Lời mở đầu
Vợt qua giai đoạn suy thoái của thời kỳ 1976 -1980, gần 20 năm qua
(1981 -1999) là thời kỳ xây dựng và phát triển mạnh của ngành Thuỷ sản. Đặc
biệt trong quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1991
-1995) và kế hoạch năm năm lần thứ hai (1996 -2000) ngành đã có nhiều nỗ
lực và chủ động tổ chức thực hiện đờng lối mới của Đảng, phát huy mọi nguồn
lực từ các thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh thuỷ sản, tạo ra sự
tăng trởng sản lợng sản phẩm và năng lực sản xuất của ngành. Nhờ đó, đã tăng
nộp ngân sách nhà nớc, tăng tích luỹ trong dân, tăng nguồn vốn đầu t để mở
rộng phát triển sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở sản xuất phát triển, tình hình
kinh tế-xã hội miền biển nói riêng và tình hình nghề cá nói chung tiếp tục phát
triển với tốc độ cao tạo thêm nhiều việc làm góp phần cải thiện đời sống, ổn
định xã hội tăng cờng khả năng quốc phòng và an ninh ven biển.
Ngành thuỷ sản là một ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Các sản
phẩm thuỷ sản của Việt Nam là một trong những nguồn thực phẩm quan trọng
nhất của ngời Việt Nam. Ngành Thuỷ sản còn là một ngành tạo ra công ăn
việc làm và thu nhập cho hàng triệu ngời từ các vùng thành thị đến các vùng
nông thôn ven biển, đồng bằng và các miền núi hẻo lánh. Hơn thế nữa sản
phẩm thuỷ sản còn là nguồn cung cấp một lợng ngoại tệ quan trọng, nhiều
năm qua đứng vị trí hàng đầu cho một đất nớc cha thoát khỏi cảnh nghèo nàn.
Nhà nớc Việt Nam đã xác định ngành Thuỷ sản là một ngành mũi nhọn trong
sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nớc.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài trong những năm qua kể từ khi ban hành luật
đầu t nớc ngoài tại Việt Nam năm 1988 đến nay đã góp phần đáng kể vào
nguồn thu từ xuất khẩu cũng nh ngân sách nhà nớc.
Tuy nhiên kết quả thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài vào lĩnh vực thuỷ
sản với tỷ trọng vốn đầu t còn quá nhỏ trên tổng số vốn đầu t. Điều đó rõ ràng
1
là cha tơng xứng với tiềm năng của Việt Nam về nguồn lợi thuỷ sản phong
mô hay cơ cấu song là cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất, mọi quốc gia
nhất là đối với những cơ sở mới bắt đầu hình thành và với những quốc gia còn
có trình độ lạc hậu cha hoàn thành quá trình công nghiệp hoá trong đó có
Việt Nam.
Vốn đầu t có thể đợc huy động từ trong nớc cũng nh có thể đợc huy động
từ nớc ngoài. Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế đợc đẩy mạnh nh
ngày nay thì nguồn vốn nớc ngoài càng trở nên phổ biến và có vai trò không
nhỏ nh nghị quyết TW4 đã khẳng định : Vốn trong nớc là quyết định, vốn n-
ớc ngoài là quan trọng ".
Vốn đầu t đợc sử dụng để phục vụ cho những mục tiêu nhất định. Xét về
bản chất việc sử dụng đó chỉ là quá trình thực hiện việc chuyển hoá vốn tiền tệ
thành các yếu tố của quá trình tái sản xuất và đợc gọi là hoạt động đầu t. Hoạt
động đầu t bao giờ cũng dựa trên những điều kiện vật chất cụ thể, mục tiêu cụ
thể, trớc mắt cũng nh lâu dài ở tầm vĩ mô hoặc vi mô.
3
Căn cứ vào các tiêu thức nhất định, ngời ta có thể phân chia đầu t thành
các loại :
- Đầu t phát triển sản xuất kinh doanh, khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng...
(theo lĩnh vực hoạt động ).
- Đầu t cơ bản, đầu t vận hành (theo đặc điểm hoạt động)
- Đầu t ngắn hạn, dài hạn (theo thời gian di chuyển).
