1
Luận văn
Một số giải pháp thúc đẩy hoạt
động đầu tư trực tiếp của Nhật
Bản tại Việt Nam
2
LỜI NÓI ĐẦU
Năm 1986 là năm đánh dấu một bước ngoặt rất lớn trong lịch sử kinh tế Việt
Nam. Đó là năm Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung bao cấp được chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa .Cho đến nay Việt Nam đã đạt được những
thành tựu quan trọng trên con đường phát triển kinh tế, tốc độ tăng trưởng khá cao,
đời sống nhân dân được cải thiện, Việt Nam đã có tiếng nói trên thương trường quốc
tế …
Những biến triển này thực sự là tiền đề cho việc phát triển kinh tế mở rộng quan hệ
kinh tế với các nước khác trên thế giới.Trong chiến phát triển kinh tế tới năm 2000
và những năm tiếp theo, Đảng cộng sản Việt Nam và chínhphủ đã đưa ra chỉ tiêu
tăng trưởng kinh tế trong những năm tới là 7-9%/năm và phấn đấu đến năm 2020 đưa
trưởng kinh tế của hai nước mà còn tạo ra bầu không khí hữu nghị ,hợp tác
kinhdoanh trong khu vực. Chính vì vậy, được sự hướng dẫn và giúp đỡtận tình của
Thầy giáo TS .Đỗ Đức Bình, em đã lựa chọn đề tài :
“Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt
Nam”
Trong khuôn khổ của đề tài này, em muốn phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp của Nhật
Bản tại Việt Nam trong thời gian qua, đánh giá khách quan những điểm mạnh, những vấn
đề còn tồn tại. Từ đó, đưa ra một số giải pháp khuyến khích và thúc đẩy hoạt động đầu tư
trực tiếp nước ngoài nói chung và của Nhật Bản nói riêng tại Việt Nam.
Nội dung của đề tài bao gồm:
Chương I: Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài .
ChươngII: Thực trạng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam .
Chương III: Những nguyên nhân và một số giải pháp khuyến khích và thúc đẩy
hoạt động đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam. Qua đây, em muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo TS. Đỗ Đức
Bình – chủ nhiệm KT & KDQT, cùng toàn bộ cán bộ nhân viên trung tâm nghiên cứu
Nhật Bản đã giúp em thực hiện dề tài này.
4
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
I. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
nền kinh tế.
Đầu tư quốc tế : đầu tư quốc tế là một quá trình kinh doanh trong đó vốn đầu tư
được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác với mục đích sinh lời. Đầu tư
quốc tế là một hình thức hoạt động cao nhất của các công ty khi thực hiện kinh
doanh quốc tế. Về mặt sở hữu, đầu tư nước ngoài là quyến sở hữu gián tiếp những tài
sản của công ty ở nước khác. Về bản chất, đầu tư quốc tế là những hình thức xuất
khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá. Đây là hai hình thức
luôn bổ xung hỗ trợ nhau trong chiến lược thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường của
các công ty, tập đoàn nước người hiện nay. Trong nhiều trường hợp việc buôn bán
hàng hoá ở nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, luật pháp để tiến hành đầu tư.
Sau đó việc tiến hành thành lập các doanh nghiệp đầu tư ở nước sở tại là điều kiện để
xuất khẩu máy móc thiết bị vật tư… Hình thức đầu tư quốc tư thường gắn liền với
các hoạt động của các công ty đa quốc gia ( Multinational Enteprises)
Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một
loại hình di chuyển vốn quốc tế trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người
trực tiếp quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vân hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi đủ
vốn đã bỏ ra.
Về thực chất, FDI là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựhg các cở sở ở nước
ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó. Đây là hình thức đầu tư mà chủ sở
hữu đầu tư nước ngoài đóng góp một phần vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc
dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối trọng mà họ bỏ vốn ra. Trên
thực tế, phần lớn FDI được thực hiện dưới dạng thành lập cáccông ty con hoặc công
ty liên doanh trực thuộc các công ty đa quốc gia và nhà đầu tư là những tổ chức chóp
bu của các công ty nay. Một điều đáng lưu ý là ngày nay, FDI còn được thực hiện
bởi các công ty vừa và nhỏ, tuy nhiên các công ty đa quốc gia vẫn giữ vai trò chủ
đạo trong quá trình này. Do đó FDI có thể được định nghĩa là sự mở rộng phạm vi
hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty đa quốc gia trên phạm vi quốc tế. Sự
mở rộng đó bao gồm chuyển giao vốn, công nghệ và các kỹ năng sanư xuất, bí quyết
lần .
