LUẬN VĂN:
Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu xăng
dầu của Việt Nam Lời mở đầu
Với một nền khoa học phát triển như vũ bão, ngày nay con người hoàn toàn có
khả năng tìm kiếm những nguồn năng lượng khác thay thế xăng dầu như hạt nhân,
năng lượng mặt trời…. Tuy nhiên , trong một vài thập kỷ tới xăng dầu vẫn đóng vai
trò là nguồn năng lượng chính. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế là sự gia tằg ở
mức cao nhu cầu về nhiên liệu phục vụ cho sản xuất, an ninh quốc phòng và tiêu dùng.
Trong đó nhu cầu về xăng dầu và các sản phẩm dầu mỏ tăng nhanh cả về số lượng,
chất lượng và chủng loại. Xăng dầu đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển
kinh tế của đất nước.
Chúng ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, do đó nhu
cầu sử dụng xăng dầu là không thể thiếu được, đặc biệt là đối với các ngành như giao
thông vận tải , điện lực xây dựng, công nghiệp…. Mặt khác, nền kinh tế việt nam
trong những năm gần đây phát triển nhanh và ổn định. Đời sống kinh tế vật chất của
nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhu cầu về phương tiện giao thông ngày một tăng
nhanh. Do vậy nhu cầu về xăng dầu là rất lớn, khoảng từ 8-9 triệu tấn/năm. Cho đến
USD/thùng năm 1999. Có thể nói năm 1999 là năm căng thẳng nhất của thị trường
xăng dầu thế giới với sự gia tăng mạnh mẽ và liên tục giá dầu thô.
Năm 2000, cuộc khủng hoảng ở khu vực Trung Đông đã gia tăng áp lực đối với
thị trường dầu mỏ vốn đã bị căng thẳng, khi lượng dầu dự trữ ở mức thấp nhất trước
thời điểm mùa đông đến. Tháng 10 năm 2000, giá dầu đã tăng tới mức đỉnh cao trong
vòng 10 năm qua là 35 USD/thùng. Giá dầu tăng mạnh làm cho giá cả tại thị trường
Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản và ở nhiều nước Châu á tăng theo. Tại nhiều nước nổ ra các
cuộc biểu tình phản đối giá dầu tăng cao, gây ảnh hưởng tới nền kinh tế các nước.
Trước tình hình đó tháng 11 năm 2000 OPEC đã tăng hạn ngạch sản xuất dầu thêm
500.000 thùng/ngày lên 26,70 triệu thùng/ngày. Đây là nguyên nhân đưa giá dầu trên các thị trường thế giới giảm mạnh xuống còn 23,75 USD/thùng vào tháng 12 năm
2000.
Sáu tháng đầu năm 2001 giá xăng dầu trên thị trường thế giới tiếp tục giảm. Đến
quý II năm 2001 giá dầu giảm xuống còn 20 USD/thùng. Tuy nhiên OPEC đã thực
hiện việc cắt giảm sản lượng 2 triệu thùng/ngày trong hai tháng đầu năm nay nhằm
kiềm chế sự tụt giảm nhanh của giá dầu.
Có thể nói, nhu cầu xăng dầu của Việt Nam trong những năm tới vẫn phụ thuộc
nhiều vào thị trường xăng dầu thiế giới. Nó một cách khác là mọi biến động của thị
trường xăng dầu thế giới đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nền kinh tế
Viêt Nam cả ở tầm vĩ mô và vi mô.
ở tầm vĩ mô: giá dầu tăng cao đưa lại thu nhập cao cho các nước sản xuất dầu,
nhưng có lợi nhất vẫn là các tập đoàn, các công ty dầu khí xuyên quốc gia vì họ chi
phối toàn bộ quá trình sản xuất dầu. Không phải ngẫu nhiên trong năm 2000 có 10 tập
đoàn dầu mỏ hàng đầu thế giới đã thu lãi gấp đôi, trong đó hãng BP 9 tháng đầu năm
2000 lãi 8,6 triệu USD. Còn thiệt hại nhiều nhất vẫn là các nước phải nhập khẩu dầu.
