TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
D E
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 31(2005-2009)
Đề tài:
TỘI NHẬN HỐI LỘ TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS. Phạm Văn Beo Lê Văn Giác
Bộ môn: Tư Pháp MSSV: 5054737
Lớp: Luật Tư Pháp 1-K31
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
................................................................................................................. /.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
1.6.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội nhận hối lộ trước Cách
mạng tháng Tám............................................................................................... 9
1.6.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội nhận hối lộ sau Cách
mạng tháng Tám............................................................................................. 12
1.6.3 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội nhận hối lộ trong Bộ
luật hình sự năm 1985 .................................................................................... 13
1.6.4 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội nhận hối lộ trong Bộ
luật hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành) ................... 14
CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI NHẬN HỐI LỘ TRONG LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM........................................................................................................ 16
2.1 Các dấu hiệu cấu thành tội nhận hối lộ........................................................... 17
2.1.1 Dấu hiệu về mặt chủ thể của tội nhận hối lộ ....................................... 17
2.1.2 Dấu hiệu về mặt khách quan của tội nhận hối lộ................................ 20
2.1.2.1 Hành vi khách quan...................................................................... 20
2.1.2.2 Dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội nhận hối lộ..... 23
2.1.3 Dấu hiệu về mặt khách thể của tội nhận hối lộ ................................... 24
2.1.4 Dấu hiệu về mặt chủ quan của tội nhận hối lộ.................................... 25
2.2 Các trường hợp phạm tội cụ thể...................................................................... 25
2.2.1 Phạm tội nhận hối lộ thuộc khoản 1 Điều 279 .................................... 25
2.2.2 Phạm tội nhận hối lộ thuộc khoản 2 Điều 279 .................................... 27
2.2.3 Phạm tội nhận hối lộ thuộc khoản 3 Điều 279 .................................... 34
2.2.4 Phạm tội nhận hối lộ thuộc khoản 4 Điều 279 .................................... 35
2.2.5 Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội nhận hối lộ...................... 38
2.3 So sánh tội nhận hối lộ với một số tội phạm về chức vụ khác trong Bộ luật
hình sự Việt Nam hiện hành................................................................................... 39
2.3.1 Tội nhận hối lộ với tội tham ô tài sản................................................... 39
2.3.2 Tội nhận hối lộ với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
........................................................................................................................... 40
2.3.3 Tội nhận hối lộ với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến
người khác để trục lợi..................................................................................... 40
quyền hiện nay mà không có đầy đủ phẩm chất đạo đức của nhà cầm quyền thì những
gì mà Đảng và Nhà nước đặt ra sẽ không thể thực hiện được, không những thế mà nó
còn làm suy giảm lòng tin và sự tín nhiệm của người dân đối với Đảng và Nhà nước,
đe dọa đến an ninh, ổn định chính trị - xã hội của một quốc gia.
Trên thực tế hiện nay, một trong những vấn đề làm suy thoái về phẩm chất, đạo
đức của những cán bộ, đảng viên có chức có quyền đó là nạn tham nhũng, hối lộ. Đó
cũng chính là đề tài mà không ít quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm trong quá
trình vận hành đất nước của mình. Tại Việt Nam, trong những năm qua nạn tham
nhũng, hối lộ đã nổi lên như một vấn nạn trầm trọng và đang trở thành tâm điểm của
công luận. Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ quyền hạn, hối lộ, tham ô,
hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi. Tham nhũng, hối lộ là một hiện tượng
xã hội tiêu cực xuất hiện từ rất lâu. Hiện tượng này diễn ra ngày càng nghiêm trọng và
phổ biến, tính chất phức tạp, thủ đoạn tin vi và có nguy cơ ngày càng lớn. Hậu quả của
tham nhũng, hối lộ thể hiện ở số lượng tài sản của nhà nước bị chiếm đoạt, thất thoát,
số đối tượng vi phạm pháp luật trong đó có nhiều cán bộ, công chức là lãnh đạo cấp
cao cũng đã có hành vi tham nhũng, hối lộ chiếm đoạt tài sản của nhà nước. Đó là nhân
tố ảnh hưởng đến nền kinh tế chính trị, gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy giảm uy tín
của Đảng và Nhà nước trước nhân dân, làm thoái hoá bản chất của một số cán bộ công
chức.
Vì vậy, khi nhận thức được tác hại và nguy cơ của tội tham nhũng, hối lộ nên
ngay từ Đại hội Đảng lần thứ VII, Đảng ta đã xác định tham nhũng là một trong bốn
nguy cơ đối với chế độ xã hội chủ nghĩa trên thế giới nói chung, và ở Việt Nam nói
riêng. Nghị quyết hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã đánh giá “Tình
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 1 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong hệ
thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa đến sự sống
còn của chế độ ta”. Trong nhiều văn kiện Hội nghị của Đảng và Nhà nước ta cũng đã
chống “tội tham nhũng” nói chung và “tội nhận hối lộ” nói riêng.
