1
Luận văn
Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu xăng dầu
của Việt Nam
2
LỜI MỞ ĐẦU
Với một nền khoa học phát triển như vũ bão, ngày nay con người hoàn
toàn có khả năng tìm kiếm những nguồn năng lượng khác thay thế xăng dầu
như hạt nhân, năng lượng mặt trời…. Tuy nhiên , trong một vài thập kỷ tới
xăng dầu vẫn đóng vai trò là nguồn năng lượng chính. Cùng với sự phát triển
của nền kinh tế là sự gia tằg ở mức cao nhu cầu về nhiên liệu phục vụ cho sản
xuất, an ninh quốc phòng và tiêu dùng. Trong đó nhu cầu về xăng dầu và các
sản phẩm dầu mỏ tăng nhanh cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Xăng
dầu đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế của đất nước.
Chúng ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
do đó nhu cầu sử dụng xăng dầu là không thể thiếu được, đặc biệt là đối với
các ngành như giao thông vận tải , điện lực xây dựng, công nghiệp…. Mặt
khác, nền kinh tế việt nam trong những năm gần đây phát triển nhanh và ổn
định. Đời sống kinh tế vật chất của nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhu cầu về
phương tiện giao thông ngày một tăng nhanh. Do vậy nhu cầu về xăng dầu là
rất lớn, khoảng từ 8-9 triệu tấn/năm. Cho đến nay, Việt nam chưa có nhà
máy hoá dầu nên các sản phẩm về dầu mỏ phục vụ nhu cầu trong nước chủ
yếu phải nhập khẩu.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành ba chương với nội
thẳng nhất của thị trường xăng dầu thế giới với sự gia tăng mạnh mẽ và liên
tục giá dầu thô.
Năm 2000, cuộc khủng hoảng ở khu vực Trung Đông đã gia tăng áp lực
đối với thị trường dầu mỏ vốn đã bị căng thẳng, khi lượng dầu dự trữ ở mức
thấp nhất trước thời điểm mùa đông đến. Tháng 10 năm 2000, giá dầu đã tăng
tới mức đỉnh cao trong vòng 10 năm qua là 35 USD/thùng. Giá dầu tăng
mạnh làm cho giá cả tại thị trường Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản và ở nhiều nước
Châu á tăng theo. Tại nhiều nước nổ ra các cuộc biểu tình phản đối giá dầu
tăng cao, gây ảnh hưởng tới nền kinh tế các nước. Trước tình hình đó tháng
11 năm 2000 OPEC đã tăng hạn ngạch sản xuất dầu thêm 500.000 thùng/ngày
4
lên 26,70 triệu thùng/ngày. Đây là nguyên nhân đưa giá dầu trên các thị
trường thế giới giảm mạnh xuống còn 23,75 USD/thùng vào tháng 12 năm
2000.
Sáu tháng đầu năm 2001 giá xăng dầu trên thị trường thế giới tiếp tục
giảm. Đến quý II năm 2001 giá dầu giảm xuống còn 20 USD/thùng. Tuy
nhiên OPEC đã thực hiện việc cắt giảm sản lượng 2 triệu thùng/ngày trong hai
tháng đầu năm nay nhằm kiềm chế sự tụt giảm nhanh của giá dầu.
Có thể nói, nhu cầu xăng dầu của Việt Nam trong những năm tới vẫn phụ
thuộc nhiều vào thị trường xăng dầu thiế giới. Nó một cách khác là mọi biến
động của thị trường xăng dầu thế giới đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đối với nền kinh tế Viêt Nam cả ở tầm vĩ mô và vi mô.
Ở tầm vĩ mô: giá dầu tăng cao đưa lại thu nhập cao cho các nước sản xuất
dầu, nhưng có lợi nhất vẫn là các tập đoàn, các công ty dầu khí xuyên quốc
gia vì họ chi phối toàn bộ quá trình sản xuất dầu. Không phải ngẫu nhiên
trong năm 2000 có 10 tập đoàn dầu mỏ hàng đầu thế giới đã thu lãi gấp đôi,
trong đó hãng BP 9 tháng đầu năm 2000 lãi 8,6 triệu USD. Còn thiệt hại nhiều
nhất vẫn là các nước phải nhập khẩu dầu.