Với Việt Nam , để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước ( khoảng 8 triệu
tấn/năm), hàng năm Nhà nước phải bỏ ra khoảng hơn 1,4 tỷ USD cho nhập khẩu xăng
dầu. Vì vậy khi thị trường xăng dầu thế giới bấp bênh, không ổn định, giá cả lên xuống
Nguồn: Tạp chí thống kê năng lượng thế giới PBA Moco 2000
Khối lượng xăng dầu sản xuất trên thế giới liên tục gia tăng, Trong đó ba khu vực
Bắc Mỹ, Châu á, Châu Âu riêng năm 2000 đã cung cấp 66,51% tổng khối lượng xăng
dầu toàn thế giới. Trong những năm gần đây nhất, hầu hết các khu vực đều nỗ lực
trong việc tăng sản lượng dầu. Thêm vào đó sản lượng khai thác dầu thô cũng liên tục
gia tăng và đang đi vào giai đoạn đỉnh.
Việc nắm giữ nguồn tài nguyên dầu mỏ trên toàn thế giới của OPEC (gồm 13
thành viên) đã chi phối được quan hệ cung cầu. Năm 1973, OPEC chuyển từ phòng
thủ sang phản công với những quyết định đơn phương như tăng giá dầu chuẩn lên 4
lần trong vòng một tháng (từ 1,8 USD/thùng lên 2,9 USD/thùng và 11,65 USD/thùng
cùng năm đó), giảm sản lượng để thay đổi cung cầu, cấm vận dầu mỏ từng phần để
thực hiện mục tiêu chính trị trong chiến tranh vùng vịnh….Cho đến nay OPEC điều chỉnh chiến lược của mình và gần đây nhất vào cuối năm 2000 OPEC cố gắng giữ giá
dầu ở mức 25-28 USD/thùng, mặc dù trong thời gian đó có lúc giá dầu lên tới 38
USD/thùng. Đến quý II năm 2001 giá dầu chỉ còn 20 USD/thùng. Trong quý I năm
2000, OPEC giảm sản lượng 1 triệu thùng/ ngày nhằm ngăn chặn sự giảm nhanh của
giá dầu. Trong khi đó các nước sản xuất dầu nằm ngoài OPEC, tuy nắm giữ trữ lượng
dầu mỏ không nhiều nhưng sản lượng khai thác ngày một tăng, lại hoàn toàn bị chi
phối bởi cơ chế thị trường tự do và không quan hệ với OPEC. Mặt khác, áp lực của các
nước phương Tây là rất lớn. Tất cả các yếu tố trên làm cho cuộc chiến về cung cầu dầu
mỏ ngày một trở nên phức tạp, giá cả thay đổi thất thường gây điêu đứng cho nhiều
nước, nhất là những nước phải nhập khẩu dầu khí.
3.2.Tình hình nhập khẩu xăng dầu trên thế giới
Nhu cầu xăng dầu là rất lớn đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia trên toàn thế
giới, nhất là những nước phát triển có nền sản xất lớn nhất thế giới như Mỹ,
Nhật…Hàng năm họ phải nhập khẩu một trữ lượng xăng dầu lớn mới đủ đáp ứng nhu
cầu sử dụng trong nước. Hiện nay Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản là ba khu vực nhập khẩu
xăng dầu lớn nhất thế giới.
ca M 93,9 triu tn v nm 2000 l 97,54 triu tn, ngun cung cp ch yu l t
Trung ụng, Vờ-nờ-zuờ-la, Canada, Mexico v Tõy u.
ng th hai v nhp khu du thụ l Tõy u vi s lng 87,5 triu tn nm
1999 v nm 2000 l 89,3 triu tn. Cỏc vựng cung cp ch yu l Trung ụng, Liờn
Xụ (c), Bc Phi (Angờri, Libi, Nigeria).
Nht Bn l quc gia ng th ba trờn th gii v tiờu th xng du nhng li
khụng cú m du nờn lng xng du tiờu th trong nc u phi thụng qua nhp
khu. Nm1999 khi lng du thụ nhp khu ca Nht Bn l 214,9 triu tn, xng
du l 49,3 triu tn v nm 2000 l 50,1 triu tn. Cung cp xng du cho Nht Bn
ch yu l Trung ụng, cỏc nc Chõu ỏ-Thỏi Bỡnh Dng.