- Đầu t gián tiếp và đầu t trực tiếp (theo quan hệ quản lý chủ đầu t). Đầu
t gián tiếp là đầu t mà trong đó ngời có vốn không trực tiếp tham gia quản lý
và điều hành hoạt động đầu t, họ chỉ căn cứ vào kết quả mà mình đã phân tích,
thẩm định những dự án mà ngời trực tiếp quản lý điều hành nêu ra. Đầu t trực
tiếp thì trái lại ngời bỏ vốn tham gia trực tiếp quản lý điều hành quy trình thực
hiện và có thể quyết định các hoạt động của xí nghiệp.
Trong đầu t trực tiếp ngời có vốn bỏ ra có thể là ngời trong nớc mà cũng
có thể là ngời nớc ngoài. Trong trờng hợp vốn và ngời có vốn là ngời nớc
thể tự mình giải quyết có hiệu quả những vấn đề đã, đang và tiếp tục đặt ra
trong lĩnh vực công nghệ và vốn. Do vậy chỉ có con đờng hợp tác, trong đó
FDI là một loại hợp tác đầu t có hiệu quả. Và dờng nh không có một nớc nào
lại bỏ qua hình thức này.
2. Đặc điểm và vai trò đầu t trực tiếp nớc ngoài
Đầu t trực tiếp của nớc ngoài có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nớc
đang phát triển và đặc biệt là quan trọng đối với Việt Nam trên con đờng đổi
mới, xây dựng nền kinh tế vững mạnh.
a. Đối với nớc chủ đầu t :
Hợp tác quốc tế song phơng, đa phơng là xu hớng có tính chất quy luật
trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới tuy rằng trên thực tế cho
thấy lợi ích đem lại trớc hết là giành cho chủ đầu t.
5
Thứ nhất : phần lớn những nớc này là những nớc công nghiệp phát triển
mà tỷ suất lợi nhuận có xu hớng ngày càng giảm kèm theo hiện tợng thừa tơng
đối t bản trong nớc cho nên bằng đầu t trực tiếp nớc ngoài, họ tận dụng đợc lợi
thế về chi phí sản xuất của bên nhận đầu t để giảm chi phí sản xuất, hạ giá
thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Thứ hai : Đầu t nớc ngoài góp phần kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm
tức là thông qua đầu t trực tiếp nớc ngoài các nớc chủ đầu t chuyển một phần
sản phẩm công nghiệp, phần lớn là máy móc thiết bị ở giai đoạn cuối của chu
kỳ sống sang nớc nhận đầu t duy trì tuổi thọ của sản phẩm.
Thứ ba, đầu t trực tiếp nớc ngoài giúp cho các nớc này xây dựng đợc thị
trờng cung cấp nguyên liệu dồi dào, ổn định với giá thấp. Các nớc nhận đầu t
thờng là các nớc đang phát triển có nguồn tài nguyên dồi dào nhng do hạn chế
về tiền vốn, kỹ thuật công nghệ nên cha khai thác sử dụng đợc một cách có
hiệu quả. Thông qua đầu t vào các ngành khai thác tài nguyên, các nớc chủ
đầu t đã tận dụng đợc các nguyên liệu đó, thậm chí nhập khẩu về nớc phục vụ
cho các ngành sản xuất của nớc mình.
công nghệ từ các nớc đầu t ( hoặc các nớc khác ) sang nớc chủ nhà, nếu nhà n-
ớc có một chính sách đúng và bộ máy quản lý hữu hiệu. Mặc dù sự chuyển
giao này còn nhiều mặt hạn chế do những yếu tố chủ quan và khách quan chi
phối, song điều không thể phủ nhận là chính nhờ có sự chuyển giao đó mà các
nớc chủ nhà có đợc kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý và năng lực
Marketing, đội ngũ lao động đợc đào tạo, bồi dỡng về nhiều mặt. Công nghệ
là hàng hoá đặc biệt và trong bối cảnh thị trờng công nghệ bị chi phối bởi các
công ty xuyên quốc gia, việc nhập khẩu công nghệ tiên tiến rất có thể thực
hiện thành công bằng phơng thức thơng mại thuần tuý.