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 2 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài “Tội nhận hối lộ” này được nghiên cứu trên cơ sở của Bộ luật hình sự
Việt Nam hiện hành, tại Điều 279. Và những tài liệu trên phạm quy pháp luật của Việt
Nam có liên quan đến tội tham nhũng, hối lộ.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Do kết cấu của đề tài luận văn nên ngưòi viết dựa vào những phương pháp
nghiên cứu như: phương pháp phân tích câu chữ trong luật viết, phương pháp liệt kê,
phương pháp quy nạp, diễn dịch, phương pháp chứng minh và so sánh….Trong các
phương pháp trên thì phương pháp phân tích câu chữ giữ vai trò quan trọng nhất trong
tất cả các phương pháp.
5. Cơ cấu của đề tài
Đề tài này gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Trong phần nội dung gồm có ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về tội nhận hối lộ
Chương 2: Các quy định về tội nhận hối lộ trong Bộ luật hình sự Việt Nam
hiện hành
Chương 3: Thực trạng về tội nhận hối lộ ở Việt Nam hiện nay
Mặc dù trong quá trình nghiên cứu đã có sự cố gắng của bản thân, và sự hướng
dẫn nhiệt tình của giảng viên, nhưng do trình độ, khả năng nghiên cứu có hạn nên chắc
chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và những khuyết điểm của luận văn. Rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện
hơn. Xin chân thành cảm ơn TS. Phạm Văn Beo đã hướng dẫn tận tình cho tôi hoàn
thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Lê Văn Giác
chức vụ ở Điều 277. Đây là khái niệm khái quát được các dấu hiệu chung nhất đặc
trưng cho một nhóm tội phạm cụ thể, căn cứ vào các dấu hiệu khách thể, chủ thể và các
yếu tố lợi dụng chức vụ, quyền hạn.
Theo Điều 277 Bộ luật hình sự 1999 quy định “các tội phạm về chức vụ là
những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức
vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ”. Việc quy định tội phạm về chức vụ là cần
thiết và hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan trong đấu tranh phòng chống các tội
phạm về chức vụ. Khái niệm này đánh dấu một bước phát triển mới của luật hình sự và
khoa học luật hình sự nước ta. Nó có ý nghĩa lớn về mặt phương pháp luận, là cơ sở
cho việc nghiên cứu những vấn đề khác (khách thể, chủ thể, các dấu hiệu khách quan,
chủ quan) của tội phạm về chức vụ, những dấu hiệu đặc trưng cho loại tội phạm này.
Đồng thời khái niệm này đã góp phần giải quyết được những vấn đề trong luật, giúp
cho các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự một
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 4 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
cách đúng đắn, có cơ sở tránh sự nhằm lẫn tội phạm về chức vụ với các hành vi vi
phạm pháp luật khác của người có chức vụ, quyền hạn. Như vậy, việc quy định khái
niệm tội phạm về chức vụ ở Điều 277 Bộ luật hình sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
quan trọng
1.2 Khái niệm về tội nhận hối lộ
Hiện nay, tham nhũng - hối lộ được xác định là căn bệnh mang tính phổ biến
nhất của quyền lực. Nó xuất hiện trong tất cả cơ cấu của tổ chức quyền lực, đó là lợi
dụng công quyền nhằm mục đích vụ lợi cá nhân hay cho những nhóm lợi ích cục bộ.
Theo quy định tại Điều 279 Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành thì tội nhận hối
lộ được định nghĩa như sau: “Nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn
đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận tiền
hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào, để làm
hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.”
Ở nước ta luôn coi hối lộ là một trong những “quốc nạn” cần phải chủ động
1.4 Nguyên nhân, điều kiện của tội nhận hối lộ
1.4.1 Nguyên nhân khách quan của tội nhận hối lộ
Nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân bên ngoài tác động đến người
phạm tội, tạo điều hiện thuận lợi thúc đẩy những chủ thể này thực hiện hành vi phạm
tội. Đó là những nguyên nhân và điều kiện kinh tế, xã hội, cơ chế quản lý của Nhà
nước.
Về kinh tế - Xã hội: Kinh tế bị mất cân đối, nghèo nàn lạc hậu, chưa thoát khỏi
hậu quả chiến tranh tàn phá. Về xã hội còn nhiều vấn đề cần giải quyết như nạn thất
nghiệp ngày càng tăng, sự phân hóa giàu và nghèo trong xã hội ngày càng sâu sắc, cơ
sở hạ tầng lạc hậu, chưa có sự phát triển đồng bộ giữa các vùng, hiện tượng mất dân
chủ, vi phạm trật tự kỷ cương, pháp chế xã hội chủ nghĩa ngày càng gia tăng…Bên
cạnh đó, chúng ta đang đứng trước một nền kinh tế xã hội còn thấp kém cùng nhiều
nhược điểm, khuyết tật do xây sựng mô hình xã hội chủ nghĩa cũ. Ngày nay cơ chế
quản lý xã hội kiểu cũ đã dần xóa bỏ nhưng cơ chế quản lý mới chưa được hình thành
một cách đồng bộ. Với nền kinh tế như hiện nay, thị trường hàng hoá phát triển đa
dạng và giá cả tăng vọt, hàng hoá tràn ngập trên thị trường và xã hội phát triển ngày
càng cao thì nhu cầu ngày càng tăng. Nhưng chế độ đãi ngộ, mức lương cho cán bộ,
công chức còn thấp gây ra những khó khăn về kinh tế cho các gia đình cán bộ, công
chức… làm suy giảm mức sống vật chất và tinh thần. Sống trong cảnh thiếu thốn, khó
khăn như thế, một bộ phận cán bộ Đảng viên đã sa sút tinh thần, dễ dàng phát sinh
những tâm lý tiêu cực, chủ nghĩa cực đoan, sự tha hóa trong lối sống đạo đức, lòng
tham ở mỗi người bắt đầu trỗi dậy, cùng vói sự buông lỏng trong việc quản lý, giáo
dục, cùng với nhiều yếu tố khách quan khác tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện
tội phạm.