Ngoi ba nc nhp khu xng du ln nht th gii cũn phi k n Trung Quc
v mt s nc khỏc. Nm 1999 nhp khu xng du ca Trung Quc t 20,8 triu
tn v nm 2000 t 21,3 triu tn. Th trng nhp khu ca Trung Quc l cỏc nc
Chõu ỏ v Trung ụng. Trong ú Chõu ỏ chim t trng ln hn gm cỏc nc nh
Indonesia, Thỏi Lan, Singapore, Vit Nam.
Biểu đồ 1: Tình hình nhập khẩu xă ng dầu của một số n ớ c và khu
vực nă m 19992000
97.54
89.3
93.9
87.5
80
100
120
Đ ơn vị
(Triệu tấn)
môi trường ngặt nghèo của Nhật Bản, Mỹ và một số nước Tây Âu. Ngoài ra còn phải
kể đến các nước xuất khẩu khác như Indonesia, Malaixia… Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 1999-2000
Có thể nói xăng dầu đóng một vai trò quan trọng chiến lược với nền kinh tế quốc
dân, nên những biến động của xăng dầu thên thị trường thế giới đều ảnh hưởng không
nhỏ tới hoạt động sản xuất và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia trên toàn thế giới,
nhất là những nước phải nhập khẩu với khối lượng lớn.
II. Tình hình nhập khẩu xăng dầu hiện nay của Việt Nam
1. Tình hình nhập khẩu xăng dầu
Hiện nay, lượng xăng dầu tiêu thụ trong nước của Việt Nam phụ thuộc gần như
hoàn toàn vào xăng dầu nhập khẩu. Chúng ta mới có nhà máy lọc dầu mini là Petro Sài
Gòn với sản lượng thấp. Theo dự kiến đến năm 2004 nhà máy lọc dầu Dung Quất mới
cho ra sản phẩm, nhưng do nhu cầu tiêu thụ trong nước ngày một lớn nên Việt Nam
vẫn phải nhập khẩu xăng dầu. Cho đến nay Việt Nam đã có 35 đơn vị kinh doanh nhập
khẩu xăng dầu, nhưng Tổng công ty xăng dầu Việt Nam là đơn vị lớn nhất được Nhà
nước giao nhiệm vụ cung ứng và điều tiết nguồn xăng dầu nhập khẩu để phục vụ nhu
cầu trong nước và một phần tái xuất khẩu thu ngoại tệ.
Hiện nay thị phần của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam là 61%, đứng thứ hai là
Petec với thị phần 12%, đứng thứ ba là Sài Gòn Petro 11%,tiếp đến là Vinapco 5%,
7403
8589
9200
0
2000
4000
6000
8000
10000
1996 1997 1998 1999 2000 DB2001
§ ¬n vÞ:1000 M T
§ å thÞ 2: Kim ng¹ch nhËp khÈu x¨ ng dÇu cña ViÖt Nam 1996
2001
70823
64312
68927
101306
158137
166700
0
50000
100000
150000
200000
1996 1997 1998 1999 2000 DB 2001
§ ¬n vÞ:1000
USD
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam
trong những năm gần đây
I. Quy trình kinh doanh của Tổng công ty theo quy định của Nhà nước và
pháp luật
1. Xin giấy phép nhập khẩu
Xăng dầu là mặt hàng nhập khẩu có giấy phép, chịu sự quản lý của Bộ thương
mại. Cuối mỗi năm, Bộ thương mại cấp giấy phép nhập khẩu để tiêu thụ trong nước
cho Tổng công ty trong năm tới với một khối lượng nhất định gọi là kế hoạch định
hướng. Khối lượng này được thông báo cho hải quan ở tất cả các cảng khẩu trên cả
nước biết. Khi hàng nhập khẩu về, hải quan sẽ trừ vào khối lượng trong giấy phép đã
cho. Nếu nhập hết khối lượng cho phép mà Tổng công ty muốn nhập thêm thì Tổng
công ty phải làm đơn xin Bộ thương mại. Và nếu được sự đồng ý thì Tổng công ty mới
tiếp tục được nhập khẩu xăng dầu với khối lượng theo giấy cấp đó. Hồ sơ gửi lên Bộ
bao gồm:
-Đơn xin phép nhập khẩu: ghi rõ chủng loại nhập, số lượng, cửa khẩu nhập, thời
gian thực hiện hợp đồng.