Thứ ba , Dó tác động của vốn, của khoa học công nghệ FDI sẽ tác động
mạnh mẽ đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ cấu kỹ thuật,
cơ cấu sản phẩm và lao động đợc biến đổi theo chiều hớng tiến bộ.
Thứ t, thông qua đầu t trực tiếp nớc ngoài, nớc chủ nhà sẽ có thêm điều
kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.
7
Tuy nhiên FDI không phải khi nào và bất cứ ở đâu cũng phát huy tác
động tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội của nớc chủ nhà. Nó chỉ phát
huy tác dụng tốt trong môi trờng kinh tế chính trị- xã hội ổn định và đặc biệt
là nhà nớc biết sử dụng và phát huy vai trò quản lý của mình. Nhiều công trình
nghiên cứu và thực tế quá trình thu hút FDI ở nớc ta cũng đã chỉ ra rằng FDI
không ít mặt hạn chế.Cụ thể là:
- Nguồn vốn do FDI mang lại cho nớc chủ nhà song trên thực tế do chủ
đầu t quản lý trực tiếp và sử dụng theo mục tiêu cụ thể của mình (trong khuôn
khổ luật pháp của nớc chủ nhà )
- Nhiều nhà đầu t trực tiếp nớc ngoài đã lợi dụng sơ hở trong luật pháp và
trong quản lý của nớc chủ nhà để trốn thuế gây tác hại đến môi trờng sinh thái
và lợi ích của nớc chủ nhà.
- Chuyển giao công nghệ là mặt tác động lớn của FDI song còn tồn tại
nhiều hạn chế và tiêu cực, trong đó có việc chuyển giao nhỏ giọt từng phần và
với doanh nghiệp trong nớc.
* Doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp đợc thành lập tại Việt Nam
trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa Bên hoặc các Bên Việt Nam với Bên
hoặc các Bên nớc ngoài để đầu t, kinh doanh tại Việt Nam khác với hợp đồng
hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân mới đợc thành
lập từ hai Bên (một Bên Việt Nam và một Bên nớc ngoài, hoặc nhiều Bên
(một hoặc nhiều Bên Việt Nam với một hoặc nhiều Bên nớc ngoài, DNLD đã
đợc phép hoạt động tại Việt Nam đợc liên doanh với DNLD khác hoặc với nhà
đầu t nớc ngoài hoặc với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc với doanh nghiệp
100% vốn đầu t nớc ngoài đã đợc phép hoạt động tại Việt Nam. Trong trờng
hợp đặc biệt DNLD có thể đợc thành lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa
9
Chính phủ nớc cộng hoà XHCN Việt Nam với Chính phủ nớc ngoài. Doanh
nghiệp liên doanh đợc thành lập theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn,
có t cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam; mỗi bên liên doanh chịu trách
nhiệm đối với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần vốn
góp của mình vào vốn pháp định và hoạt động trong nguyên tắc tự chủ tài
chính trên cơ sở hợp đồng liên doanh điều lệ doanh nghiệp liên doanh phù hợp
với giấy phép đầu t và pháp luật Việt Nam.
Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh ít nhất phải bằng 30% vốn
đầu t, đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng tại các vùng có
điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn dự án đầu t vào miền núi, vùng sâu, vùng
xa, trồng rừng, tỉ lệ này có thể thấp đến 20% nhng phải đợc cơ quan cấp giấy
phép đầu t chấp nhận.
Tỷ lệ vốn của bên nớc ngoài hoặc của các bên nớc ngoài do các bên liên
doanh thoả thuận, nhng không đợc thấp hơn 30% vốn pháp định của doanh
nghiệp liên doanh, và trong quá trình hoạt động không đợc giảm vốn pháp
định.
lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định do Chính phủ cho phép thành lập trong
đó có thể có một hoặc nhiều xí nghiệp sản xuất hàng hoá chủ yếu là phục vụ
xuất khẩu hoặc thay thế nhập khẩu. Trong EPZ áp dụng chế độ tự do thuế
quan, tự do mậu dịch. Hai loại hình này đợc áp dụng theo hình thức 100% vốn
nớc ngoài hoặc doanh nghiệp liên doanh.