Về cơ chế quản lý cán bộ: Đa phần cán bộ ở nước ta chưa được đào tạo hoặc đã
được đào tạo nhưng còn ở trình độ thấp, chúng ta chưa xây dựng kịp một đội ngũ cán
bộ cho phù hợp với nhu cầu đổi mới. Cán bộ của ta vừa là những người của cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, vừa lại thực hiện nhiệm vụ quản lý mới khó khăn nên chưa
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 6 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
trạng là nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội, sao cho chúng không còn tồn tại nữa.
1.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tội nhận hối lộ
Trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng
trong công cuộc đổi mới, kinh tế - xã hội không ngừng phát triển, trật tự an nhinh xã
hội được giữ vững, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, chúng ta
vẫn đang đứng trước những nguy cơ và thách thức lớn. Tình hình tham nhũng nói
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 7 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
chung và tội nhận hối lộ nói riêng diễn ra ngày một phức tạp ở nhiều lĩnh vực, các vụ
án được phát hiện và đưa ra xử lý ngày càng tăng với tính chất nghiêm trọng, thể hiện
số lượng tài sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, thất thoát, số lượng vi phạm pháp luật
ngày càng nhiều. Trong đó có nhiều cán bộ lãnh đạo đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn
của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác bất hợp pháp để bao che cho
kẻ phạm tội, làm thất thoát đến tài sản của Nhà nước, của tổ chức xã hội, xâm phạm
đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước
đối với quần chúng nhân dân.
Nếu trước đây các vụ án tham nhũng, hối lộ thường xảy ra với quy mô nhỏ thì
trong tình hình hiện nay tội pham này xảy ra với quy mô lớn, mang tính tổ chức, có sự
liên kết chặt chẽ. Thủ đoạn phạm tội tham nhũng, hối lộ rất đa dạng và tinh vi. Bọn tội
phạm đều lợi dụng những sơ hở trong chính sách pháp luật để phạm tội, gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng đến cơ chế hoạt động đúng đắn của
cơ quan Nhà nước. Nhận thức được sự nguy hiểm của tội nhận hối lộ Đảng, Nhà nước
cùng toàn thể nhân dân có nhiều cố gắng trong việc phát hiện, đấu tranh phòng ngừa
tội nhận hối lộ. Nhưng tình hình thực tế cho thấy việc xử lý các tội nhận hối lộ chưa
được bao nhiêu, vẫn mang tính nhỏ lẽ, chưa thật sự là cuộc đấu tranh tương xứng với
mức độ nguy hiểm của tội phạm này. Từ thực tế đó, nghiên cứu tội nhận hối lộ nhằm
mục đích đưa ra những giải pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với loại tội
phạm này, nhằm góp phần đẩy lùi và hạn chế đến mức thấp nhất các tội phạm về tham
nhũng, hối lộ.
năm, đến năm 1230 Trần Thái Tông đã ban hành bộ luật mới với tên Quốc triều Hình
luật, pháp luật nước ta trong thời kỳ này đã từng bước được hình thành và phát triển.
Mặc dù, trong thời gian dài chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc nhưng pháp luật
Việt Nam vẫn giữ được nét riêng.
Pháp luật hình sụ Việt Nam thời nhà Hồ từ cuối thế kỷ XIV, Hồ Quý Ly phế
truất vua Trần lập nên nhà Hồ, pháp luật hình sự nhà Hồ nghiêm khắc hơn pháp luật
của thời kỳ trước rất nhiều, nhưng do triều đại nhà Hồ tồn tại trong khoảng thời gian
ngắn chỉ được 7 năm (từ năm 1400 – 1407) nên chưa ban hành bộ luật hoàn chỉnh
trong thời gian này.