-Phiếu hạn ngạch
-Bản sao L/C
-Hợp đồng nhập khẩu xăng dầu
Tất cả những hồ sơ trên gửi lên Bộ thương mại. Bộ thương mại cấp giấy phép
nhập khẩu trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn đúng thủ tục quy định.
2. Mở L/C
Việc viết đơn mở L/C do phòng tài chính của Tổng công ty chịu trách nhiệm và
căn cứ theo mẫu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Thông thường Tổng công ty
mở L/C sau ngày ký hợp đồng một ngày để bên bán kịp thời sắp xếp hàng hoá. Loại
L/C thường là L/C không huỷ ngang (Irrivocable L/C), trả chậm 30 ngày. Trên đơn ghi rõ: tên người mở L/C là Petrolimex; tên người hưởng lợi (tức người bán), trị giá L/C là
100% trị giá hợp đồng. Chứng từ xuất trình gồm:
hơn rất nhiều so với Tổng công ty đi thuê.
3. Mua bảo hiểm
Việc mua bảo hiểm của Tổng công ty căn cứ vào giá nhập khẩu xăng dầu taụi thời
điểm đầu quý, căn cứ vào lượng nhập FOB, CFR và tỷ lệ phí bảo hiểm. Tổng công ty
ước tính phí bảo hiểm cho từng quý, trích một số tiền bằng số phí bảo hiểm ước tính
để mua bảo hiểm cho từng quý một.
Cứ mỗi lần có hàng nhập cần mua bảo hiểm, Tổng công ty gửi đơn yêu cầu bảo
hiểm đến PJICO. Đến cuối quý PJICO hạch toán thừa thiếu với Tổng công ty và Tổng
công ty sẽ chuyển tiền mua bảo hiểm tiếp cho quý sau.
Điều kiện bảo hiểm thông thường là điều kiện C áp dụng cho dầu chở rời, tỷ lệ phí
bảo hiểm là 0.027%.
4. Kiểm tra hàng nhập khẩu
Tổng công ty tiến hành kiểm tra hàng nhập khẩu ngay từ khi hàng còn ở trên tầu
và tầu vừa cập bến cảng quy định. Trước tiên kiểm tra, niêm phong van thông biển,
van dỡ qua boong và kiểm tra tất cả các khoang liên quan để phát hiện rò rỉ của dầu.
Nếu niêm phong không còn nguyên thì phải lập biên bản giám định hầm tầu. Tham gia
lập biên bản có hải quan, đại diện hãng tàu, đại diện Tổng công ty, Vinacontrol. Nếu
niêm phong còn nguyên vẹn thì tiến hành kiểm tra chất lượng và số lượng.
Khi kiểm tra chất lượng và số lượng, Tổng công ty mời Vinacontrol đến giám
định, hải quan căn cứ vào kết quả giám định của Vinacontrol để ghi vào phần kết quả
kiểm hoá.
Kiểm tra số lượng được tiến hành như sau:
- Đo chiều cao mức dầu trong mỗi khoang chứa hàng. Mỗi khoang phải đo 3
lần, lấy số trung bình cộng của 3 lần đo. - Căn cứ vào bảng barem dung tích của từng khoang tra ra dung tích dầu chứa
trong khoang ứng với chiều cao của mức dầu.
- Đo nhiệt độ của từng khoang bằng nhiệt độ kế: Thả nhiệt độ kế xuống khoang
dầu tới độ sâu cần thiết và ngâm trong khoảng thời gian từ 15 đế 30 phút. Khi lấy nhiệt
+ Hoá đơn thương mại (1 bản sao)
+ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Petrolimex (chỉ nộp một lần khi
đăng ký làm thủ tục cho lô hàng nhập khẩu đầu tiên tại mỗi điểm làm thủ tục hải
quan).
Khi tổng công ty và Vinacontrol kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá và
bơm hàng lên bồn, nhân viên hải quan giám sát chặt chẽ toàn bộ quá trình.
Sau khi bơm xong Tổng công ty phải nộp thêm vào bộ hồ sơ:
+ Chứng thư giám định về tên hàng, khối lượng của Vinacontrol.
+ Biên bản giám định hàng hoá giữa chủ phương tiên vận tải và Tổng công ty.
