Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Với một nền khoa học phát triển nh vũ bão, ngày nay con ngời hoàn toàn có
khả năng tìm kiếm những nguồn năng lợng khác thay thế xăng dầu nh hạt nhân,
năng lợng mặt trời . Tuy nhiên , trong một vài thập kỷ tới xăng dầu vẫn đóng
vai trò là nguồn năng lợng chính. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế là sự
gia tằg ở mức cao nhu cầu về nhiên liệu phục vụ cho sản xuất, an ninh quốc
phòng và tiêu dùng. Trong đó nhu cầu về xăng dầu và các sản phẩm dầu mỏ
tăng nhanh cả về số lợng, chất lợng và chủng loại. Xăng dầu đóng vai trò quan
trọng trong công cuộc phát triển kinh tế của đất nớc.
Chúng ta đang trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, do đó
nhu cầu sử dụng xăng dầu là không thể thiếu đợc, đặc biệt là đối với các ngành
nh giao thông vận tải , điện lực xây dựng, công nghiệp . Mặt khác, nền kinh
tế việt nam trong những năm gần đây phát triển nhanh và ổn định. Đời sống
kinh tế vật chất của nhân dân đợc cải thiện rõ rệt, nhu cầu về phơng tiện giao
thông ngày một tăng nhanh. Do vậy nhu cầu về xăng dầu là rất lớn, khoảng từ
8-9 triệu tấn/năm. Cho đến nay, Việt nam cha có nhà máy hoá dầu nên các sản
phẩm về dầu mỏ phục vụ nhu cầu trong nớc chủ yếu phải nhập khẩu.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài đợc chia thành ba chơng với nội dung
nh sau:
Chơng I: Thị trờng dầu mỏ thế giới và Việt nam.
Chơng II: Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam
trong những năm gần đây.
Chơng III: Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
xăng dầu của Việt Nam:
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng I :
Thị trờng dầu mỏ thế giới và hoạt động nhập khẩu
xăng dầu ở Việt nam
I.Thị trờng dầu mỏ thế giới
đã thực hiện việc cắt giảm sản lợng 2 triệu thùng/ngày trong hai tháng đầu năm
nay nhằm kiềm chế sự tụt giảm nhanh của giá dầu.
Có thể nói, nhu cầu xăng dầu của Việt Nam trong những năm tới vẫn phụ
thuộc nhiều vào thị trờng xăng dầu thiế giới. Nó một cách khác là mọi biến
động của thị trờng xăng dầu thế giới đều có ảnh hởng trực tiếp hoặc gián tiếp
đối với nền kinh tế Viêt Nam cả ở tầm vĩ mô và vi mô.
ở tầm vĩ mô: giá dầu tăng cao đa lại thu nhập cao cho các nớc sản xuất dầu,
nhng có lợi nhất vẫn là các tập đoàn, các công ty dầu khí xuyên quốc gia vì họ
chi phối toàn bộ quá trình sản xuất dầu. Không phải ngẫu nhiên trong năm 2000
có 10 tập đoàn dầu mỏ hàng đầu thế giới đã thu lãi gấp đôi, trong đó hãng BP 9
tháng đầu năm 2000 lãi 8,6 triệu USD. Còn thiệt hại nhiều nhất vẫn là các nớc
phải nhập khẩu dầu.
Với Việt Nam , để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc ( khoảng 8 triệu
tấn/năm), hàng năm Nhà nớc phải bỏ ra khoảng hơn 1,4 tỷ USD cho nhập khẩu
xăng dầu. Vì vậy khi thị trờng xăng dầu thế giới bấp bênh, không ổn định, giá
cả lên xuống phức tạp sẽ gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp chủ đạo
trong kinh doanh xăng dầu. Hệ quả là các doanh nghiệp rất khó hạch toán trong
kinh doanh, đảm bảo hiệu quả nhập khẩu xăng dầu, hoàn thành kế hoạch Nhà
nớc giao. Ngoài ra, để ổn định giá xăng dầu phục vụ tốt cho nhu cầu đời sống
và sản xuất trong nớc nên Nhà nớc đã phải chi một khoản tiền lớn để bù giá
thông qua quỹ bình ổn của Nhà nớc do chính các doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu đóng góp qua hình thức phụ thu.