Sau các cuộc khởi nghĩa do nhà Trần lãnh đạo bị thất bại, Lê Lợi dưới sự giúp
đỡ của Nguyễn Trãi đã lãnh đạo nhân dân giành chiến thắng. Sau khi lên ngôi (thế kỷ
thứ XV), Lê Thái Tổ hạ lệnh “từ xưa đến nay, việc trị nước phải có pháp luật, không có
pháp luật thì sẽ loạn”. Vì thế nhà Lê rất coi trọng việc xây dựng pháp luật. Vua Lê Thái
Tông cho rằng xây dựng pháp luật được tiến hành thêm với mộ số quy tắc nhằm xét xử
các vụ kiện cáo và một số qui định cấm nạn nhận hối lộ. Đáng chú ý, hoạt động pháp
luật nói chung, lập pháp hình sự nói riêng của nhà Lê được tiến hành thành công nhất
là dưới thời vua Lê Thánh Tông, cũng ở chính triều đại Lê Thánh Tông đã cho ra đời
Quốc triều hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) năm 1483 và Hồng Đức Thiện
Chính Thư là văn bản có chứa quy phạm pháp luật hình sự. Quốc Triều Hình luật đã
quy định rất chặt chẽ về hành vi tham nhũng, hối lộ và các biện pháp chế tài rất nghiêm
khắc tại Điều 137 Bộ luật Hồng Đức quy định các tội về chức vụ “Những kẻ đến cầu
cạnh quan chư tư việc trái pháp luật và kẻ vì người khác mà đến cầu cạnh thay đều xử
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 9 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
tội biểm hay phạm”. Tội nhận hối lộ được quy định tại điều 138 với khung hình phạt
hết sức nghiêm khắc: “Quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ một quan đến chín
quan thì xử tội biếm hay bãi chức, từ mười quan đến mười chín quan thì xử tội đồ hay
lưu, từ hai mươi quan trở lên thì xử tội chém. Những bậc cung thần, quý thần, cùng
những người có tài được dựa vào hạng biếm nghị mà ăn hối lộ từ một quan đến chín
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 10 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược năm 1858, Pháp thực hiện chính sách “chia để
trị”, chia đất nước Việt Nam thành ba sứ với ba chế độ chính trị khác nhau. Nam kỳ là
đất nước thuộc địa, không còn phụ thuộc triều đình Huế; Bắc kỳ là đất nước “nửa bảo
hộ” đặt dưới quyền cai trị của viên thống sứ người Pháp; ở Nam kỳ triều đình bù nhìn
vẫn được duy trì với danh hiệu “chính phủ Nam Triều”, nhưng quyền hành thực tế nằm
trong tay viên khâm sứ người Pháp là chủ tịch Hội đồng bảo hộ Trung kỳ.
Ở Nam Kỳ theo Điều 11 sắc luật ngày 25/7/1884 Bộ luật Gia Long được áp
dụng đối với người phạm tội là người bản xứ, trong sắc lệnh ngày 16/3/1890 thực dân
pháp quy định từ thời điểm này, các tòa án ở Nam kỳ phải áp dụng luật Hình sự của
Pháp thay cho Bộ luật Gia Long, ngoại trừ trường hợp luật Hình sự của Pháp chưa dự
liệu được. Ở Bắc Kỳ, nghị định ngày 02/12/1921 của toàn quân Đông Dương đã cho áp
dụng luật hình An Nam. Còn ở Trung Kỳ, sắc lệnh số 43 ngày 31/7/1893 của Bảo Đại
và Hoàng Việt luật được ban hành.
Trong luật hình An Nam gồm 40 Chươmg với 233 Điều. Ở Chương XI quy định
về những người chức dịch phạm tội, trong đó quy định tội nhận hối lộ tại Điều 71:
“Những người chức dịch nhận những của lót hay nhận lời hứa của người ta, hay là lễ
trình để làm những việc thuộc về chức phận mình phải làm, mà việc ấy chiếu lệ không
được lấy tiền. Hay là đã nhận tiền, nhận lời mà bỏ không làm phận sự mình nên làm,
xét ra quả có chứng cớ, phải phạt giam từ 1 đến 5 năm và phạt bạc từ 80 đồng đến 120
đồng, lại phải cấm quyền công dân”
Như vậy, trong quá trình dựng nước và giữ nước, pháp luật của Nhà nước
phong kiến Việt Nam quy định những hành vi tham nhũng, hối lộ với những hình phạt
rất nghiêm khắc để trừng trị tội phạm này. Điều đó cho thấy tội tham nhũng, hối lộ là
lội tội phạm rất nguy hiểm được Nhà nước Việt Nam trong lịch sử rất quan tâm.
1.6.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội nhận hối lộ sau cách
mạng tháng Tám
Khi cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân cò non trẻ phải
mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam ban hành ngày 15/3/1976, sắc lệnh này quy định
thêm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn và quy định tội nhận và đưa hối lộ. Đến năm
1979 trong bối cảnh Mỹ và các nước thù địch khác ra sức bao vây, cấm vận, chúng ta
phải đối phó với hai cuộc chiến tranh quy mô lớn ở biên giới phía Tây Nam và phía
Bắc. Ngoài ra, đất nước ta còn phải đương đầu với những khó khăn khác về kinh tế và
đời sống, tình hình tiêu cực nhất là tội hối lộ vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Trước tình
hình đó, Nghị quyết hội nghị lần 06 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IV đã
đề ra chủ trương “Kiên quyết đấu tranh những mặt tiêu cực trong hoạt động kinh tế và
xã hội nhất là tệ nạn ăn cắp, hối lộ ức hiếp quần chúng”, thể chế hóa nghi quyết của
Đảng và trên cơ sở Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980
ngày 20/5/1981, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh trừng trị tội hối lộ.