Như vậy, xu hướng tự do hoá và mở cửa nền kinh tế các nước đang phát triển
trong những năm gần đây đã góp phần đáng kể vào sự thay đổi dòng chảy FDI . Năm 7
1990 , các nước đang phát triển nhận được 19% tổng số vốn FDI, năm 1991 là 25%
và năm 1992 khoảng 30%. Trong những năm gần đây tỷ lệ này vẫn có xu hướng tăng
lên.
2.3. Cơ cấu và phương thức FDI trở nên đa dạng hơn .
Trong những năm gần đây, cơ cấu và phương thức đầu tư nước ngoài trở nên đa
dạng hơn so với trước đây. Điều này liên quan đến sự hình thành hệ thống phân công
lao động quốc tế ngày càng sâu rộng và sự thay đổi môi trường kinh tế thương mại
toàn cầu.
Về cơ cấu FDI, đặc biệt là FDI vào các nước công nghiệp phát triển có những
thay đổi sau:
- Vai trò và tỷ trọng của đầu vào các ngành có hàm lượng công nghệ cao tăng lên.
Hơn 1/3 FDI tăng lên hàng năm là tập trung vào các ngành then chốt như điện tử, chế
tạo máy tính, chất dẻo, hoá chất và chế tạo máy . Trong khi đó, trong nhiều ngành
công nghiệp truyền thống dùng nhiều vốn và lao động, FDI giảm tuyệt đối hoặc
không đầu tư. Các công ty xuyên quốc gia của Mỹ đã đóng cửa các chi nhánh của
mình ở Tây Âu và Canada trong các ngành dệt, da, sản xuất các đồ dùng và thực
phẩm. Các nguồn vốn thu hồi này được chuyển về Mỹ và sử dụng để cải tạo và hiện
đại hoá các cơ sở sản xuất trong nước .
- Tỷ trọng của các ngành công nghiệp chế tạo giảm xuống khi FDI vào các ngành
dịch vụ tăng lên. Điều này liên quan đến tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP của các
nước OECD tăng lên và hàm lượng dịch vụ trong công nghiệp chế tạo cao. Một số
lĩnh vực được ưu tiên là các dịch vụ thương mại, bảo hiểm, các dịch vụ tài chính và
giải trí Tỷ lệ các nguồn FDI vào dịch vụ tăng rất mạnh từ thập kỷ 80 : năm 1985,
FDI vào dịch vụ tại Mỹ chiếm tỷ trọng 44% ( so với 32% năm 1950), vào Nhật Bản
là trước đây, các nguồn viện trợ và cho vay thường nhằm vào mục đích quân sự và
chíng trị, do đó hiệu quả của nó đối với thúc đấỵ phát triển kinh tế của các nước
nhận và nước cho rất thấp. Ở các nước chậm phát triển nhất hiện nay viện trợ và cho
vay chiếm đến 90% các nguồn vốn từ bên ngoài. Viện trợ và cho vay trong nhiều
trường hợp dẫn đến sự phụ thuộc một chiều hơn là giúp cho các nước nhận có được
sự phát triển tự thân và tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế .Vì
vậy, các nguồn vốn này đã được các chính phủ, các tổ chức quốc tế đặt trong mối
quan hệ với các nguồn vốn tư nhân nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng chúng . 9
3. Ưu nhược điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài .
3.1. Đối với nước đi đầu tư.
Mối quan tâm đến tác động của FDI đối với bản thân nước đi đầu tư là rất
lớn.Phần lớn các công ty đi đầu tư thuộc các nước phát triển mà tỷ suất lợi nhuận
đầu tư ở trong nước có xu hướng ngày càng giảm, kèm theo hiện tượng thừa tương
đối tư bản . Khi đầu tư ra nước ngoài họ tận dụng được lợi thế và chi phí sản xuất
thấp của nước nhận đầu tư (Do giá lao động rẻ, chi phí khai thác nguyên vật liệu tại
chỗ thấp) để hạ giá thành sản phẩm , giảm chi phí vận chuyển đối với việc sản xuất
hàng thay thế nhập khẩu của nước nhận đầu tư , nhờ đó nâng cao hiệu quả của vốn
đầu tư .