Với Việt Nam , để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước ( khoảng 8 triệu
16490 16335 16515 17695 23,85
Châu âu 14685
14840 15315 14755 14765 19,90
Trung Đông 5490 5550 5710 5980 5660 7,62
Trung và
Nam Mỹ
5080 5305 5380 5460 5947 8,01
Liên Xô (cũ)
4625 4735 4480 4515 6998 9,43
Châu Phi 2305 2440 2335 2405 4750 6,40
Thế giới 64925
67155 67605 67735 74190 100,00
Nguồn: Tạp chí thống kê năng lượng thế giới PBA Moco 2000
Khối lượng xăng dầu sản xuất trên thế giới liên tục gia tăng, Trong đó ba
khu vực Bắc Mỹ, Châu á, Châu Âu riêng năm 2000 đã cung cấp 66,51% tổng
khối lượng xăng dầu toàn thế giới. Trong những năm gần đây nhất, hầu hết
các khu vực đều nỗ lực trong việc tăng sản lượng dầu. Thêm vào đó sản lượng
khai thác dầu thô cũng liên tục gia tăng và đang đi vào giai đoạn đỉnh.
Việc nắm giữ nguồn tài nguyên dầu mỏ trên toàn thế giới của OPEC (gồm
13 thành viên) đã chi phối được quan hệ cung cầu. Năm 1973, OPEC chuyển
từ phòng thủ sang phản công với những quyết định đơn phương như tăng giá
dầu chuẩn lên 4 lần trong vòng một tháng (từ 1,8 USD/thùng lên 2,9
USD/thùng và 11,65 USD/thùng cùng năm đó), giảm sản lượng để thay đổi
cung cầu, cấm vận dầu mỏ từng phần để thực hiện mục tiêu chính trị trong
chiến tranh vùng vịnh….Cho đến nay OPEC điều chỉnh chiến lược của mình
và gần đây nhất vào cuối năm 2000 OPEC cố gắng giữ giá dầu ở mức 25-28
123,7 162,2 132,3 3,78
Khu vực
Châu Mỹ 1191,5 1220,3 1247,8 1265,9 1268,7 36,32
7
Chõu ỏ-
Thỏi
Bỡnh Dng
887,8 920,1 896,3 928,7 948,6 27,16
Chõu u 741,5 784,9 760,7 755,2 760,3 21,76
Liờn Xụ (c) 188/,4 186,7 182,1 182,0 189,65 5,42
Trung ụng 200,1 204,3 207,0 215,0 209,3 5,99
Chõu Phi 106,9 109,5 112,,7 115,6 116,0 3,32
Th gii 3316,2 3398,8 3406,,6 3462,4 3492,5 100
Ngun: Tp chớ thng kờ nng lng th gii PBA Moco nm 2000
Chỳng ta thy rng M l mt nc sn xut du ln nht th gii nhng
cng l nc nhp khu du thụ ln nht th gii. Nm 1999, khi lng
xng du nhp khu ca M 93,9 triu tn v nm 2000 l 97,54 triu tn,
ngun cung cp ch yu l t Trung ụng, Vờ-nờ-zuờ-la, Canada, Mexico v
Tõy u.
ng th hai v nhp khu du thụ l Tõy u vi s lng 87,5 triu tn
nm 1999 v nm 2000 l 89,3 triu tn. Cỏc vựng cung cp ch yu l Trung
ụng, Liờn Xụ (c), Bc Phi (Angờri, Libi, Nigeria).
Nht Bn l quc gia ng th ba trờn th gii v tiờu th xng du nhng
li khụng cú m du nờn lng xng du tiờu th trong nc u phi thụng
qua nhp khu. Nm1999 khi lng du thụ nhp khu ca Nht Bn l
214,9 triu tn, xng du l 49,3 triu tn v nm 2000 l 50,1 triu tn. Cung
cp xng du cho Nht Bn ch yu l Trung ụng, cỏc nc Chõu ỏ-Thỏi
Bỡnh Dng.
Ngun: Thi bỏo kinh t Vit Nam 1999-2000
3.3. Tỡnh hỡnh xut khu xng du trờn th gii
Trc tiờn phi k n Trung ụng, õy l vựng xut khu xng du ln
nht th gii. Nm 1999 xut khu 114,5 triu tn, nm 2000 t 115,3 triu
tn. Nhng nc xut khu ch yu l nhng nc trong khi OPEC nh A-
rp-xờ-ỳt, Iran, Irc, Cụ-oột. Th trng rng nht ca Trung ụng l M,
Tõy u, Nht Bn, Trung Quc, Trung v Nam M, Chõu ỏ v Chõu Phi.