Đối với Việt Nam, xây dựng EPZ và IZ để thu hút vốn đầu t nớc ngoài là
việc làm hết sức mới mẻ và hình thức này đang đợc chúng ta tạo điều kiện để
phát triển. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hình thức khu chế xuất có nhiều nhợc
điểm và Nhà nớc đang chuyển dần sang hình thức khu công nghiệp. Trong
điều kiện hiện nay, cơ sở hạ tầng của Việt Nam đang trong tình trạng xuống
11
cấp vì thế việc cải tạo nâng cấp hệ thống cơ sỏ hạ tầng trên toàn lãnh thổ Việt
Nam là yêu cầu hết sức bức xúc. Để làm đợc điều đó thì chúng ta phải cần đến
một số vốn rất lớn, nhng chúng ta không có cũng nh không đủ khả năng cải
tạo hệ thống cơ sở hạ tầng trên toàn lãnh thổ cùng một lúc. Hơn nữa trong thời
gian trớc mắt các nhà đầu t nớc ngoài cũng cha đầu t vào khu vực này vì vốn
đầu t lớn, lợi nhuận và thời gian thu hồi vốn dài. Vì vậy chỉ thông qua đầu t
EPZ và IZ chúng ta mới có khả năng cải thiện nâng cấp hệ thống hạ tầng cơ sở
trong khu vực này và những khu vực xung quanh.
4. ý nghĩa của FDI trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam.
Trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Đảng và Nhà
nớc ta có đề ra nhiệm vụ tăng thu nhập quốc dân bình quân đầu ngời lên
khoảng 400 USD và mục tiêu đến năm 2020 sẽ trở thành một nớc công
nghiệp. Để đạt đợc mục tiêu này Việt Nam sẽ phải vợt qua nhiều trở ngại lớn
trong đó nổi lên vấn đề thiếu vốn, thiếu công nghệ. Cũng giống nh nền kinh tế
của các nớc đang phát triển khác, chúng ta đi lên từ xuất phát điểm thấp, kỹ
thuật kém, nguồn tích luỹ cho đầu t hạn chế thì nguồn đầu t nớc ngoài có ý
nghĩa vô cùng quan trọng.
Chủ trơng coi đầu t trong nớc là quyết định, đầu t nớc ngoài là quan
-Nuôi trồng thủy sản
-Bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản và đăng kiểm tàu cá
-Tổ chức chỉ đạo công tác thú y đối với động vật, sản phẩm thủy sản.
-Chế biến thủy sản, bán buôn, bán lẻ các mặt hàng thủy sản phục vụ nội
địa và trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu thủy sản, cung ứng dịch vụ hậu cần
cho sản xuất nghề cá.
13
-Hợp tác quốc tế về kinh tế, khoa học kỹ thuật, liên kết kinh doanh với n-
ớc ngoài để đầu t phát triển sản xuất.
-Kiểm tra điều kiện sản xuất, vệ sinh, cấp giấy chứng nhận chất lợng
hàng Thủy sản xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
-Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế, công nhân
kỹ thuật, cấp bằng chức danh thuyền trởng, máy trởng tàu cá.
-Nghiên cứu khoa học, công nghệ, phổ biến đa trình độ kỹ thuật vào sản
xuất nghề cá
1.1. Nguồn lợi thủy sản.
Việt Nam có truyền thống lâu đời trong nghề cá và nuôi trồng thủy sản.
Với bờ biển dài hơn 3260 km tạo điều kiện thuận lợi về mặt tự nhiên cho việc
tiếp cận đến các ng trờng đánh cá ở khu vực lân cận. Dọc biển là các vịnh, eo
và hơn 2900 con sông lớn nhỏ. Diện tích vùng đặc quyền kinh tế của Việt
Nam khoảng 1 triệu km
2
. Với hơn 1,4 triệu ha mặt nớc nội địa Việt Nam có
tiềm năng lớn trong nghề nuôi trồng thủy sản khoảng 548.050 ha là các khu
ruộng trũng, 397.500 ha các khu hồ chứa cỡ vừa và lớn, 290.200 ha bãi triều,
84.700 ha đầm phá và vịnh và số còn lại 58.088 ha là ao, hồ nhỏ. Hơn 600.000
ha đang đợc sử dụng để nuôi các loài thủy sản. Do đó có thể nói Việt Nam
chúng ta là một nớc có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nghề cá
không thua kém bất cứ một quốc gia nào trên thế giới.