+ Giấy xác nhận đạt được chất lượng nhập khẩu (hoặc thông báo miễn kiểm tra
chất lượng) đối với xăng dầu thuộc danh mục kiểm tra của Nhà nước về kiểm tra
chất lượng. Sau khi tiếp nhận bộ hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, hải quan mới đăng ký tờ
khai. Kết quả giám định về số lượng và chất lượng của Vinacontrol là căn cứ để hải
quan ghi vào danh mục hàng hoá trong tờ khai hải quan , sau đó hồ sơ được chuyển
lên lãnh đạo hải quan cảng biển để ký tên và đóng dấu. Sau cùng hải quan thông
báo thuế và giải phóng hàng nhập khẩu để kinh doanh trong nước.
6. Thanh toán cho người bán.
Hợp đồng nhập khẩu xăng dầu thường qui định thanh toán trong vòng 30 ngày kể
từ ngày vận đơn.
- Nếu thanh toán bằng L/C: Trên lý thuyết ngân hàng phát hành là người ký
nhận trả tiền hối phiếu nhưng thực tiễn tại Tổng công ty xăng dầu lại khác. Trình tự
thanh toán diễn ra như sau: + Ngân hàng nhận được chứng từ và kiểm tra chứng từ.
+ Ngân hàng chuyển toàn bộ chứng từ cho Tổng công ty để Tổng công ty xem xét
chấp nhận thanh toán hay không. Nếu chứng từ hợp lệ, Tổng công ty sẽ ký chấp nhận
thanh toán vào hối phiếu, khi đến hạn thanh toán Tổng công ty sẽ trả tiền cho người
bán qua Ngân hàng.
Nếu chứng từ không hợp lệ: chứng từ có sai sót lớn như vận đơn không sạch, sai
bao gồm:
+ Các hồ sơ pháp lý ban đầu như hợp đồng, vận đơn, ROROC
+ Chứng từ giám định của Vinacontrol (hoặc của S.G.S) bộ hồ sơ được chuyển
đến người có trách nhiệm, có thể là người xuất khẩu, người bảo hiểm hoặc người vận
tải.
II. Hoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu trong những năm gần đây.
1. Tình hình nhập khẩu.
1.1. Thị trường nhập khẩu.
Trong những năm qua, mối quan hệ giữa Tổng công ty với các bạn hàng nước
ngoài không ngừng phát triển và đổi mới. Mối quan hệ đó không chỉ dừng lại ở mức
buôn bán các sản phẩm xăng dầu, Tổng công ty xăng dầu Việt Nam cần thiết lập với
nhóm bạn hàng nước ngoài trong các lĩnh vực hợp tác đầu tư, liên doanh, hỗ trợ tài
chính và đào tạo. Chính vì vậy, cho đến nay Tổng công ty đã thiết lập một danh mục
lớn các nhà cung cấp xăng dầu đáng tin cậy về nhiều khía cạnh, danh mục thoả mãn
được các yếu tố an toàn, đa dạng và tránh độc quyền trong việc bán hàng cho Tổng
công ty.
Trong quan hệ buôn bán các sản phẩm xăng dầu Tổng công ty chú trọng vào việc
xiết chặt quan hệ với các hãng tin cậy (bên cạnh việc ký hợp đồng dài hạn). Tương
ứng với các khu vực thị trường tại Đông Nam á (chủ yếu là Singapore) có các hãng
cung cấp nổi tiếng: SHEll, ESSO, TOTAl, HINGLEOIL, KUO OIL . . cung cấp
Diesel, xăng cao cấp và Mazut, tại Trung Đông là công ty xăng dầu quốc gia Cô-oét
cung cấp Diesel (KPC) chuyên cung cấp Diesel, dầu bay, dầu hoả, nhà cung cấp lớn nhất từ vùng Đông Bắc á là công ty hoá dầu quốc gia Trung Quốc (SINIPEC) cung
cấp xăng thông dụng với khối lượng nhỏ Diesel.Thị trường nhập khẩu của Tổng công
ty xăng dầu Việt nam ổn định và thuận lợi. Nhìn chung có năm khu vực chính cung
cấp sản phẩm cho Tổng công ty là Singapore, Trung Đông, Trung Quốc, Đông Bắc á,
và Đông Âu. Trong đó mỗi vùng có một ưu thế nhất định, đặc biệt thị trường
Singapore là có triển vọng nhất.