Ngoi ra cũn mt lng nh xut khu sang Canada, Mexico, Australia.
Liờn Xụ (c): Vựng ny cú c im xut khu xng du hu nh thun
tuý. Nm 1999 xut khu t 61,8 triu tn, nm 2000 lờn ti 68,2 triu tn.
Do sn lng khai thỏc cao m nhu cu trong nc li thp nờn xut khu du
thụ v xng du rt sụi ng khu vc ny.Cỏc nc xut khu ch yu l
Nga, Kajactan, Ucraina, Belarut. Th trng chớnh l cỏc nc Tõy v Trung
u.
Chõu ỏ-Thỏi Bỡnh Dng: (tr Nht Bn, Trung Quc, Australia) õy l
khu vc ng th ba th gii v xut khu xng du. Thun li ca khu vc
ny l cú nhiu b bin vi nhiu cng nc sõu cho phộp tu cú trng ti ln
ra vo. ng u l Singapore-hin l trung tõm lc du ln thờn th gii vi
65% xut khu. Singapore ang tp trung sn xut xng du cú tr lng cao,
ỏp ng c tiờu chun bo v mụi trng ngt nghốo ca Nht Bn, M v
Biểu đố 2: Tình hình xuất khẩu xăng dầu của một số nớc và
khu vực năm 1999-2000
140
Đơn vị:triệu tấn
9
một số nước Tây Âu. Ngoài ra còn phải kể đến các nước xuất khẩu khác như
Vinapco 5%, Petechim 35%, công ty Thương mại Dầu khí Đồng Tháp 3%,
công ty xây dựng quân đội 1,4%, Petro Mêkông 0,9, Công ty xuất nhập khẩu
vật tư đường biển 0,5%, còn lại 2,7% là của PTSC, nhà máy điện Hiệp Phước
và công ty bột ngọt Vê đan.
Năm 2000 giá xăng dầu trên thị trường thế giới đã tăng liên tục với tốc độ
cao. Tại Singapore, giá xăng nhiên liệu DO, dầu FO tăng từ 58-90% so với
năm 1999. Điều này đã tác động không nhỏ tới kim ngạch nhập khẩu xăng
dầu của Việt Nam. Theo Tổng cục Thống kê, 11 tháng đầu năm 2000 lượng
xăng dầu nhập khẩu các loại đã đạt 7,718 triệu tấn, tăng gần 13% so Với cùng
kỳ năm 1999. Nhưng kim ngạch nhập khẩu đã tăng tới 91,5% lên 1,8 tỷUSD.
Giá vốn nhập khẩu xăng dầu tăng kỷ lục dẫn đến giá xăng dầu trong nước
cũng tăng theo. §å thÞ 1: Khèi lîng x¨ng dÇu nhËp khÈu cña ViÖt Nam 1996-2001
5899
5958Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 1999-2000
2. Tình hình giá cả xăng dầu trong nước
Trước tình hình trên, để đảm bảo hoạt động của các ngành kinh tế trong
nước diễn ra bình thường, không bị tác động đột ngột của giá xăng dầu thế
giới tăng cao, năm 2000 Thủ tướng Chính phủ đã cho phép bốn lần điều chỉnh
giá bấn tối đa xăng dầu theo nguyên tắc: Nhà nước gánh chịu một phần bằng
cách giảm thuế thu nhập đối với xăng dầu, còn lại doanh nghiệp chịu một
phần và người tiêu dùng cùng chia sẻ (tăng giá bán có mức độ). Kết quả là
đến cuối năm 2000 giá bán lẻ xăng dầu tăng 800 đ/lit (tăng 118,6%) lên
5100đ/lit; dầu DO tăng 400đ/lit (11,1%) lên 4000 đ/lit; dầu hoả tăng 100đ/lit
(2,7%) lên 3800 đ/lit; dầu Mazut tăng 700 đ/kg (38,9%) lên 2500 đ/kg. Theo
đánh giá của các nhà chuyên môn, năm 2001 cùng với sự phát triển nhanh
hơn của nền kinh tế, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu cũng tăng, nhập khẩu xăng dầu
sẽ tăng từ 7- 8% so với năm 2000. Mặc dù có nhiều dự kiến cho rằng giá xăng
dầu trên thị trường thế giới năm 2001 sẽ giảm so vvới mức cao kỷ lục của
năm 2000 nhưng vẫn còn chứa đựng nhiều nhân tố bất ổn và sẽ tiếp tục duy
trì ở mức cao.