31/12/1998 cả nớc có 74176 tàu thuyền. Trong đó có 68853 chiếc có gắn động
cơ (36.225 chiếc dới 20 CV, 21653 chiếc từ 20 CV -45 CV ; 7999 chiếc từ 45
CV - 75 CV ; 2368 chiếc từ 75 CV - 140 CV, 608 chiếc từ 140 CV trở lên).
Mặt khác trong tổng sản lợng thủy sản khai thác đợc có nhiều loài có giá
trị kinh tế cao phục vụ tiêu dùng trong nớc và có khả năng xuất khẩu. Phơng
15
pháp bảo quản có những tiến bộ, bảo quản bằng đá thay cho muối, trên tàu
thuyền đã có trang thiết bị phù hợp với khai thác vùng khơi.
Tuy nhiên với tốc độ khai thác mạnh mẽ nh vừa qua, nguồn lợi thủy sản
ngày càng suy giảm, một số loại hải sản quý có nguy cơ cạn kiệt do đó chúng
ta đã có chủ trơng hạn chế khai thác vùng gần bờ nhằm bảo vệ và tái tạo
nguồn lợi ven bờ đồng thời từng bớc mở rộng vùng khai thác ra khơi. Chính
phủ cũng đã cho triển khai chơng trình khai thác hải sản xa bờ với số vốn tín
dụng u đãi 400 tỷ đồng năm 1997 và 500 tỷ đồng năm 1998 để giúp ng dân
nguồn vốn đóng tàu lớn, có động cơ lớn để có thể ra xa bờ khai thác các loại
hải sản đảm bảo vừa góp phần tăng sản lợng khai thác, giữ vững an ninh vùng
biển đồng thời làm giảm đợc áp lực khai thác quá mức ven bờ.
Nuôi trồng thủy sản là một lĩnh vực rất quan trọng nhằm tăng cờng tổng
sản lợng thủy sản quốc gia, tạo thêm nhiều công ăn việc làm góp phần xoá đòi
giảm nghèo, bình ổn xã hội và thực chất cũng góp phần tích cực bảo vệ tính đa
dạng sinh học thủy sinh.
Diện tích nuôi trồng thủy sản :
Năm 1985 : 364 .740 ha (282 - 612 ha nớc ngọt)
Năm 1990 : 491.723 ha (304.723 ha nớc ngọt)
Năm 1995 : 575.000ha (301.000 ha nớc ngọt)
Năm 1998 : 625.330 ha (320.000 ha nớc ngọt)
Sản lợng nuôi trồng thủy sản 1998 đạt 460.000tấn. Năm 1997 cả nớc có
trên 3000 lồng nuôi thủy sản, diện tích nuôi trồng năm 1997 đạt 600.000 ha.
Đã mở rộng nuôi cá nớc ngọt đặc biệt ở các vùng ruộng trũng và nuôi cá miền
phẩm đông lạnh/năm. Trong đó một số đơn vị đã đợc nâng cấp cơ sở hạ tầng,
17
đổi mới thiết bị công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm, chuyển sang sản xuất các
mặt hàng có hàm lợng công nghệ cao.
Về kim ngạch xuất khẩu : 1985 : 90 triệu USD
1990 : 205 triệu USD
1995 : 550 triệu USD
1998 : 858,6 triệu USD
Cho đến nay Việt Nam đã xuất khẩu sang các thị trờng Nhật, Mỹ, EU,
Đài Loan, Đông Nam á, và một số nớc khác, trong đó đợc xuất vào thị trờng
EU và Mỹ. Dự kiến năm 2000 giá trị xuất khẩu thủy sản sẽ là 1 tỷ USD, năm
2005 là 2 tỷ USD. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm cá, tôm, giáp xác
khác, mực, bạch tuộc, nhuyễn thể hai mảnh vỏ đông lạnh và một số mặt hàng
tơi sống khô, đóng hộp.
