Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 1
Phan Thanh Giản ( 1796 - 1867)
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 2
MỤC LỤC
Phan Thanh Giản ( 1796 - 1867) ........................................................................................ 1
MỤC LỤC ......................................................................................................................... 2
Lời cảm ơn......................................................................................................................... 4
Sinh viên: Lê Thị Lành ....................................................................................................... 4
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG ............................................................................................ 5
BƢỚC ĐẦU TÌM HIỂU PHAN........................................................................................ 6
THANH GIẢN ( 1796 - 1867) .......................................................................................... 6
I. Lý do chọn đề tài..................................................................................................... 6
II. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................... 9
III. Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài .................................................................... 13
IV. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................................... 13
V. Bố cục đề tài ........................................................................................................ 14
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................................... 15
Chƣơng 1 ......................................................................................................................... 15
HOÀN CẢNH QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM Ở NỬA SAU THẾ KỶ XIX ......................... 15
I. Hoàn cảnh quốc tế ................................................................................................. 15
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 3
I. Một con ngƣời có nhân cách lớn ........................................................................... 81
II. Một nhà yêu nƣớc sớm có tƣ tƣởng canh tân ........................................................ 88
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 101
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 113
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 4
Lời cảm ơn
Theo truyền thống tốt đẹp của ngƣời Việt Nam “ Uống nƣớc nhớ
nguốn”, “ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
Em xin chân thành cảm ơn tất cả các Thầy Cô đang giảng dạy và
công tác tại Khoa Lịch sử Trƣờng Đại học sƣ phạm Thành phố Hồ Chí
Minh, đã cung cấp cho em những tri thức và những tình cảm quý báu
trong thời gian em học ở trƣờng.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Thầy Trịnh Thành Công – ngƣời
hƣớng dẫn em, động viên và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình em
thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Ba mẹ, các anh chị trong gia đình, các bạn
sinh viên, cùng toàn thể mọi ngƣời đã động viên giúp đỡ em hoàn thành
luận văn này.
Qua đây em xin gửi lời tri ân đến quý thầy cô cùng toàn thể mọi ngƣời
lời kính chúc sức khỏe – hạnh phúc.
Sinh viên: Lê Thị Lành
………………………………………………………………………………
…………………………………
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 6
BƢỚC ĐẦU TÌM HIỂU PHAN
THANH GIẢN ( 1796 - 1867)
I. Lý do chọn đề tài
Đến nửa sau thế kỷ XIX chủ nghĩa tƣ bản đã phát triển thành một hệ
thống với nền kinh tế tƣ bản phát triển mạnh mẽ. Sự phát triển này đã
chuyển chủ nghĩa tƣ bản từ tự do cạnh tranh sang tƣ bản độc quyền với
những tổ chức lũng đoạn có vai trò quyết định tới hoạt động kinh tế. Sự
phát triển mạnh mẽ nền kinh tế đã làm tăng nhu cầu về thuộc địa nhằm đáp
ứng nhu cầu về: nguyên liệu, thị trƣờng tiêu thụ hàng hóa và nhân công lao
động. Chính vì vậy, các cuộc chiến tranh xâm lƣợc thuộc địa ngày càng
đƣợc đẩy mạnh. Mục tiêu xâm lƣợc trong thời gian này của chủ nghĩa đế
quốc là vùng châu Á rộng lớn giàu tiềm năng. Nhƣ chúng ta đã biết quá
trình xâm lƣợc thuộc địa tìm kiếm thị trƣờng ở châu Á đã đƣợc các nƣớc
Anh, Pháp…tiến hành từ thế kỷ XVII, nhƣng đến thế kỷ XIX quá trình này
mới thực sự đƣợc đẩy mạnh với cuộc chiến tranh xâm lƣợc Trung Quốc,
Nhật Bản, Newzeland, Mianma, Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt
Nam….Cho đến cuối thế kỷ XIX hầu hết các nƣớc đều bị biến thành thuộc
địa, nửa thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, chỉ trừ có Nhật Bản và Thái Lan,
một hệ thống thuộc địa trên thế giới đã đƣợc hình thành.