Đầu tư trực tiếp cho phép các công ty kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm mới được
tạo ra.
Đầu tư trực tiếp giúp các công ty tạo dựng được thỉ trường cung cấp nguyên vật
liệu dồi dào với giá rẻ.
Đầu tư trực tiếp cho phép chủ đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế ,tăng
cường ảnh hươnmgr của mình trên thị trường thế giới .
Đầu tư trực tiếp làm tăng tổng sản phẩm quốc dân của nước đi đầu tư ,từ các
khoản lợi nhuận, tiền bản quyền và các khoản khác do các chi nhánh của các công ty
đa quốc gia từ nước ngoài chuyển về. Nhiều trường hợp đầu tư trực tiếp là phương
tài sản vô hình khác cho các nhà sản xuất, cung cấp và phân phối địa phương mà chủ
đầu tư có quan hệ kinh doanh. Hoặc có thể do các doanh nghiệp do chủ đầu tư hoạt
động có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh địa phương .
- Tác động gián tiếp ( còn được gọi là “hiệu ứng lan toả”) :Thông qua việc các
công ty có vốn đầu tư nước ngoài tạo nên một môi trường cạnh tranh mạnh mẽ giữa
các công ty trong nội bộ khu vực. Môi trường cạnh tranh buộc các công ty trong khu
vực phải hoạt động có hiệu quả hơn, do đó năng suất lao động của tất cả các công ty
sẽ tăng lên.Ngoài ra, hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài còn góp phần làm tăng kinh nghiệm quản lý, năng lực marketing … cho công
nhân viên nước nhận đầu tư, đội ngũ lao động được đào tạo rèn luyện về nhiều mặt.
Họ có thể làm việc một cách hiệu quả với bất kỳ nơi nào với vốn kỹ năng và kiến
thức đã được đào tạo và tích luỹ .Tác động tích cực trên còn được gọi là “lợi ích bên
ngoài” .
FDI góp phần bổ sung đáng kể vào nguồn thu ngân sách của chính phủ các nước
đang phát triển thông qua thuế từ các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài . 11
FDI còn có thể mang lại lợi ích trong việc khuyến khích đầu tư trong nước .Nguồn
vốn FDI được dùng để phát triển cơ sở hạ tầng thì có thể trực tiếp khuyến khích đầu
tư hơn nữa.Thậm chí nếu FDI được chú trọng đặc biệt cho một ngành nào đó thì nó
có thể khuyến khích đầu tư bằng việc giảm chi phí hoặc tạo cầu cho các ngành khác .
Đầu tư trực tiếp nước ngoài làm cho các tiềm năng phát triển kinh tế xã hội của
đất nước có điều kiện để khai thác, điều đó có tác động mạnh mẽ đến việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ cấu công nghệ, cơ cấu sản phẩm và lao động,
cơ cấu lãnh thổ được thay đổi theo chiều hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn các nhu
cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, phù hợp với xu thế chung của thời đại,
của các nước trong khu vực
Tiếp nhận đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà không phải lo trả nợ, thông qua hợp tác
với chủ đầu tư, nước chủ nhà có điều kiện xâm nhập vào thị trường thế giới. Các
quốc gia đầu tư trực tiếp có thể sử dụng như một công cụ để can thiệp vào các hoạt
động chính trị, kinh tế ngoại giao của nước sở tại .
Quá trình chuyển giao công nghệ trong đầu tư trực tiếp còn nhiều hạn chế và tiêu
cực, không thực hiện đúng quy định như chuyển giao các công cụ lạc hậu, ô nhiễm
môi trường, giá chuyển giao cao … Đồng thời nó đặt nước nhận đầu tư phụ thuộc
nhiều vào dòng vận động của công nghệ mới và công nghệ được cập nhật. Đối với
các nước kém phát triển, các công nghệ mà họ nhận đươc từ các công ty đa quốc gia
nhìn chung là các công nghệ ở giai đoạn cuối của sự vận động. Vì vậy giá trị của
công nghệ nhận được đó thường không cao và nó đặt các nước kém phát triển vào
tình trạng phụ thuộc nhiều hơn vào công nghệ của nước tiên tiến. Điều này được giải
thích bởi lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm và chu kỳ sống của sản phẩm mở rộng.