(%)
Khối
lượng
(MT)
Tỷ
trọng
(%)
Khối
lượng
(MT)
Tỷ
trọng
(%)
Khối
lượng
(MT)
Tỷ
trọng
(%)
Singapore 1980000
47.09
1986000
45.47
2150000
47.78
18.89
1030000
18.73
Đông Bắc á 43000
1.02
150000
3.43
160000
3.56
404000
7.35
Đông Âu 122000
2.90
277000
6.34
-
-
- Nguồn xăng dầu nhập khẩu của Tổng công ty chủ yếu từ Singapore: Thông
qua công ty Shell, ESSO, KUO, HINLEONG . . cung cấp phần lớn khối lượng
Diesel, xăng cao cấp, Mazut. Năm 1997 nhập 1980 triệu tấn, năm 1998 nhập nhập
0
500000
1000000
1500000
2000000
2500000
3000000
1997 1998 1999 2000
§ ¬n vÞ:MT
Singapore
Trung § «ng
Trung Quèc
§ «ng B¾c ¸
§ «ng ¢ utăng hơn là 6.000 MT (tương đương 0,30%) so với năm 1997 Từ năm 1999 đến năm
2000 khối lượng nhập khẩu từ thị trường này liên tục tăng lên.
- Thị trường Trung Đông: năm 1997 Tổng công ty nhập khẩu 1.560.000 tấn,
doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp của Lào, Campuchia đã được cải thiện.
Nhờ vậy Tổng công ty xăng dầu Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp chính cho hai thị
trường này trong những năm vừa qua.
Cũng trong những năm 1990, Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, hoạt động
kinh tế đối ngoại được mở rộng, khối lượng xuất nhập khẩu tăng, các nhà đầu tư nước
ngoài tăng cường đầu tư vào Việt Nam, hình thành khu chế xuất, doanh nghiệp chế
xuất… Từ đó hình thành thị trường xăng dầu cung cấp cho tư bản nước ngoài, khu chế
xuất và doanh nghiệp chế xuất.
Từ 1/6/1997 Hồng Kông được trao trả cho Trung Quốc. Sự kiện đó phần nào
giúp Việt Nam trở thành cửa ngõ trao đổi, buôn bán với miền duyên hải phía nam
Trung Quốc và thị trường tái xuất xăng dầu sang Trung Quốc bắt đầu được hình thành.
Có thể nói cho đến nay Tổng công ty xăng dầu Việt Nam đã có những thành công
đáng kể trong việc chiếm lĩnh và mở rộng thị trường tái xuất với bốn khu vực thị
trường chính, hoạt động tái xuất của Tổng công ty ngày càng được đẩy mạnh, góp
phần không nhỏ vào việc tăng cường vị thế của Tổng công ty trên thị trường trong và
ngoài nước.
Mặc dù vậy thị trường tái xuất xăng dầu đã và đang tồn tại những yếu tố cạnh
tranh quyết liệt, thị phần tại một số khu vực đang ngày càng bị thu hẹp. Phân tích tình
hình từng thị trường sẽ cho thấy rõ hơn điều này.
2.1.1. Thị trường Campuchia.
Tương tự như thị trường Việt Nam, Campuchia chưa phát triển công nghiệp hoá
dầu, toàn bộ khối lượng xăng dầu tiêu thụ trong nước đều từ nhập khẩu. Do nội chiến
kéo dài, nền kinh tế chậm phát triển, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu chỉ thực sự tăng trưởng
từ năm 1993 khi Liên hiệp quốc tham gia gìn giữ hoà bình tại Campuchia. Biểu đồ 4: Khối lượng xăng dầu tái xuất sang thị trường Campuchia năm 1997-
2000
116723
115742
6132
3520
6258
2754
21448 21056
18437
9678
0
27871
71803
281997
227018
187499
217600
0
50000
100000
150000
200000
250000
300000
1997 1998 1999 2000
§ ¬n vÞ (MT)
X¨ng
DO
Jet
KD
FO
DO 13223
13230
16728
19113
Jet 4199
3283
2631
3070
Tổng KHẩI
LưẻNG
31997
29098
33999
38700
Nguồn: Phòng xuất nhập khẩu- Tổng công ty xăng dầu Việt Nam.
Như vậy các mặt hàng năm trong danh mục tái xuất sang thị trường Lào rất ít, chỉ
có 3 mặt hàng với khối lượng rất khiêm tốn. Tuy nhiên Tổng công ty cũng đã nỗ lực