ở tầm vi mô: Sau hơn 10 năm thực hiện quá trình đổi mới, hiện nay đời
sống nhân dân đã đợc nâng lên rõ rệt. Số ngời sử dụng ô tô , xe máy , bếp ga
ngày một tăng lên , kéo theo nhu cầu xăng dầu tăng lên rất nhanh. Vì vậy, giá
xăng dầu trên thế giới tăng lên sẽ ảnh hởng không nhỏ tới tâm lý, hành vi mua
bán của ngời tiêu dùng.
2. Tình hình sản xuất và cung ứng xăng dầu trên thế giới
2.1. Tình hình cung ứng xăng dầu trên thế giới
3
dầu mỏ từng phần để thực hiện mục tiêu chính trị trong chiến tranh vùng
vịnh .Cho đến nay OPEC điều chỉnh chiến l ợc của mình và gần đây nhất vào
cuối năm 2000 OPEC cố gắng giữ giá dầu ở mức 25-28 USD/thùng, mặc dù
trong thời gian đó có lúc giá dầu lên tới 38 USD/thùng. Đến quý II năm 2001
giá dầu chỉ còn 20 USD/thùng. Trong quý I năm 2000, OPEC giảm sản lợng 1
triệu thùng/ ngày nhằm ngăn chặn sự giảm nhanh của giá dầu. Trong khi đó các
nớc sản xuất dầu nằm ngoài OPEC, tuy nắm giữ trữ lợng dầu mỏ không nhiều
nhng sản lợng khai thác ngày một tăng, lại hoàn toàn bị chi phối bởi cơ chế thị
trờng tự do và không quan hệ với OPEC. Mặt khác, áp lực của các nớc phơng
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tây là rất lớn. Tất cả các yếu tố trên làm cho cuộc chiến về cung cầu dầu mỏ
ngày một trở nên phức tạp, giá cả thay đổi thất thờng gây điêu đứng cho nhiều
nớc, nhất là những nớc phải nhập khẩu dầu khí.
3.2.Tình hình nhập khẩu xăng dầu trên thế giới
Nhu cầu xăng dầu là rất lớn đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia trên toàn
thế giới, nhất là những nớc phát triển có nền sản xất lớn nhất thế giới nh Mỹ,
Nhật Hàng năm họ phải nhập khẩu một trữ l ợng xăng dầu lớn mới đủ đáp ứng
nhu cầu sử dụng trong nớc. Hiện nay Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản là ba khu vực
nhập khẩu xăng dầu lớn nhất thế giới.
Bảng 2: Khối lợng xăng dầu tiêu thụ của các nớc và các khu vực trên thế
giới trong những năm gần đây
Đơn vị: triệu tấn
Nớc 1996 1997 1998 1999 2000
Tỷ trọng
2000/TG(%)
Mỹ 836,5 848,0 863,8 882,8 920,5 26,35
Nhật 269,9 266,3 254,9 258,8 260,7 7,46
Trung Quốc 174,4 185,6 190,3 200,0 214,3 6,13
Đức 137,4 136,5 136,6 132,4 135,6 3,88
hơn gồm các nớc nh Indonesia, Thái Lan, Singapore, Việt Nam.
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 1999-2000
3.3. Tình hình xuất khẩu xăng dầu trên thế giới
Trớc tiên phải kể đến Trung Đông, đây là vùng xuất khẩu xăng dầu lớn nhất
thế giới. Năm 1999 xuất khẩu 114,5 triệu tấn, năm 2000 đạt 115,3 triệu tấn.