Để đảm bảo hoạt động bìnhn thường cho các doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu , đồng thời giảm bớt khó khăn cho ngân sách Nhà nước trong điều
kiện giá xăng dầu duy trì ở mức cao, năm 2001 Nhà nước sẽ tiếp tục điều
chỉnh tăng giá xăng dầu khoảng 15% so với cuối năm 2000. Những bất ổn về
xăng dầu trên thị trường thé giới đã gây ra không ít khó khăn cho các doanh
13
thời sắp xếp hàng hoá. Loại L/C thường là L/C không huỷ ngang (Irrivocable
L/C), trả chậm 30 ngày. Trên đơn ghi rõ: tên người mở L/C là Petrolimex; tên
người hưởng lợi (tức người bán), trị giá L/C là 100% trị giá hợp đồng. Chứng
từ xuất trình gồm:
+Hoá đơn thương mại
+Hối phiếu
+Vận đơn sạch đã bốc hàng
+Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O)
+Giấy chứng nhận số lượng và trọng lượng của cơ quan giám định độc
lập
+Giấy chứng nhận bảo hiểm (nếu có)
Mua bán xăng dầu quốc tế, trong quá trình vận chuyển người chuyên chở
có thể mua bán xăng dầu dọc đường. Vì vậy, nếu không xuất trình vận đơn
gốc và các chứng từ giao hàng khác thì người bán phải phát hành và xuất trình
thư bảo lãnh của mình: LOI (Sell’s letter of Indeminity), đồng thời cũng xuất
trình LOI cho ngân hàng để thay thế tạm thời vận đơn gốc hoặc các chứng từ
khác. Trong thư này người bán phải ghi rõ bảo đảm quyền sở hữu đó cho
người mua là Tổng công ty và cam kết họ sẽ cố gắng cung cấp hàng. Thời
gian xuất trình chứng từ trong vòng 21 ngày sau ngày vận đơn nhưng trong
thời hạn hiệu lực của L/C. Việc mở L/C chỉ áp dụng trong trường hợp thanh
toán bằng L/C.
2. Thuê tàu chở hàng
Do nhập khẩu theo điều kiện FOB nên Tổng công ty luôn giành quyền
vận tải. Phần lớn Tổng công ty dùng tầu của mình để vận chuyển dầu nhập
khẩu. Hiện nay Tổng công ty đã có một tầu vận tải 30.000 DWT, một tầu
7.000 DWT, ba tầu trọng tải 23.000 DWT. Ngoài ra Tổng công ty còn thuê
tầu chuyến thông qua môi giới theo hình thức thuê ướt nhưng trường hợp này
rất ít do hiệu quả rất thấp. Thực tế cho thấy Tổng công ty chỉ nhập FOB với
phần kết quả kiểm hoá.
Kiểm tra số lượng được tiến hành như sau:
15
- Đo chiều cao mức dầu trong mỗi khoang chứa hàng. Mỗi khoang phải
đo 3 lần, lấy số trung bình cộng của 3 lần đo.
- Căn cứ vào bảng barem dung tích của từng khoang tra ra dung tích
dầu chứa trong khoang ứng với chiều cao của mức dầu.
- Đo nhiệt độ của từng khoang bằng nhiệt độ kế: Thả nhiệt độ kế xuống
khoang dầu tới độ sâu cần thiết và ngâm trong khoảng thời gian từ 15 đế 30
phút. Khi lấy nhiệt kế lên thì đọc ngay để tránh ảnh hưởng của gió và nhiệt
độ môi trường. Nếu nhiệt độ môi trường khác biệt trên 6 độ so với trong bồn
thì đo ít nhất hai lần. Từ dung tích và nhiệt độ dầu từng khoang suy ra được
dung tích dầu từng khoang ở điều kiện chuẩn 15 độ.