1.4. Các dịch vụ hậu cần của ngành Thủy sản.
Các lĩnh vực của ngành thủy sản Việt Nam đợc hỗ trợ bởi một phận tơng
đối lớn gồm các ngành công nghiệp hỗ trợ. Hơn 700 xởng đóng tàu có khả
năng đóng các tàu có công suất từ 350CV đến 500 CV, đồng thời đóng các tàu
mới theo yêu cầu và cung cấp các dịch vụ sửa chữa cơ bản. Năm nhà máy dệt
lới nhập sợi để xe và đan các lới cá. Hai cơ sở cơ khí cung cấp các máy móc
và thiết bị lạnh đợc chế tạo và lắp ráp ở trong nớc. Những phơng tiện hỗ trợ
này về cơ bản thuộc sở hữu của Nhà nớc chính quyền ở tỉnh. Chúng đợc thiết
lập trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và hiện đang đòi hỏi phải đợc
nâng cấp và cải tiến kể cả việc thay đổi trong tổ chức quản lý.
1.5. Khuôn khổ luật pháp và hành chính.
Luật lệ hiện hành về bảo vệ và quản lý nguồn lợi thủy sản đợc Chính phủ
thông qua tháng 4 năm 1989. Luật này quy định các điều khoản chung, các
chính quyền liên quan và trách nhiệm của họ đối với giám sát và kiểm sát
nghề cá, các hoạt động bị ngăn cấm và các biện pháp chỉ đạo mà Chính phủ có
Trong đó khu vực công nghiệp phát triển với tốc độ nhanh nhất. Tốc độ
tăng trởng theo ngành đợc thể hiện trong bảng cơ cấu GDP đã thay đổi từ khi
19
bắt đầu cuộc cải tổ. Đó là kết quả của việc phát triển trong lĩnh vực công
nghiệp và dịch vụ mạnh hơn so với các ngành cơ bản. Phần đóng góp của
nông nghiệp và Thủy sản vào GDP bị giảm sút từ 37,5% năm 1990 xuống
27,5% năm 1995.
Trong đó phần đóng góp của ngành Thủy sản vào GDP là 6,3% tổng
GDP năm 1994 .
Bảng 1: Tốc độ tăng và cơ cấu tổng sản phẩm trong nớc (%)
Ngành Tốc độ tăng (giá so sánh) Cơ cấu (giá hiện hành)
1995 1996 1997 1998 1995 1996 1997 1998
Nông nghiệp 4,4 4,6 5,0 2,8 23 22,4 21 21,4
Lâm nghiệp 5,9 2,0 0,1 0,2 1,2 1,7 1,5 1,4
Thủy sản 8,2 4,1 1,0 3,7 2,9 3,6 3,2 3,1
Công nghiệp 13,9 13,9 13,1 10,9 21,9 23,2 28,5 26,3
Dịch vụ 9,8 8,8 7,1 4,2 44,1 42,5 42,2 41,3
Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam 98-99
Tỷ trọng đóng góp tơng đối của Thủy sản trong GDP tuy đã giảm sút trong
thời gian qua (tuy nhiên về giá trị tuyệt đối thì ngành Thủy sản tiếp tục tăng).
Nguyên nhân không phải do ngành Thủy sản hoạt động kém, mà do các ngành
khác tăng đáng kể do có điều kiện để phát triển hơn. Có thể có một nguyên
nhân liên quan khác nữa đó là giá một số mặt hàng Thủy sản quan trọng của
Việt Nam đã giảm sút. Những dự báo cho thấy đóng góp của ngành thủy sản
vào nền kinh tế quốc dân có thể tăng 10,2 tỷ USD vào năm 2000, 15,6 tỷ USD
vào năm 2005 và 25 tỷ USD vào năm 2010. Những dự báo này cho thấy tỷ
trọng giá trị tăng thêm của ngành Thủy sản vào tổng sản phẩm quốc dân
(GDP) ở mức trung bình hàng năm là 2,2%.
2.2. Đóng góp cho xuất khẩu.
biến đông lạnh công suất 153 tấn/ngày/nhà máy, năm 1986 con số này tơng
ứng là 44 và 210 thì nay là 186 và 885. Tính đến nay có 27 doanh nghiệp đủ
điều kiện chế biến xuất khẩu vào thị trờng EU và hơn 40 doanh nghiệp xuất
khẩu sang thị trờng Mỹ. Do tỷ trọng sản phẩm có giá trị cao, giá trị gia tăng
đáng kể nên giá trị xuất khẩu vào 2 thị trờng này đạt xấp xỉ 20% tổng giá trị
xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Từ vị trí cuối bảng, trong danh sách xếp hạng
của FAO về giá trị trong các nớc xuất khẩu thủy sản trên thế giới. Chúng ta
từng bớc vơn lên và đến 1997 xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã ở hàng 29
21
và thứ 4 trong các nớc ASEAN. Điều đó chứng tỏ đây là một lĩnh vực năng
động và đóng góp quan trọng vào nền xuất khấu nớc ta.