Trƣớc xu thế bành trƣớng phƣơng Đông của các nƣớc tƣ bản đế quốc,
nhiệm vụ đặt ra cho các nƣớc Châu Á là phải bằng mọi cách bảo vệ nền
độc lập dân tộc, nhƣng bảo vệ bằng cách nào trong điều kiện, hoàn cảnh đất
nƣớc lúc bấy giờ - một chế độ phong kiến lỗi thời với nền kinh tế nông
nghiệp nghèo nàn lạc hậu? Chính vì vậy, trƣớc sức mạnh của chủ nghĩa
Nguyễn có vị trí và vai trò nhƣ thế nào? Toàn bộ hệ thống quan lại của triều
đình đã làm gì để cùng nhà vua tìm ra sách lƣợc cứu nƣớc? Trong số đó thì
Phan Thanh Giản là vị quan có thể nói là trụ cột của triều đình – ông đã làm
gì để cùng với triều đình Huế chống Pháp? Vị trí và vai trò của ông trong
việc làm này nhƣ thế nào? Trong giai đoạn hiện nay chúng ta đã có cái nhìn
mới, khách quan hơn về vai trò, vị trí của nhà Nguyễn cũng nhƣ của Phan
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 8
Thanh Giản trong công cuộc đấu tranh chống sự xâm lƣợc của chủ nghĩa
thực dân. Chính vì vậy để hiểu rõ hơn về vai trò ấy tôi đã quyết định chọn
đề tài này để tìm hiểu, nghiên cứu, ngoài ra còn xuất phát từ sở thích và
lòng say mê phƣơng pháp nghiên cứu, nhằm áp dụng những kiến thức đã
học trong một bài viết cụ thể, cũng nhƣ mong muốn góp phần nhỏ bé hiểu
biết của mình về Phan Thanh Giản để mọi ngƣời biết thêm về ông, đồng
thời làm nguồn tƣ liệu để thực hiện công việc nghiên cứu sau này.
Con ngƣời là chủ thể của xã hội, con ngƣời chính là nhân tố làm nên lịch
sử. Mỗi một ngƣời đều hoạt động theo mục đích riêng của mình, nhƣng
những hoạt động ấy lại chịu sự chi phối của những quy luật phát triển chung
của toàn xã hội. Vì vậy, việc học tập, tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử của
một thời đại, một quốc gia dân tộc, ta không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu sự
kiện trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau mà còn phải tìm hiểu những con
ngƣời cụ thể đã góp phần làm nên lịch sử trong các điều kiện khác nhau .
Lịch sử là lịch sử của quần chúng nhân dân, nhƣng các vĩ nhân cũng có vai
trò qua trọng trong sự phát triển của xã hội. Vì vậy việc tạo biểu tƣợng
chính xác về các nhân vật lịch sử có ý nghĩa giáo dục hết sức quan trọng.
Bởi mỗi nhân vật lịch sử đều đại diện cho giai cấp nhất định, nhiều đặc
điểm cá nhân tiêu biểu là đăc trƣng chung cho gia cấp mà cá nhân phục vụ.
Cho nên trong học tập lịch sử, cần phải hình dung một cách tƣơng đối đầy
Giản với công cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lƣợc ở nửa sau thế kỷ
XIX – Một con ngƣời đƣợc giới sử học đặc biệt quan tâm từ trƣớc tới nay.
Khi đề cập tới vấn đề Triều Nguyễn đã có rất nhiều công trình khoa học
nghiên cứu với những tác phẩm khá đồ sộ và có giá trị lớn. Vì vậy ở đây em
chỉ xin giới thiệu một số những công trình tiêu biểu có liên quan tới đề tài
mà trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu tôi tham khảo.
Tác giả Trần Trọng Kim với tác phẩm “Việt Nam sử lƣợc” nghiên cứu
lịch sử Việt nam từ thời thƣợng cổ đến khi thực dân pháp xâm lƣợc và cai
trị nƣớc ta. Tác phẩm gồm 2 tập, tập 2 gồm 16 chƣơng trong đó từ chƣơng
5 đến chƣơng 11 đề cập tới các vần đề khác nhau dƣới thời Tự Đức: nhƣ là
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 10
quan chế, binh pháp, thuế má, vua Tự Đức…Tác phẩm do Viện Sử học xuất
bản năm 1971.
Tác giả Trần Văn Giàu với tác phẩm sự khủng hoảng của chế độ phong
kiến nhà Nguyễn trƣớc năm 1858, do nhà xuất bản Văn hóa xuất bản năm
1958. Tác phẩm gồm 6 chƣơng nghiên cứu về chế độ phong kiến Triều
Nguyễn trƣớc khi thực dân pháp xâm lƣợc.
Tác giả Nguyễn Phan Quang trong cuốn sách “Việt Nam thế kỷ XIX”
(1802 - 1884) đã đề cập đến lịch sử Việt nam trong giai đoạn này. Đây là
công trình có sự thu thập từ các nguồn tƣ liệu gốc, tƣ liệu điền giã và tiếp
xúc với nhiều nhân chứng. Bên cạnh những mảng tài liệu đƣợc gạn lọc từ
chính sử, tác giả còn bổ sung và đính chính từ nguồn tƣ liệu địa phƣơng.