Pháp lệnh này ra đời đã thay thế các văn bản trước đó về tội hối lộ, lần đầu tiên trong
pháp lệnh tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ được quy định tại điều luật một cách độc
lập. Sự ra đời của pháp lệnh là một sự kiện pháp lý quan trọng, góp phần giữ vững và
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, động viên mọi công dân tích cực đấu tranh
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 12 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
chống tội hối lộ và các hiện tượng tiêu cực xã hội. Pháp lệnh thể hiện tinh thần đấu
tranh rất mạnh mẽ và triệt để đối với tội nhận hối lộ, trừng trị tội nhận hối lộ dưới
nhiều hình thức, đồng thời thể hiện rõ chính sách phân hóa cao trong xử lý. Cũng trong
pháp lệnh này, tại Điều 9 quy định một trường hợp đặc biệt: “Người nào bị ép buộc
đưa hối lộ, nếu chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì đựoc coi là không có tội”.
Chính sự phân hoá cao độ đối với những đối tượng thực hiện hành vi nhận hối lộ, đưa
hối lộ, môi giới hối lộ có ý nghĩa rất quan trọng nhằm khuyến khích việc phát hiện tội
hối lộ để đấu tranh có hiệu quả đối với loại tội phạm thường rất khó phát hiện này.
1.6.3 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội nhận hối lộ trong bộ
luật hình sự 1985
Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được những thành tựu rất quan
trọng trong một số lĩnh vực, cải tiến đựoc một phần cơ cấu của nền kinh tế xã hội, tạo
đổi, bổ sung hơn nữa để hoàn thiện hơn.
1.6.4 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội nhận hối lộ trong bộ
luật hình sự 1999 ( Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành)
Trong những năm qua sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã
giành được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Đời sống chính trị, kinh tế,
văn hoá xã hội của đất nước có nhiều khởi sắc, được nhân dân ta và bè bạn quốc tế
đánh giá cao. Tuy nhiên trong quá trình chuyển đổi cơ chế, bên cạnh những mặt tích
cực đạt được, mặc khác nền kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực,
trong đó tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp. Trong tình hình đó mặc dù Bộ
luật hình sự năm 1985 đã sữa đổi, bổ sung ba lần, nhưng còn nhiều điểm bất cập cần
sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện, nhằm đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng chống tội
phạm trong tình hình mới.
Để đáp ứng yêu cầu đó, ngày 24/12/1999 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa X tại kỳ họp thứ 6, đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999. Bộ
luật Hình sự 1999 ra đời là kết quả của sự tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội
phạm, Bộ luật hình sự này còn thể hiện toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà
nước ta trong giai đoạn hiện nay, nó thực sự là công cụ sắc bén trong đấu tranh phòng,
chống tội phạm, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ
quyền bình đẳng của các đòng bào người dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước…góp
phần vào công cuộc đổi mới của đất nước, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pgáp quyền của dân, do dân và vì dân dưới sự
lãnh đạo của Đảng.
Bộ luật hình sự năm 1999, đã quy định các tội phạm về tham nhũng một cách cụ
thể và chặt chẽ hơn so với Bộ luật hình sự năm 1985. Các tội phạm về tham nhũng
được quy định ở Mục A trong Chương XXI Bộ luật hình sự 1999, gồm 7 Điều, từ Điều
278 đến Điều 284, trong đố Tội nhận hối lộ được quy định tại Điều 279. Ngoài ra Đảng
ta cũng rất quan tâm đặc biệt đến việc giả quyết vấn nạn tham nhũng, hối lộ. Vì thế,
trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ “Hiện nay, cán bộ
Đảng viên và nhân dân ta hết sức quan tâm đến cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Nạn
tham nhũng diễn ra nghiêm trọng kéo dài gây bất bình trong nhân dân và là nguy cơ
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội nhiều lần;
d) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;
đ) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.
3. Phạm tội thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm
năm đến hai mươi năm:
a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi
năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến
năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ, tịch thu một
phần hoặc toàn bộ tài sản.
2.1 Các dấu hiệu cấu thành tội nhận hối lộ
2.1.1 Dấu hiệu về mặt chủ thể của tội nhận hối lộ
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 16 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội nhận hối lộ là các dấu hiệu quan trọng
nhất để xác định hành vi phạm tội, là dấu hiệu phân biệt sự khác nhau giữa tội hối lộ và
các tội phạm khác do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện.