Kiểm tra về chất lượng được tiến hành theo phương pháp lấy mẫu. Mẫu
được lấy theo tỷ lệ: 1 trên cùng, 2 ở giữa, 1 ở đáy. Có tỷ lệ này là do thực tế
xăng dầu có chất lượng khác nhau thì phân loại cũng khác nhau. Lớp xăng
dầu có khối lượng riêng lớn thì nằm chìm xuống dưới, lớp có khối lượng
riêng nhỏ thì nổi lên trên.Tỷ lệ 1:2:1 như trên được trộn với nhau sẽ đảm bảo
được tính đại diện của mẫu. Mẫu của các khoang được trộn chung với nhau
tạo thành mẫu của lô hàng. Mẫu này được mang đi phân tích để xác định kết
quả.
Thời gian kiểm tra hàng hoá thường quy định là 6 giờ. Sau khi kiểm tra
song Vinacotrol sẽ ghi kết quả kiểm tra vào chứng thư giám định và ký tên ,
đóng dấu.Nếu không có sai sót lớn về số lượng hoặc chất lượng Tổng công ty
sẽ rút xăng dầu ra khỏi tầu hàng và bơm lên bể chứa nhập khẩu để kinh doanh
trong nước. Nếu có sai sót lớn Tổng công ty phải lập các chứng từ để khiếu
nại. Trong trường hợp phía nước ngoài không công nhận kết quả giám định
của Vinacontrol, Tổng công ty phải mời S.G.S (Societe General De
Surveillance) là công ty giám định của Thuỵ Sỹ được quốc tế công nhận đến
phóng hàng nhập khẩu để kinh doanh trong nước.
6. Thanh toán cho người bán.
Hợp đồng nhập khẩu xăng dầu thường qui định thanh toán trong vòng 30
ngày kể từ ngày vận đơn.
17
- Nếu thanh toán bằng L/C: Trên lý thuyết ngân hàng phát hành là
người ký nhận trả tiền hối phiếu nhưng thực tiễn tại Tổng công ty xăng dầu lại
khác. Trình tự thanh toán diễn ra như sau:
+ Ngân hàng nhận được chứng từ và kiểm tra chứng từ.
+ Ngân hàng chuyển toàn bộ chứng từ cho Tổng công ty để Tổng công ty
xem xét chấp nhận thanh toán hay không. Nếu chứng từ hợp lệ, Tổng công ty
sẽ ký chấp nhận thanh toán vào hối phiếu, khi đến hạn thanh toán Tổng công
ty sẽ trả tiền cho người bán qua Ngân hàng.
Nếu chứng từ không hợp lệ: chứng từ có sai sót lớn như vận đơn không
sạch, sai sót khác lớn về số lượng, chất lượng, đơn giá, trị giá, thì Tổng công
ty từ chối thanh toán. Nếu chứng từ có sai sót nhưng khôing phải là những sai
sót như trên, Tổng công ty sẽ chấn nhận thanh toán vào hối phiếu.
Như vậy, việc quyết định thanh toán hay không phụ thuộc vào Tổng công
ty chứ không phải vào ngân hàng phát hành. Nếu ngân hàng tự quyết định
thanh toán thì sẽ có rủi ro lớn vì Tổng công ty không ký quĩ mở L/C. Một số
vận đơn ghi theo lệnh của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam chứ không theo
lệnh của ngân hàng nên hàng hoá trên vận đơn thuộc quyền sở hữu của Tổng
công ty.
Các yếu tố trên cho thấy ngân hàng sẽ ở thế bất lợi nếu ngân hàng đứng ra
thanh toán cho lô hàng thuộc quyền sở hữu của Tổng công ty trong khi không
chắc chắn có thu được tiền từ Tổng công ty hay không.
Vậy câu hỏi đặt ra là: Nếu chứng từ người bán xuát trình hợp lệ nhưng
Tổng công ty không chấp nhận thì Ngân hàng có phải chấn nhận thanh toán
trên hối phiếu không? Theo luật, ngân hàng phát hành L/C sẽ phải ký chấp
tác đầu tư, liên doanh, hỗ trợ tài chính và đào tạo. Chính vì vậy, cho đến nay
Tổng công ty đã thiết lập một danh mục lớn các nhà cung cấp xăng dầu đáng
tin cậy về nhiều khía cạnh, danh mục thoả mãn được các yếu tố an toàn, đa
dạng và tránh độc quyền trong việc bán hàng cho Tổng công ty.