Sự xuất hiện của các công ty đa quốc gia có thể gây ra hiện tượng “chảy máu
chất xám” do việc thu hút các nhà khoa học của nước nhận đầu tư vào các trung tâm
nghiên cứu. Việc các công ty đa quốc gia trả lương cho các nhân viên của họ cao hơn
các công ty nội địa đã taọ ra dòng di chuyển lao động có chuyên môn, tay nghề cao
từ các công ty nội địa đến các công ty quốc gia. Đồng thời các công ty đa quốc gia
cũng thường là nhân tố làm rối loạn quá trình hoạch định chính sách kế hoạch phát
triển kinh tế .Sự hoạt động của các công ty này gây ra những thay đổi trong cách
thức kinh doanh, nếp sống, sở thích tiêu dùng… ảnh hưởng tới giá trị tinh thần của
dân cư nước sở tại. Dòng FDI vào các nước đang phát triển có thể tác động làm giảm
tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư nội địa. Tác động này xuất phát từ quyền lực thị trường của
các công ty đa quốc gia và khả năng của các công ty này trong việc sử dụng quyền
lực đó nhằm thu lợi nhuận cao và chuyển ra nước ngoài .Bằng các phương pháp cạnh 13
tranh khác nhau, các công ty đa quốc gia có thể làm phá sản các doanh nghiệp trong
nước nhằm chiếm lĩnh thị phần của họ .
Dòng FDI vào các nước đang phát triển thường có xu hướng làm tăng sự phát
triển vốn đã không đồng đều giữa các ngành, các vùng và các khu vực kinh tế, làm
14
Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai bên hay nhiều bên (các bên hợp
doanh) quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh để tiến hành hoạt động đầu tư
tạiViệt Nam mà không thành lập pháp nhân. Các hợp đồng thương mại và hợp đồng kinh tế
có tính chất trao đổi hàng hoá như giao nguyên liệu lấy sản phẩm, mua thiết bị trả chậm
bằng sản phẩm không thuộc hình thức đầu tư này.
Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành
lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định kí kết giữa Chính phủ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh
nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Khác với hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng liên doanh làm hình thành một
pháp nhân mới. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm
hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự chịu trách nhiệm về
kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty
trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.
2. Xu hướng vận động của đầu tư trực tiếp nước ngoài .
2.1. Xu hướng tự do hoá đầu tư và sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô vốn đầu tư :
Những năm gần đây, hoạt động đầu tư phát triển mạnh mẽ trên thế giới và đã được tự do
háo trên tất cả các mặt. Xu hướng thể hiện trên ba bình diện : quốc gia ,khu vực và quốc tế.
Các quốc gia thì giảm dần những hạn chế về các hình thức đầu tư, lĩnh vực đầu tư, luật pháp
liên quan tới đầu tư, về vấn đề góp vốn, chuyển giao công nghệ … đồng thời các chính sách
khuyến khích đầu tư như khuyến khích về thuế quan , nhân công … được ban hành. Bên
cạnh đó, trên thế giới hình thành các khu vực đầu tư, liên minh kinh tế, các hiệp định đầu tư
và tác động của qúa trình toàn cầu hoá, khu vực hoá, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên
thế giới đang có những biến đổi theo xu hướng tăng dần quy mô và tốc độ vốn đầu tư vào
các nước đang phát triển, tuy nhiên tốc độ tăng hàng năm là không đều. Những số liệu dưới
đây sẽ chứng minh cho nhận định này .
16
Bảng 1:Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước công nghiệp phát triển và đang phát
triển
Đơn vị tính : tỷ USD
Năm Các nước phát
triển
Nước đang phát
triển
Thế giới
1987-1988 142 31 173
1989 172 29 201
1990 176 35 211
1991 115 41 158
1992 111 55 166
1993 141 79 220
1994 148 105 253
1995 216 111,8 328
1996 213 145 358
1997 285,2 178,8 464
1998 464,5 179,5 644
1999 657,9 207,6 865,5
2000 800 200 1000
bỏ được cuộc khủng hoảng nợ , một trở ngại lớn trong quan hệ giữa các nước đang phát
triển với các nước công nghiệp phát triển .