Cũng như chủ thể của các tội phạm khác, chủ thể của tội nhận hối lộ cũng phải
bảo đảm các yếu tố, điều kiện về độ tuổi, về năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại
các Điều 12, 13 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đối với tội nhận hối lộ thì chỉ những người
sau đây mới có thể là chủ thể của tội phạm này:
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
vụ, quyền hạn nhất định trong việc giải quyết yêu cầu cho bên B, nhưng việc anh L giải
quyết yêu cầu cho bên B không phải là thi hành công vụ mà là thực hiện một nhiệm vụ
tư, vì hoạt động của Công ty trách nhiệm hữu hạn không phải là thi hành công vụ. Do
đó việc anh L nhận tiền của bên B và hứa sẽ giải quyết là sai nhưng không phải là hành
vi nhận hối lộ. Cũng là hành vi này nhưng nếu anh L thực hiện nhiệm vụ do Ban giám
hiệu của nhà trường giao thì hành vi của L lại là hành vi nhận hối lộ. Vì vậy, việc xác
định tư cách chủ thể của tội nhận hối lộ là rất quan trọng.
Người có trách nhiệm đối với việc giải quyết yêu cầu của người đưa hối lộ là
người được giao nhiệm vụ và do nhiệm vụ đó mà họ có quyền đối với việc giải quyết
yêu cầu của người khác. Những người này, chúng ta muốn xác định chỉ cần căn cứ vào
Điều 1 Pháp lệnh cán bộ công chức và Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17-11-1998
của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Việc xác định trách
nhiệm của một người đối với việc giải quyết yêu cầu của người đưa hối lộ là rất quan
trọng, vì trong thực tế không ít trường hợp người đưa hối lộ cứ tưởng rằng người mà
mình đưa hối lộ là người có trách nhiệm giải quyết được yêu cầu của mình.
Ví dụ: Trần Văn B là thư ký của một phiên tòa, biết được chủ trương của Hội
đồng xét xử là sẽ cho bị cáo Lê Thanh K được hưởng án treo. Nên B đã tìm đến K và
gợi ý rằng B quan hệ thân thiết với vị Thẩm phán chủ toạ phiên tòa, có thể xin cho K
được hưởng án treo. K tin là B nói thật nên đã đưa cho B 5 triệu đồng và nhờ B lo giúp,
xong việc sẽ hậu tạ thêm. Sau khi nhận tiền của K, B không hề có tác động nào với chủ
tọa phiên tòa và tin rằng K sẽ được hưởng án treo, nhưng tại phiên tòa do có những
tình tiết khác với hồ sơ vụ án, nên Hội đồng quyết định phạt Lê Thanh K hai năm tù
giam. Vì không đáp ứng được yêu cầu, nên Lê Thanh K đã tố cáo hành vi nhận hối lộ
của Trần Văn B. Trong vụ án này, đúng B là có chức vụ, quyền hạn nhưng không phải
là người có trách nhiệm giải quyết yêu cầu của K, nhưng K tưởng lầm là B có trách
nhiệm giải quyết yêu cầu của mình nên đưa hối lộ cho B. Hành vi của K là hành vi đưa
hối lộ, nhưng hành vi của B lại là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chứ không phải là
hành vi nhận hối lộ.
Cũng như chủ thể của tội tham ô tài sản, chủ thể của tội nhận hối lộ là chủ thể
án về tội phạm khác (không phải là một trong bảy tội trên) hoặc tuy đã bị kết án về một
trong bảy tội trên nhưng đã được xoá án tích thì cũng chưa cấu thành tội nhận hối lộ.
Dù là người có chức vụ, quyền hạn hay người đồng phạm khác trong vụ án thì
họ cũng chỉ trở thành chủ thể của tội phạm này trong những trường hợp sau:
Người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội nhận
hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 279 Bộ luật
hình sự, vì các trường hợp nhận hối lộ quy định tại các khoản trên là tội phạm rất
nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, đối với những người này họ chỉ
có thể là đồng phạm trong vụ án nhận hối lộ với vai trò giúp sức, vì những người này
chưa trở thành cán bộ, công chức. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử của những trường hợp
người dưới 16 tuổi lại là người chủ mưu, khởi xướng, giúp sức trong vụ án nhận hối lộ
có đồng phạm như: được người có chức vụ, quyền hạn vụ, quyền hạn giao cho đi nhận
tiền của người đưa hối lộ, được giao đưa thư, đưa tài liệu…
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 19 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
Người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 279 mà chỉ những người đủ 16
tuổi trở lên mới chịu trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp này. Đối với tội nhận hối lộ
quy định tại khoản 1 của điều luật là tội phạm nghiêm trọng.
2.1.2 Dấu hiệu về mặt khách quan của tội nhận hối lộ
Đối với tội nhận hối lộ, các dấu hiệu khách quan cũng là những dấu hiệu rất
quan trọng để xác định hành vi phạm tội, cũng như để phân biệt tội nhận hối lộ với tội
phạm khác.