Trong quan hệ buôn bán các sản phẩm xăng dầu Tổng công ty chú trọng
vào việc xiết chặt quan hệ với các hãng tin cậy (bên cạnh việc ký hợp đồng
dài hạn). Tương ứng với các khu vực thị trường tại Đông Nam Á (chủ yếu là
19
Singapore) có các hãng cung cấp nổi tiếng: SHEll, ESSO, TOTAl,
HINGLEOIL, KUO OIL . . cung cấp Diesel, xăng cao cấp và Mazut, tại
Trung Đông là công ty xăng dầu quốc gia Cô-oét cung cấp Diesel (KPC)
chuyên cung cấp Diesel, dầu bay, dầu hoả, nhà cung cấp lớn nhất từ vùng
Đông Bắc Á là công ty hoá dầu quốc gia Trung Quốc (SINIPEC) cung cấp
xăng thông dụng với khối lượng nhỏ Diesel.Thị trường nhập khẩu của Tổng
công ty xăng dầu Việt nam ổn định và thuận lợi. Nhìn chung có năm khu vực
chính cung cấp sản phẩm cho Tổng công ty là Singapore, Trung Đông, Trung
Quốc, Đông Bắc Á, và Đông Âu. Trong đó mỗi vùng có một ưu thế nhất định,
đặc biệt thị trường Singapore là có triển vọng nhất.
Trong danh mục các nhà cung cấp của Tổng công ty bao giờ cũng gồm
chủ yếu những công ty lớn, thường xuyên có uy tín được sàng lọc kỹ càng
qua thực tiễn mua bán, đồng thời vẫn có chỗ đứng cho các công ty vãng lai
tham gia trên cơ sở đảm bảo được các yêu cầu chặt chẽ của Tổng công ty.
Trong những năm gần đây Tổng công ty cũng đã thiết lập quan hệ với các bạn
hàng mới như YOKONG PETRONAS, KPC và thị trường cũng được mở
rộng sang các nước xa hơn như Thái Lan, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc.
1.2. Kết quả nhập khẩu xăng dầu trong thời gian qua
1.2.1. Kết quả nhập khẩu theo khu vực thị trường.
Đến nay Tổng công ty xăng dầu Việt Nam đã có một hệ thống tổ chức
hoạt động kinh doanh xăng dầu lớn mạnh đê phục vụ nhu cầu quốc phòng,
lượng
(MT)
Tỷ
tr
ọng
(%)
Khối
lượng
(MT)
Tỷ
trọng
(%)
Singapore 1980000
47.09
1986000
45.47
2150000
47.78
2670000
48.55
Trung Đông
1030000
18.73
Đông Bắc á
43000
1.02
150000
3.43
160000
3.56
404000
7.35
Đông Âu 122000
2.90
277000
6.34
-
-
- Nguồn xăng dầu nhập khẩu của Tổng công ty chủ yếu từ Singapore:
Thông qua công ty Shell, ESSO, KUO, HINLEONG . . cung cấp phần lớn
khối lượng Diesel, xăng cao cấp, Mazut. Năm 1997 nhập 1980 triệu tấn, năm
1998 nhập nhập tăng hơn là 6.000 MT (tương đương 0,30%) so với năm
1997 Từ năm 1999 đến năm 2000 khối lượng nhập khẩu từ thị trường này
liên tục tăng lên.
0
500000
1000000
1500000
2000000
2500000
3000000
1997 1998 1999 2000
§¬n vÞ:MT
Singapore
Trung §«ng
Trung Quèc
§«ng B¾c ¸
§«ng ¢u
21
- Thị trường Trung Đông: năm 1997 Tổng công ty nhập khẩu
22
2.Tình hình xuất khẩu:
2.1. Phân tích thị trường xuất khẩu:.
Vào thập kỷ 90, cùng với những thay đổi về mặt chính trị, mối quan hệ
giữa các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp của Lào, Campuchia đã
được cải thiện. Nhờ vậy Tổng công ty xăng dầu Việt Nam đã trở thành nhà
cung cấp chính cho hai thị trường này trong những năm vừa qua.
Cũng trong những năm 1990, Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới,
hoạt động kinh tế đối ngoại được mở rộng, khối lượng xuất nhập khẩu tăng,
các nhà đầu tư nước ngoài tăng cường đầu tư vào Việt Nam, hình thành khu
chế xuất, doanh nghiệp chế xuất… Từ đó hình thành thị trường xăng dầu cung
cấp cho tư bản nước ngoài, khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất.