Tuy nhiên, sự phân phối FDI giữa các nước đang phát triển lại rất không đồng đều
.Trong những năm 60 và đầu những năm 70, các nước Mỹ La Tinh là những nước thu hút
được nhiều vốn đầu tư lớn nhất thế giới. Đây là thời kỳ các nước Mỹ La Tinh đạt được mức
đọ tăng trưỏng kinh tế thần kỳ. Cuối những năm 70 và đầu những năm 80, các nước Mỹ La
Tinh lại rơi vào tình trạng kinh tế suy thoái nghiêm trọng, lạm phát tăng nhanh và có nhiều
nước rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ nước ngoài. Chính vì vậy, vốn FDI vào các nước
đang phát triển có xu hướng chuyển dần từ các nước Mỹ La Tinh sang các nước và vùng
lãnh thổ Đong Nam Á. Đây là khu vực đang có sự phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng
cao, sự ổn định chính trị – kinh tế – xã hội cùng với những cải cách kinh tế quan trọng đã
tạo nên sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài .
18
Thời kỳ 1986 – 1990, trung bình hàng năm lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy
vào các nước ở Đông và Đông Nam á là 14 tỷ USD bằng 54% tổng số vốn đầu tư trực tiếp
vào các nước đang phát triển trên thế giới .Các nước đang phát triển ở khu vực châu á - Thái
Bình Dương chiếm khoảng 62% tổng số vốn đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển
trên thế giới vaò năm 1995 (con số này vào năm 1990 là 46%). Từ năm 1992, Trung Quốc
nổi lên là một trong số các nước thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất thế giới. Năm
1993 : 20 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đổ vào Trung Quốc, so với các nước
trên thế giới thì Trung Quốc chỉ đứng sau Mỹ về việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc trong thời gian qua tăng rất
nhanh và chiếm tới 1/3 tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn thế giới vào các
nước đang phát triển. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước trong khu vực Đông và
Đông Nam Á tăng lên mạnh mẽ trong thời gian qua có thể do một số nguyên nhân sau: Thứ
nhất : Các nước ở khu vực này đã đạt được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, đồng thời cải
nước ngoài. Xu hướng chung của thế giới trong việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư là chuyển từ
đầu tư khai thác các nguồn lực tự nhiên sang công nghiệp chế tạo và dịch vụ. Vào giữa thập
kỷ 80, số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dịch vụ chiếm tới 50% tổng số vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài trên toàn thế giới, trong đó dịch vụ ngân hàng, buôn bán chiếm phần
quan trọng nhất, mặc dù khoản đầu tư trực tiếp vào quảng cáo, giao thông vận tải cũng
chiếm phần không nhỏ. Trong những năm 90 đến nay, dòng FDI lại có xu hướng chuyển
dịch mạnh mẽ sang các ngành dịch vụ có hàm lượng vốn và công nghệ cao như viễn thông
… vì đó là khu vực mới phát triển và đang có khả năng thu lợi nhuận cao nhất .
Riêng trong lĩnh vực sản xuất thì có sự chuyển dịch các ngành sử dụng sức lao động
nhiều từ những nước có nền kinh tế phát triển cao sang các nước có nền kinh tế phát triển
thấp hơn (thường là những nước đang phát triển ). Những nước phát triển bắt đầu thu hút
FDIvào các ngành đòi hỏi sử dụng lao động có trình độ cao .
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế
biến và dịch vụ có thể do một số nguyên nhân sau : Thứ nhất: Cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất ngày càng được nâng cao, vì vậy mà nhu cầu
về các loại dịch vụ phục vụ đời sống và sản xuất kinh doanh tăng lên mạnh mẽ, nhát là dịch
vụ kỹ thuật, tài chính, du lịch, đòi hỏi ngành dịch vụ phải được phát triển tương ứng. Thứ
hai : Ngành công nghiệp chế biến là ngành có nhiều phân ngành , mà những phân ngành đó
thuộc các lĩnh vực mũi nhọn của cuộc cách mạng khoa học công nghệ như điện tử, thông tin
liên lạc, vật liệu mới … Thứ ba : Do đặc tính kỹ thuật của hai ngành này là dễ dàng thực
20
hiện sự hợp tác. .Thứ tư : Việc đầu tư vào hai ngành này cho phép người đầu tư thu được lợi
nhuận cao, đõ gặp rủi ro hơn và nhanh chóng thu hồi được vốn đầu tư .