6
Biểu đồ 1: Tình hình nhập khẩu xăng dầu của một số nước và khu
vực năm 1999-2000
97.54
89.3
50.1
21.3
93.9
87.5
49.3
20.8
0
20
40
60
80
100
120
Mỹ Tây âu Nhật Bản Trung Quốc
Đơn vị
(Triệu tấn)
Năm 1999
Năm 2000
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Những nớc xuất khẩu chủ yếu là những nớc trong khối OPEC nh A-rập-xê-út,
20
40
60
80
100
120
140
Trung Đông Liên Xô(cũ) Châu á-Thái Bình
Dương
Đơn vị:triệu tấn
Năm 1999
Năm 2000
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. Tình hình nhập khẩu xăng dầu hiện nay của Việt Nam
1. Tình hình nhập khẩu xăng dầu
Hiện nay, lợng xăng dầu tiêu thụ trong nớc của Việt Nam phụ thuộc gần
nh hoàn toàn vào xăng dầu nhập khẩu. Chúng ta mới có nhà máy lọc dầu mini
là Petro Sài Gòn với sản lợng thấp. Theo dự kiến đến năm 2004 nhà máy lọc
dầu Dung Quất mới cho ra sản phẩm, nhng do nhu cầu tiêu thụ trong nớc ngày
một lớn nên Việt Nam vẫn phải nhập khẩu xăng dầu. Cho đến nay Việt Nam đã
có 35 đơn vị kinh doanh nhập khẩu xăng dầu, nhng Tổng công ty xăng dầu Việt
Nam là đơn vị lớn nhất đợc Nhà nớc giao nhiệm vụ cung ứng và điều tiết nguồn
xăng dầu nhập khẩu để phục vụ nhu cầu trong nớc và một phần tái xuất khẩu
thu ngoại tệ.
Hiện nay thị phần của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam là 61%, đứng thứ
hai là Petec với thị phần 12%, đứng thứ ba là Sài Gòn Petro 11%,tiếp đến là
Vinapco 5%, Petechim 35%, công ty Thơng mại Dầu khí Đồng Tháp 3%, công
ty xây dựng quân đội 1,4%, Petro Mêkông 0,9, Công ty xuất nhập khẩu vật t đ-
ờng biển 0,5%, còn lại 2,7% là của PTSC, nhà máy điện Hiệp Phớc và công ty
bột ngọt Vê đan.
thuế thu nhập đối với xăng dầu, còn lại doanh nghiệp chịu một phần và ngời
tiêu dùng cùng chia sẻ (tăng giá bán có mức độ). Kết quả là đến cuối năm 2000
giá bán lẻ xăng dầu tăng 800 đ/lit (tăng 118,6%) lên 5100đ/lit; dầu DO tăng
400đ/lit (11,1%) lên 4000 đ/lit; dầu hoả tăng 100đ/lit (2,7%) lên 3800 đ/lit; dầu
Mazut tăng 700 đ/kg (38,9%) lên 2500 đ/kg. Theo đánh giá của các nhà chuyên
môn, năm 2001 cùng với sự phát triển nhanh hơn của nền kinh tế, nhu cầu tiêu
thụ xăng dầu cũng tăng, nhập khẩu xăng dầu sẽ tăng từ 7- 8% so với năm 2000.
9
Đồ thị 2: Kim ngạch nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam 1996-
2001
70823
64312
68927
101306
158137
166700
0
50000
100000
150000
200000
1996 1997 1998 1999 2000 DB 2001
Đơn vị:1000
USD
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mặc dù có nhiều dự kiến cho rằng giá xăng dầu trên thị trờng thế giới năm 2001
sẽ giảm so vvới mức cao kỷ lục của năm 2000 nhng vẫn còn chứa đựng nhiều
nhân tố bất ổn và sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao.