Từ 1/6/1997 Hồng Kông được trao trả cho Trung Quốc. Sự kiện đó
phần nào giúp Việt Nam trở thành cửa ngõ trao đổi, buôn bán với miền duyên
hải phía nam Trung Quốc và thị trường tái xuất xăng dầu sang Trung Quốc
bắt đầu được hình thành.
Có thể nói cho đến nay Tổng công ty xăng dầu Việt Nam đã có những
thành công đáng kể trong việc chiếm lĩnh và mở rộng thị trường tái xuất với
bốn khu vực thị trường chính, hoạt động tái xuất của Tổng công ty ngày càng
được đẩy mạnh, góp phần không nhỏ vào việc tăng cường vị thế của Tổng
công ty trên thị trường trong và ngoài nước.
Mặc dù vậy thị trường tái xuất xăng dầu đã và đang tồn tại những yếu tố
cạnh tranh quyết liệt, thị phần tại một số khu vực đang ngày càng bị thu hẹp.
Phân tích tình hình từng thị trường sẽ cho thấy rõ hơn điều này.
2.1.1. Thị trường Campuchia.
Tương tự như thị trường Việt Nam, Campuchia chưa phát triển công
nghiệp hoá dầu, toàn bộ khối lượng xăng dầu tiêu thụ trong nước đều từ nhập
khẩu. Do nội chiến kéo dài, nền kinh tế chậm phát triển, nhu cầu tiêu thụ xăng
dầu chỉ thực sự tăng trưởng từ năm 1993 khi Liên hiệp quốc tham gia gìn giữ
hoà bình tại Campuchia.
Nam. Các hãng xăng dầu quốc tế tổ chức hoạt động kinh doanh tại
Campuchia như TOTAL, CALTEX, PETRONAS trước đây thường mua một
phần của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam nay cũng chuyển dần sang nhập
thẳng về cảng Sihanoukville.
Thứ hai: do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu á, giá thế
giới giảm xuống mức kỷ lục làm giảm kim ngạch tái xuất. Đồng Bath mất giá
84010
37812
16211
15623
168410
162632
116723
115742
6132
3520
6258
2754
21448
21056
18437
9678
0
27871
71803
281997
227018
187499
217600
0
Đơn vị tính: MT
Loại 1997 1998 1999 2000
Xăng 12578
10587
12641
14517
DO 13223
13230
16728
19113
Jet 4199
3283
2631
3070
Tổng KHẩI
LưẻNG
31997
mọi thị trường lớn mang lợi ích kinh tế đáng kể, tạo được việc làm, tận dụng
cơ sở vật chất sẵn có mà không cần đầu tư mới.
Mặt hàng tái suất chính sang thị trường Trung Quốc và Hồng Kông của
Tổng công ty là DO với khối lượng như sau: năm 1997 là 28.000 MT; năm
1998: 170.000MT; năm1999:310.000MT; năm 2000: 238.000 MT.
Từ việc manh mún tái xuất trong năm 1996, 1997 với sản lượng nhỏ đến
nay Tổng công ty đã phát triển thị trường này trở thành một trong những thị
trường tái suất khẩu chính. Sản lượng tái xuất mặt hàng DO của Tổng công ty
sang thị trường Trung Quốc-Hồng Kông ngày một tăng và tăng rất nhanh.
Năm 1999 đạt 310.000 tăng xấp xỉ 183% so với năm 1998. Nhưng đến năm
2000 sản lượng tái xuất lại giảm 72.000 tấn. Do các yếu tố cạnh tranh tiềm ẩn
từ khu vực quốc tế như Đài Loan, hoặc các khu kinh tế của Trung Quốc.
2.1.4. Thị trường tàu biển nước ngoài
Cùng với sự gia tăng các hoạt động kinh tế đối ngoại, trao đổi hàng hoá,
đầu tư nước ngoài trong đó có việc hình thành các khu chế xuất và doanh
nghiệp chế xuất đã tạo ra một thị trường tiêu thụ xăng dầu của Tổng công ty.
Mảng hoạt động này tuy không lớn nhưng cũng chiếm một phần đáng kể
trong tổng doanh số và lợi nhuận tái xuất.
Bảng 9: Khối lượng tái xuất vào khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất và
tư bản nước ngoài.
Đơn vị: MT.
Mặt hàng
1997 1998 1999 2000