2.4. Hiện tượng đa cực đa biên trong đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự xuất hiện của một
số chủ đầu tư mới trên thế giới :
Trước đây , do Mỹ không bị ảnh hưởng của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai nên Mỹ có
doanh ở nước ngoài nhằm đạt được mức lợi nhuận cao. Mỗi nước có lợi thế tương đối về
một lĩnh vực kinh tế kỹ thuật nào đó nhưng lại kém hơn ở lĩnh vực khác, bằng hoạt động đầu
tư ra nước ngoài các nước này sẽ phát huy được lợi thế tương đối của mình, trên cơ sơ đó
làm tăng hiệu quả kinh doanh và cũng thông qua việc tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài,
họ sẽ bổ sung những mặt hạn chế để tăng hiệu quả phát triển kinh tế .
2.6. Vai trò của các tập đoàn xuyên quốc gia trong đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Hầu hết các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là bắt nguồn từ các công ty xuyên quốc
gia. Các công ty xuyên quốc gia là nguồn cung cấp vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý
chính trong đầu tư quốc tế. Năm 1995 có khoảng 39.000 tập đoàn với 270.000 chi nhánh và
cơ sở nước ngoài, nắm giữ 2.700 tỷ USD vốn FDI, tương đương với 10% GDP trên thế giới.
Do đó các tập đoàn xuyên quốc gia chi phối hầu hết các hoạt động FDI trên thế giới. Điều
đáng chú ý là các tập đoàn xuyên quốc gia ở các nước đang phát triển hầu hết tập trung ở
Châu Á. 22
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM .
I. Khái quát mối quan hệ hợp tác Nhật –Việt .
1. Vài nét về đất nước Nhật Bản .
Đất nước Nhật Bản có diện tích 377.835 km2, gồm 4 đảo lớn (Honsu, Hokaiđo,
Kyusu, Sikoku) và hàng ngàn đảo nhỏ dải ra theo hình cánh cung dài 3.800 km ở
ngoài khơi lục địa Châu á.
Hiện nay Nhật Bản là một trong ba trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới (Mỹ,EU,Nhật
Bản )và đồng Yên đang có ảnh hưởng lớn đến thị trường tài chính –tiền tệ thế
giới.Tổng sản phẩm quốc dân năm 1996 của Nhật Bản là 4.760 tỷ USD,chiếm
Việt Nam thực hiện thành công đường lối đổi mới kinh tế ,chính sách đối ngoại rộng mở, đa
dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế trên tinh thần làm bạn với tất cả các quốc
gia.,nhằm tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài để xây dựng đất nước thành nước công nghiệp
hoá phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa .
Quan hệ chính trị :Từ 1993 quan hệ Việt Nam –Nhật Bản diễn ra rất tốt đẹp,hai bên đã tiến
hành nhiều cuộc thăm viếng cao cấp thường kỳ .Về phía Việt Nam ,mở đầu là chuyến thăm
Nhật của thủ tướng VõVăn Kiệt (3/1993) đã đánh dấu một bước ngoặt lớn đặt nền tảng cơ
sở vững chắc cho quan hệ Việt- Nhật ,tổng bí thư Đỗ Mười thăm Tokyo 4/1995, Chủ tịch
Quốc hội Nông Đức Mạnh thăm Nhật Bản 12/1995 … .Bên Nhật Bản ,hai lần Thủ tướng
thăm Việt Nam 8/1994 và 1/1997 …ngoài ra còn có nhiều cuộc viếng thăm khác, đã ngày
càng khảng định Việt Nam có một vị trí quan trọng đối với Nhật Bản trong hiện tại và tương
lai lâu dài .
