
Trƣớc đây khi công ty Trúc Giang hay công ty 26/8 của Bến Tre còn hoạt đông
nhƣ ở Bến Tre. Vì vậy, giá xuất khẩu chỉ xơ dừa trên thị trƣờng bị kéo xuống. Thêm
vào đó, những nƣớc mới tham gia sản xuất chỉ xơ dừa đã chủ động khống chế độ ẩm
đúng tiêu chuẩn của nhà nhập khẩu, để cạnh tranh với nguồn hàng từ Việt Nam.
18
Lợi thế của chỉ xơ dừa sản xuất tại Bến Tre là trắng, mịn (một phần do trái to),
đƣợc khách hàng ƣa chuộng. Tuy nhiên, ngành sản xuất chỉ xơ dừa Bến Tre đang bị
thất thế do không giữ chất lƣợng từ đầu; lợi thế độc quyền không còn. Mặt khác, do chỉ
chú trọng xuất khẩu nguyên liệu nên các cơ sở sản xuất đang bị lệ thuộc vào đầu mối
tiêu thụ, các chủ vựa tƣớc chỉ đang bị các công ty Trung Quốc ép giá thu mua.
2.4
NHỮNG ƢU THẾ VÀ TỒN TẠI
2.4.1
Ƣu thế
Bến Tre có lợi thế sản xuất dừa so với các tỉnh khác trong đồng bằng sông Cửu
Long cũng nhƣ các tỉnh khác trong cả nƣớc nếu xét về sản lƣợng. Dừa là cây công
nghiệp thế mạnh trong quá trình phát triển kinh tế của tỉnh Bến Tre. Hiện nay, diện tích
dừa đang thu hoạch ổn định.
Ngoài sản phẩm chính là chế biến dầu dừa, chỉ xơ dừa, các sản phẩm khác từ
dừa đang đƣợc thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế ƣa chuộng. Tỉnh có chủ trƣơng phát
triển diện tích dừa gắn liền với các cơ sở công nghiệp chế biến nhƣ tập trung cho dự án
xây dựng nhà máy than hoạt tính, các cơ sở chế biến chỉ, thảm xơ dừa có chất lƣợng
cao... nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Quý 1/2009, kim
ngạch xuất khẩu đạt 21,7 triệu USD, tăng 12,5% so với kim ngạch xuất khẩu cùng kỳ
năm trƣớc. Theo UBND tỉnh Bến Tre, giá trị xuất khẩu các sản phẩm dừa năm 2009 dự
kiến đạt trên 66 triệu USD trong tổng số 170 triệu USD giá trị xuất khẩu của toàn tỉnh.
Hiện các doanh nghiệp trong tỉnh đang tập trung XK khoảng 23 loại sản phẩm khác
nhau từ cây dừa, trong đó nhiều nhất là cơm dừa nạo sấy và chỉ xơ dừa. Bến Tre có
trong một thời gian ngắn. Việc phá bỏ dừa hàng loạt đã dẫn đến những bất ổn trong đời
sống của ngƣời dân từ trƣớc đến nay vẫn quen canh tác dừa. Hậu quả của việc chặt phá
dừa không chỉ giới hạn ở sức khoẻ kinh tế của hộ trồng dừa nữa mà ảnh hƣởng mạnh
đến cơ cấu sản xuất và sức khoẻ kinh tế của cả một tỉnh, của các cụm tiểu thủ công
nghiệp và vấn đề giải quyết công ăn việc làm tại các tỉnh trồng dừa và các tỉnh lân cận.
Nhà vườn chưa được hỗ trợ kỹ thuật trồng dừa
Miền Nam chƣa có các hợp tác xã, hội nông dân,…đa số nông dân tự phát, chỉ
mới có ở Châu Thành có 1 hội nông dân đi vận động tỉa bớt dừa già, trồng xen ca cao,
ca cao phù hợp bóng râm của dừa, bón phân cho ca cao. Nếu có chƣơng trình tập huấn
về kĩ thuật trồng dừa chỉ có trƣởng ấp, phó ấp đƣợc mời sau đó mới phổ biến lại cho
các hộ nông dân.
2.4.2.2 Thương lái
Tổ chức hệ thống thu mua dừa của các thƣơng lái hiện nay tuy có nhiều thay đổi
nhƣng năng lực kinh doanh và tổ chức phối hợp còn bộc lộ nhiều yếu kém. Các thƣơng
lái kinh doanh lấy công làm lời là chính, chƣa có đầu tƣ đầy đủ vào phƣơng tiện vận
chuyển để làm cho việc thu mua trở nên chuyên nghiệp. Giữa các thƣơng lái với nhau
chƣa có sự phối hợp, thu mua không hiệu quả, tình trạng lƣu thông chồng chéo, tranh
mua tranh bán gây tổn hại đến lợi ích chung của ngƣời trồng dừa.
Các thƣơng lái chƣa đƣợc hỗ trợ vốn để thu mua dừa, họ thƣờng phải vay mƣợn
vốn từ các chủ vựa cho nên thu nhập bấp bênh.
2.4.2.3 Vựa thu mua
Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu:
Kho bãi dự trữ:
21
Các cơ sở chế biến và các vựa thu mua do hạn chế về vốn và kho tàng bảo quản
nên họ chỉ thu mua đủ với khả năng của mình, hoặc vận chuyển thẳng từ nơi thu mua
đến cảng xuất khẩu, nên thời gian bảo quản của các cơ sở này từ 15-20 ngày. Tuy vậy,
hệ thống kho và các phƣơng tiện bảo quản dừa đang trong tình trạng vừa thiếu, vừa lạc
xuất đất sạch ở Bình Chánh, giá bán không cao nhƣng lại tốn công chuyên chở. Mỗi
ngày các cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa của tỉnh thải ra gần 500 tấn mụn dừa nhƣng chỉ có
một vài cơ sở ép mụn dừa xuất khẩu, công suất nhỏ.
Thị trường không ổn định
Giá dừa khô không ổn định
Giá dừa khô giảm mạnh vào thời điểm nghịch mùa, cho thấy sự bất ổn về giá do
đầu ra của trái dừa đang còn phụ thuộc nhiều vào việc xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung
Quốc dƣới dạng chỉ xơ dừa thô, không để lâu đƣợc.
Thông tin về thị trường chưa đầy đủ
Thông tin về giá cả, dự báo về khả năng cung cầu của tỉnh còn chƣa đƣợc quan
tâm và khai thác đúng mức. Các vựa thu mua chỉ mua bán chỉ xơ dừa theo mối quen
chứ chƣa chủ động đƣợc về nhu cầu mở rộng mạng lƣới tiêu thụ.
Chưa sản xuất dừa thành thành phẩm cũng như chưa xây dựng được thương
hiệu cho các sản phẩm từ chỉ xơ dừa
23
Chúng ta chỉ tập trung vào sản xuất, xuất khẩu nguyên liệu thô mà chƣa chú
trọng đến việc sản xuất chế biến thành thành phẩm. Hiện nay, chỉ xơ dừa chủ yếu đƣợc
xuất khẩu thô sang Trung Quốc vẫn còn rất ít các công ty sản xuất và xuất khẩu đƣợc
các sản phẩm từ xơ dừa nhƣ thảm, nệm,…
24
CHÖÔNG 3.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT HỖ TRỢ HOẠT
ĐỘNG THU MUA LƢỚI XƠ DỪA Ở HUYỆN MỎ CÀY NAM –
TỈNH BẾN TRE
3.1