2.3.Tạo việc làm.
Dân số Việt Nam có khoảng 78 triệu ngời trong đó có khoảng 62,4 triệu
ngời, chiếm 80% sống ở vùng nông thôn và 15,6 triệu ngời chiếm 20% sống ở
đô thị. Tỷ lệ nữ là 55,6% và nam là 44,4%.
Bảng 3: Lao động nghề cá.
Đơn vị 1000 ngời
Năm 1986 1990 1995 1996 1997 1998
Số LĐ 1.270 1.860 3.030 3.120 3.210 3.320
Nguồn: thông tin KH & CN Thủy sản số 3/99
Lao động nghề cá với hơn 3 triệu ngời, chiếm 10% tổng số lao động xã hội
trong đó nhiều nhất là nuôi trồng thủy sản có 2.219.400 ngời, đánh bắt
435.000 ngời, chế biến 250.000 ngời.
Bảng 4: Lao động nghề cá 1998 so với 1986
Đơn vị: 1000 ngời
1986 1998 Tăng thêm (%) 98/86
Thu hút lao động 1270 3320 2050 261,41
Nguồn: Bộ Thủy sản
Số lao động sống phụ thuộc vào ngành Thủy sản ngày càng tăng. Năm
ngành Thuỷ Sản vẫn còn cha dợc sử dụng hết. Tiềm năng đầy đủ của ngành
trong việc đóng góp đáng kể vào việc phát triển quốc gia vẫn cha đợc khảo sát
và hiểu biết đầy đủ. Mục tiêu chủ đạo của Bộ Thuỷ sản là sử dụng các tiềm
năng để đem lại lợi ích tối đa cho đất nớc.
Các mục tiêu chính của ngành là:
23
Mục tiêu quốc gia của ngành Thủy sản là nâng cao các điều kiện kinh
tế- xã hội của nhân dân ( chủ yếu là ng dân) đóng góp có hiệu qủa vào nền
kinh tế quốc dân bao gồm:
-Đạt tối đa sự đóng góp của ngành Thủy sản một cách bền vững vào
công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nớc, bao gồm cả ổn định xã hội và
an ninh quốc phòng
-Đạt tối đa công ăn việc làm và nâng cao thu nhập, mức sống của các
cộng đồng c dân sống dựa vào nghề cá.
-Nâng cao mức dinh dỡng của nhân dân bằng cách tăng mức cung cấp
sản phẩm thủy sản cho các thị trờng trong nớc và tạo điều kiện để ngời dân có
thể mua đợc sản phẩm thủy sản.
-Đảm bảo toàn bộ các hoạt động của ngành Thủy sản mang tính bền
vững cho hiện nay và trong tơng lai.
-Tăng cờng xuất khẩu các sản phẩm thủy sản và thu ngoại tệ.
-Đẩy mạnh CNH-HĐH ngành Thủy sản và các ngành dịch vụ thủy sản
để nâng cao hiệu qủa kinh tế và tài chính nhằm thiết lập và duy trì những lợi
thế so sánh.
-Tạo điều kiện thuận lợi để nghề cá Việt Nam hội nhập đầy đủ vào hệ
thống khu vực và thế giới bao gồm việc đa vào áp dụng và tuân theo những
thỏa thuận và diều khoản quốc tế và khu vực có liên quan đến nghề cá hiện
nay và có thể sẽ đợc thông qua trong tơng lai.
1. Về vốn :
Lợng vốn đầu t mà ngành Thuỷ Sản cần là rất lớn. Dự kiến vốn đầu t để phát
Tổng mức 35.490 tỷ đồng
- Ngân sách 13% bằng 4.610 tỷ đồng ( so với thời kỳ từ năm 1986 -1998
là 12,49 % )
25