Để đảm bảo hoạt động bìnhn thờng cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng
dầu , đồng thời giảm bớt khó khăn cho ngân sách Nhà nớc trong điều kiện giá
Việc viết đơn mở L/C do phòng tài chính của Tổng công ty chịu trách
nhiệm và căn cứ theo mẫu của Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam. Thông thờng
Tổng công ty mở L/C sau ngày ký hợp đồng một ngày để bên bán kịp thời sắp
xếp hàng hoá. Loại L/C thờng là L/C không huỷ ngang (Irrivocable L/C), trả
chậm 30 ngày. Trên đơn ghi rõ: tên ngời mở L/C là Petrolimex; tên ngời hởng
lợi (tức ngời bán), trị giá L/C là 100% trị giá hợp đồng. Chứng từ xuất trình
gồm:
+Hoá đơn thơng mại
+Hối phiếu
+Vận đơn sạch đã bốc hàng
+Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O)
+Giấy chứng nhận số lợng và trọng lợng của cơ quan giám định độc lập
+Giấy chứng nhận bảo hiểm (nếu có)
Mua bán xăng dầu quốc tế, trong quá trình vận chuyển ngời chuyên chở có
thể mua bán xăng dầu dọc đờng. Vì vậy, nếu không xuất trình vận đơn gốc và
các chứng từ giao hàng khác thì ngời bán phải phát hành và xuất trình th bảo
lãnh của mình: LOI (Sells letter of Indeminity), đồng thời cũng xuất trình LOI
cho ngân hàng để thay thế tạm thời vận đơn gốc hoặc các chứng từ khác. Trong
th này ngời bán phải ghi rõ bảo đảm quyền sở hữu đó cho ngời mua là Tổng
công ty và cam kết họ sẽ cố gắng cung cấp hàng. Thời gian xuất trình chứng từ
trong vòng 21 ngày sau ngày vận đơn nhng trong thời hạn hiệu lực của L/C.
Việc mở L/C chỉ áp dụng trong trờng hợp thanh toán bằng L/C.
2. Thuê tàu chở hàng
Do nhập khẩu theo điều kiện FOB nên Tổng công ty luôn giành quyền vận
tải. Phần lớn Tổng công ty dùng tầu của mình để vận chuyển dầu nhập khẩu.
Hiện nay Tổng công ty đã có một tầu vận tải 30.000 DWT, một tầu 7.000 DWT,
ba tầu trọng tải 23.000 DWT. Ngoài ra Tổng công ty còn thuê tầu chuyến thông
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
qua môi giới theo hình thức thuê ớt nhng trờng hợp này rất ít do hiệu quả rất
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kiểm tra số lợng đợc tiến hành nh sau:
- Đo chiều cao mức dầu trong mỗi khoang chứa hàng. Mỗi khoang phải
đo 3 lần, lấy số trung bình cộng của 3 lần đo.
- Căn cứ vào bảng barem dung tích của từng khoang tra ra dung tích dầu
chứa trong khoang ứng với chiều cao của mức dầu.
- Đo nhiệt độ của từng khoang bằng nhiệt độ kế: Thả nhiệt độ kế xuống
khoang dầu tới độ sâu cần thiết và ngâm trong khoảng thời gian từ 15 đế 30
phút. Khi lấy nhiệt kế lên thì đọc ngay để tránh ảnh hởng của gió và nhiệt độ
môi trờng. Nếu nhiệt độ môi trờng khác biệt trên 6 độ so với trong bồn thì đo ít
nhất hai lần. Từ dung tích và nhiệt độ dầu từng khoang suy ra đợc dung tích dầu
từng khoang ở điều kiện chuẩn 15 độ.
Kiểm tra về chất lợng đợc tiến hành theo phơng pháp lấy mẫu. Mẫu đợc lấy
theo tỷ lệ: 1 trên cùng, 2 ở giữa, 1 ở đáy. Có tỷ lệ này là do thực tế xăng dầu có
chất lợng khác nhau thì phân loại cũng khác nhau. Lớp xăng dầu có khối lợng
riêng lớn thì nằm chìm xuống dới, lớp có khối lợng riêng nhỏ thì nổi lên trên.Tỷ
lệ 1:2:1 nh trên đợc trộn với nhau sẽ đảm bảo đợc tính đại diện của mẫu. Mẫu
của các khoang đợc trộn chung với nhau tạo thành mẫu của lô hàng. Mẫu này đ-
ợc mang đi phân tích để xác định kết quả.