2.1.2.1 Hành vi khách quan
Người phạm tội nhận hối lộ phải là người có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền
hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của
người đưa hối lộ là do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện và hành vi nhận tiền, tài
sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ có liên quan trực tiếp đến chức vụ,
quan đến chức vụ, quyền hạn của L và L cũng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn của
mình để thực hiện yêu cầu của K, vì L không phải là người được giao trách nhiệm giải
quyết yêu cầu của người đưa hối lộ, mà chỉ lợi dụng ảnh hưởng của mình đối với anh G
để trục lợi.
Trực tiếp hoặc qua trung gian để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác
của người đưa hối lộ.
Trực tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ là
trường hợp người nhận hối lộ trực tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của
người đưa hối lộ không thông qua người khác, như A đưa hối lộ cho B bằng cách trực
tiếp cầm tiền giao cho B hoặc chuyển tiền vào tài khoản của B tại ngân hàng nào đó.
Việc trực tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ,
thực tiễn không có vấn đề vướng mắc. Tuy nhiên, cần phân biệt trường hợp người trực
tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người khác nhưng người đưa tiền,
tài sản hoặc lợi ích vật chất khác lại không phải là người đưa hối lộ, cũng không phải là
người môi giới hối lộ nhưng người nhận tiền vẫn là người nhận hối lộ.
Qua trung gian để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối
lộ là trường hợp người nhận hối lộ không trực tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật
chất khác của người đưa hối lộ. Qua trung gian không nhất thiết phải là qua người thứ
ba mà có thể qua nhiều người, nhiều khâu nhưng cuối cùng thì tiền, tài sản hoặc lợi ích
vật chất khác của người đưa hối lộ cũng đến với người nhận hối lộ.
Trường hợp qua trung gian để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác,
không nhất thiết người nhận hối lộ phải biết người đưa hối lộ là ai, chỉ cần biết đó là
của hối lộ là đã bị coi là nhận hối lộ. Tuy nhiên người nhận hối lộ phải biết nhận tiền,
tài sản hoặc lợi ích vật chất khác là nhận của hối lộ, nếu có căn cứ xác định người nhận
tiên, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác nhưng không biết đó là của hối lộ thì người nhận
tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác đó không bị coi là nhận hối lộ.
Pháp luật của ta chưa quy định giá trị tài sản bao nhiêu thì được coi là hối lộ hay
chỉ là nhận quà biếu, nên thực tiễn không ít trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng lúng
túng khi xác định hành vi nhận hối lộ hay chỉ là quà biếu. Có ý kiến cho rằng, căn cứ
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 21 SVTH: Lê Văn Giác
dân sự, kinh tế, hành chính hoặc chỉ là quan hệ thuộc lĩnh vực đạo đức.
Như vậy hình thức nhận hối lộ không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với cấu
thành tội nhận hối lộ, nhưng căn cứ vào hình thức ta xác định được thủ đoạn của hành
vi nhận hối lộ do người phạm tội thực hiện. Trong nhiều trường hợp chính thông qua
hình thức nhận hối lộ hay chỉ là quan hệ xã hội khác. Tuy nhiên, cũng chính do quy
định này nên trong việc xác định đâu là thủ đoạn nhận hối lộ, đâu là quan hệ xã hội
khác là một vấn đề phức tạp đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 22 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
tụng phải đánh giá một cách tổng hợp tất cả các tình tiết của vụ án một cách khách
quan, toàn diện để tìm ra sự thật.
Để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối
lộ.
Đây là dấu hiệu rất quan trọng thuộc mặt khách quan của tội phạm này và thực
tiễn xét xử khi xác định dấu hiệu này của tội nhận hối lộ trong nhiều vụ án, các cơ quan
tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng còn có nhiều ý kiến khác nhau dẫn đến
việc xác định hành vi phạm tội cũng rất khác nhau.
2.1.2.2 Dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội nhận hối lộ
Cũng như hậu quả của các tội phạm khác, hậu quả của tội nhận hối lộ là những
thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất cho xã hội.
Hậu quả của hành vi nhận hối lộ không phải là dấu hiệu bắt buộc, tức là dù hậu
quả chưa xảy ra thì hành vi của người phạm tội vẫn cấu thành tội phạm.
Đối với tội nhận hối lộ, nhà làm luật quy định giá trị của hối lộ làm ranh giới
phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm, nên có quan điểm cho rằng, giá trị của hối lộ là
dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm và nếu chưa nhận hối lộ hoặc đã nhận hối lộ
nhưng giá trị của hối lộ dưới mức quy định của điều luật thì chưa cấu thành tội phạm;
coi giá trị của hối lộ là hậu quả của tội phạm. Đây là sự nhầm lẫn giữa hậu quả của tội
phạm với giá trị của hối lộ là dấu hiệu khách quan của tội phạm.
Đối với tội nhận hối lộ nhà làm luật quy định giá trị của hối lộ từ 500.000 đồng
trường hợp người có chức vụ, quyền hạn nhận hối lộ nhưng vẫn làm đúng chức vụ,
quyền hạn, chức năng nhiệm vụ, nhưng cho dù có làm đúng đi nữa thì hành vi nhận hối
lộ của họ cũng đã xâm phạm đến uy tín của cơ quan, tổ chức vụ, quyền hạn mà họ là
thành viên. Vì vậy, dù người có chức vụ, quyền hạn giải quyết đúng pháp luật nhưng
nhận hối lộ để giải quyết theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì hành vi nhận hối lộ vẫn
xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức.