Quan hệ kinh tế : 12/1992 đến nay Nhật Bản luôn là nước tài trợ tín dụng ưu đãi lớn .Nhật
Bản giành ODA cho Việt Nam liên tục tăng (80,5 tỷ Yên –1995, 93,5 tỷ Yên –1996, 97,5 tỷ
Yên -1997) .Phần viện trợ không hoàn lại dưới hình thức viện trợ chung và hỗ trợ kỹ thuật
chủ yếu tập chung vào một số dự án nhằm tăng cường trang thiết bị cơ sở vạt chất trong lĩnh
vực ytế, giáo dục, cấp thoát nước ,phát triển nông thôn….Phần tín dụng ưu đãi đồng Yên
được giành cho các dự án phát triển cơ sơ hạ tầng của Việt Nam (giao thông vận tải ,điện lực
…) Nhìn chung ,viện trợ phát triển của Nhật Bản cho Việt Nam là phù hợp với những ưu
tiên phát triển kinh tế xã hội, nâng cao năng lực sản xuất , quản lý, chuyển giao công nghệ
24
và phát triển nguồn nhân lực.Tuy nhiên vấn đề tồn tại là sở dụng có hiệu quả ODA, khắc
phục tình trạng giải ngân chậm (1997là 92%,1998 là 18-19%) .
Về mậu dịch, Nhật Bản trở thành bạn hàng số một với kim ngạch buôn bán hai chiều ngày
càng tăng :1996 là 3 tỷ USD tăng 135% so với 1995 chiếm tỷ trọng 17,4% tổng kim ngạch
XNK của Việt Nam ; 1997 là 3,481 USD tăng 110,2% so với 1996. Xuất khẩu Việt Nam
năm 70 Nhật Bản bắt đầu chú trọng phát triển các ngành công nghiệp có khả năng tạo ra giá
trị cao hơn như côngnghiệp ôtô ,điện tử và tiếp đó là ngành công nghệ cao. Kết quả của quá
trìng phát triển công nghiệp đã làm nẩy sinh các sức ép kinh tế vĩ mô như cạn kịêt nguồn lao
động môi trường bị ô nhiễm và xung đột thương mại với Mỹ và Tây âu. Đó là những nhân tố
buộc Nhật Bản phải tiến hành đầu tư ra nước ngoài:
Cạn kiệt nguồn lao động: Ngày nay ít ai có thể hình dung được rằng sau chiến tranh thế
giới 2 Nhật Bản là một quốc gia nghèo và có mức lương thất nhất tại khu vực Châu Á. Để có
được ngoại tệ phục vụ công cuộc tái thiết nền kinh tế sau chiến tranh ,Nhật Bản theo đuổi
chính sách tận dụng nguồn lao động trong nước nhằm mở rộng các ngành sản xuất các sanr
phẩm có hàm lượng lao động cao phục vụ xuất khẩu.Việc mở rộng một số ngành công
nghiệp dệt may, tạp phẩm ,gốm sứ phục vụ thị trường khoảng 200 triệu khách hàng, đã mau
chóng làm cho lực lượng lao động phổ thông bị cạn kiệt và làm tăng mức lương trung bình,
có thể nói đây là điều kiện để cho thanh niên Nhật Bản trang trải cho việc học tập tại các
trường cao đẳng ,đại học để có được học vấn cao hơn ,do vậynhucầu kiếm sống bằng lao
dộng chân tay không còn trở nên bức thiết. Để duy trì thế mạnh những ngành công nghiệp
buộc Nhật Bản phải tiến hành đầu tư ra nước ngoài, chủ yếu là tiếp cận nguồn lao động,
nguyên liệu dồi dào, đó là những ngành dệt may, khai thác, chế biến nguyên liệu .
Ônhiễm môi trường: Để thúc đẩy nhanh chóng phát triển nền kinh tế Nhật Bản đã đề ra và
cương quyết thực hiện khẩu hiệu “công nghiệp hoá các ngành công nghiệp nặng và công
nghiệp hoá chất”. Các ngành được lựa chọn phát triển: năng lượng, luyện kim , chế tạo máy
đóng tàu, phân bón, hoá chất… .Kết quả, quá trình này đã đóng góp to lớn cho sự thành
công của kỷ nguyên tăng trưởng cao. Song bên cạnh đó là tình trạng ô nhiễm môi trường
một cách nghiêm trọng và hệ sinh thái bị phá huỷ đến mức tồi tệ. Đến cuối những năm 70
ngoài vấn đề tăng trưởng kinh tế ,Nhật Bản bắt đầu đề cao chất lượng cuộc sống, ổn định
chính trị, bảo vệ môi trường và sự hoà hợp quốc tế(được gọi là cái “đa giá trị”) .Để đạt mục
tiêu “đa giá trị” Nhật Bản không ngừng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài –gọi là chính sách dọn
nhà(đưa ngành công nghiệp ô nhiễm ra nước ngoài ) .