Thời gian kiểm tra hàng hoá thờng quy định là 6 giờ. Sau khi kiểm tra song
Vinacotrol sẽ ghi kết quả kiểm tra vào chứng th giám định và ký tên , đóng
dấu.Nếu không có sai sót lớn về số lợng hoặc chất lợng Tổng công ty sẽ rút
xăng dầu ra khỏi tầu hàng và bơm lên bể chứa nhập khẩu để kinh doanh trong
nớc. Nếu có sai sót lớn Tổng công ty phải lập các chứng từ để khiếu nại. Trong
trờng hợp phía nớc ngoài không công nhận kết quả giám định của Vinacontrol,
Tổng công ty phải mời S.G.S (Societe General De Surveillance) là công ty giám
định của Thuỵ Sỹ đợc quốc tế công nhận đến giám định. Sau khi giám định
xong, S.G.S ghi kết quả vào chứng th giám định. Đây chính là căn cứ để Tổng
công ty khiếu nại.
Hợp đồng nhập khẩu xăng dầu thờng qui định thanh toán trong vòng 30
ngày kể từ ngày vận đơn.
- Nếu thanh toán bằng L/C: Trên lý thuyết ngân hàng phát hành là ngời
ký nhận trả tiền hối phiếu nhng thực tiễn tại Tổng công ty xăng dầu lại khác.
Trình tự thanh toán diễn ra nh sau:
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Ngân hàng nhận đợc chứng từ và kiểm tra chứng từ.
+ Ngân hàng chuyển toàn bộ chứng từ cho Tổng công ty để Tổng công ty
xem xét chấp nhận thanh toán hay không. Nếu chứng từ hợp lệ, Tổng công ty sẽ
ký chấp nhận thanh toán vào hối phiếu, khi đến hạn thanh toán Tổng công ty sẽ
trả tiền cho ngời bán qua Ngân hàng.
Nếu chứng từ không hợp lệ: chứng từ có sai sót lớn nh vận đơn không sạch,
sai sót khác lớn về số lợng, chất lợng, đơn giá, trị giá, thì Tổng công ty từ chối
thanh toán. Nếu chứng từ có sai sót nhng khôing phải là những sai sót nh trên,
Tổng công ty sẽ chấn nhận thanh toán vào hối phiếu.
Nh vậy, việc quyết định thanh toán hay không phụ thuộc vào Tổng công ty
chứ không phải vào ngân hàng phát hành. Nếu ngân hàng tự quyết định thanh
toán thì sẽ có rủi ro lớn vì Tổng công ty không ký quĩ mở L/C. Một số vận đơn
ghi theo lệnh của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam chứ không theo lệnh của
ngân hàng nên hàng hoá trên vận đơn thuộc quyền sở hữu của Tổng công ty.
Các yếu tố trên cho thấy ngân hàng sẽ ở thế bất lợi nếu ngân hàng đứng ra
thanh toán cho lô hàng thuộc quyền sở hữu của Tổng công ty trong khi không
chắc chắn có thu đợc tiền từ Tổng công ty hay không.
Vậy câu hỏi đặt ra là: Nếu chứng từ ngời bán xuát trình hợp lệ nhng Tổng
công ty không chấp nhận thì Ngân hàng có phải chấn nhận thanh toán trên hối
phiếu không? Theo luật, ngân hàng phát hành L/C sẽ phải ký chấp nhận vào hối
phiếu sau đó ngân hàng sẽ kiện Tổng công ty. Nhng thực tế thì Tổng công ty là
doanh nghiệp nhà nớc lớn, kinh doanh chân chính, tuân thủ đúng pháp luật nên
Tổng công ty cha bao giờ từ chối thanh toán khi chứng từ hợp lệ.