Đối tượng tác động của tội nhận hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác.
Về tiền hoặc tài sản thì không có vấn đề gì cần phải trao đổi nhưng đối với lợi ích vật
chất khác thì có nhiều ý kiến khác nhau:
Có ý kiến cho rằng điều luật quy định lợi ích vật chất khác là không cần thiết.
Bởi lẽ, ngoài tiền hoặc tài sản ra thì khó có thể xác định được lợi ích vật chất khác là
gì, vì đã là lợi ích vật chất thì chỉ tồn tại dưới hai dạng tiền hoặc tài sản, ngoài tài sản
và tiền bạc ra không thể xác định lợi ích vật chất nào khác.
Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử có nhiều trường hợp người nhận hối lộ không
nhận tiền hoặc tài sản, nhưng cái mà họ được từ người đưa hối lộ lại là một lợi ích vật
chất, nhưng lợi ích này không tính ra tiền được hoặc tính ra được bằng tiền. Chính vì
vậy, nhà làm luật quy định lợi ích vật chất khác cũng là để đáp ứng yêu cầu đấu tranh
phòng chống loại tội phạm này trong tình hình hiện nay.
2.1.4 Dấu hiệu về mặt chủ quan của tội nhận hối lộ
Người phạm tội hối lộ thực hiện hành vi của mình là cố ý (cố ý trực tiếp), tức là,
người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu
quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra; không có trường hợp nhận hối lộ
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 24 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
nào được thực hiện do cố ý gián tiếp, vì người phạm tội bao giờ cũng mong muốn nhận
được của hối lộ.
Mặc dù điều luật quy định đã nhận hoặc sẽ nhận, nhưng không vì thế mà cho
rằng ý định nhận hối lộ của người phạm tội có sau khi thực hiện hành vi phạm tội, cho
dù người phạm tội sẽ nhận của hối lộ sau khi làm hoặc không làm một việc vì lợi ích
GVHD: TS Phạm Văn Beo Trang 25 SVTH: Lê Văn Giác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLuận Văn tốt nghiệp
Tội nhận hối lộ trong luật hình sự Việt Nam
theo khoản 1 Điều 279 Bộ luật hình sự, nhưng về lý thuyết thì cũng có thể xảy ra bởi vì
người dưới 16 tuổi vẫn có thể nhận hối lộ trong trường hợp người này giữ một chức vụ
trong lớp học như: lớp trưởng, lớp phó, bí thư chi đoàn…
Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội nhận hối lộ theo khoản 1 Điều
279 Bộ luật hình sự, Tòa án cần căn cứ vào các quy định hình phạt tại Chương VII Bộ
luật hình sự. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ
luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc nếu có nhưng mức tăng nặng không
đáng kể, thì có thể được áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (dưới 2 năm
tù), nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì được hưởng án treo.
Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự,
không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có
thể bị phạt đến bảy năm tù.
2.2.2 Phạm tội nhận hối lộ thuộc khoản 2 Điều 279
a) Có tổ chức
Cũng tương tự như các trường hợp phạm tội có tổ chức khác, nhận hối lộ có tổ
chức là trường hợp có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm,
trong đó có người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức. Tuy nhiên, không phải vụ
án nhận hối lộ có tổ chức nào cũng có đủ những người giữ vai trò như trên, mà tùy
trường hợp có thể chỉ có người tổ chức và người thực hành mà không có người xúi
giục hoặc người giúp sức, nhưng nhất định phải có người tổ chức và người thực hành.
Các yếu tố xác định phạm tội có tổ chức được quy định tại Điều 29 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên phạm tội nhận hối lộ có tổ chức có những đặc điểm riêng như: người thực
hành trong vụ án nhận hối lộ có tổ chức phải là người có chức vụ, quyền hạn và lợi
dụng chức vụ, quyền hạn để trực tiếp hoặc qua trung gian nhận của hối lộ.
Nhận hối lộ có tổ chức thường khó bị phát hiện, vì có sự câu kết, phân công vai
trò, trách nhiệm của từng của từng người đồng phạm nên khó bị phát hiện. Điển hình
cho việc nhận hối lộ có tổ chức là vụ án Tân Trường Sanh, trong đó việc nhận hối lộ
khám người, v.v…
Để lạm dụng chức vụ, quyền hạn, trước hết người phạm tội phải có chức vụ,
quyền hạn nhưng đã sử dụng vượt quá chức vụ, quyền hạn đã có. Nếu một người
không có chức vụ, quyền hạn gì nhưng lại mạo danh là mình có chức vụ, quyền hạn để
lấy của hối lộ mà là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 Bộ luật
hình sự.
Thông thường, người phạm tội trong trường hợp này chỉ lạm dụng quyền hạn,