Tác phẩm gồm 3 phần trong đó phần một nêu nên tình hình xã hội nƣớc ta
nửa đầu thế kỷ XIX và chính sách Triều Nguyễn. phần III đề cập tới quá
trình thực dân Pháp xâm lƣợc nƣớc ta và đối sách của Triều Nguyễn trƣớc
cuộc xâm lƣợc đó. Sách do NXB Tp. HCM xuất bản năm 2002.
Tác giả Nam Xuân Thọ với tác phẩm “ Phan Thanh Giản ” ( 1796 -
Phan Thanh Giản đang dần trở lại với cái nhìn đầy lòng vị tha truyền thống
của ngƣời Việt Nam. Tác phẩm đƣợc đăng trên tạp chí xƣa và nay xuất bản
năm 2006.
Phan Thị Minh Lễ - Chƣơng Thâu với tác phẩm Thơ văn Phan Thanh
Giản, do nhà xuất bản Hội nhà Văn xuất bản năm 2005. Tác phẩm là tập
hợp tất cả những bài thơ do Phan Thanh Giản sáng tác trong suốt cuộc đời
của mình. Trong đó có bộ Lƣơng Khê Thi văn Thảo, đƣợc coi là tƣ liệu gốc
có giá trị về nhiều mặt, có thể giúp chúng ta tiếp tục tìm hiểu nghiên cứu,
nhận định, đánh giá nhân vật lịch sử có tầm cỡ trong thời kỳ cận đại.
Ngoài ra trên các tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí xƣa và nay ....cũng
có nhiều bài viết liên quan đến đề tài. Trong đó tiêu biểu là các bài viết của
các nhà sử học:
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 12
Trần Huy Liệu với bài viết “ Chúng ta đã nhất trí về việc nhận định về
Phan Thanh Giản” đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 55, tháng 10 năm
1996, tại Hội thảo khoa học ở viện sử học. Qua bài viết tác giả nhận định
đối với Phan Thanh Giản, một nhân vật có nhiều khía cạnh, nhiều tình tiết,
nên việc đánh giá ông cũng có nhiều phiền phức. Cuối bài viết giáo sƣ trần
kết luận “ Phan trƣớc sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghĩa, phản lại nguyện
vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc của nhân dân”. Từ luận điểm ấy Trần
Huy Liệu đã phủ nhận sạch trơn mọi đức hạnh của ông nhƣ liêm khiết, yêu
nƣớc, thƣơng dân.
Ngô Minh với bài viết “Phan Thanh Giản đã đƣợc giải oan sau 150
năm”. Qua bài viết tác giả đã nêu lên tâm tƣ, tình cảm của một ngƣời con
quê hƣơng Bến Tre khi đến thăm viếng Phan Thanh Giản. Đồng thời tác giả
còn khái quát quá trình nhận định đánh giá của giới sử học từ năm 1963 đến
nay. Qua bài viết tá giả đã nêu nên ƣớc mong của mình “tôi cứ ƣớc ao
nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và cơ sở phƣơng pháp luận
nghiên cứu khoa học đề trình bày, phân tích, nhận định các mối quan hệ
tƣơng quan giữa những chính sách mà Triều Nguyễn đề ra trong việc chống
Pháp xâm lƣợc trên cơ sở đó vạch ra những việc làm cụ thể cho tƣng bộ
phận, cá nhân trong đó có Phan Thanh Giản để từ đó rút ra bản chất, quy
luật, khuynh hƣớng chủ đạo của sự vận động, phát triển của các sự kiện,
hiện tƣợng lịch sử. Hơn đâu hết, với một vƣơng triều có thể nói là hết sức
phức tạp lâu nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm đánh giá khác nhau, nhiều
khi trái ngƣợc nhau, việc vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể nghiên cứu
càng là yêu cầu đặt nên hàng đầu.
Khi thực hiện đề tài này em đã dùng phƣơng pháp lịch sử và phƣơng
pháp logic. Đồng thời còn dùng phƣơng pháp tổng hợp và so sánh đối chiếu
lịch sử để nghiên cứu. Em đã không tách rời những hoạt động của Phan
Thanh Giản với hoạt động chống Pháp của Triều Nguyễn , với bối cảnh
chung của các nƣớc trong khu vực. Việc nhìn nhận đối tƣợng trong tính hệ
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 14
thống và trong mối quan hệ so sánh đó sẽ góp phần làm nổi bật thực chất,
đặc điểm và có những nhận định khách quan hơn về vị trí vai trò của Triều
Nguyễn cũng nhƣ của Phan Thanh Giản trong cuộc chống Pháp bảo vệ độc
lập dân tộc.
V. Bố cục đề tài
Phần 1: Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
II. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
III. Giới hạn nội dung ngiên cứu
IV. Phƣơng pháp nghiên cứu
V. Kết cấu đề tài
1
. Trong nửa đầu thế kỷ XIX, do những tiến bộ
vƣợt bậc về kinh tế và những thành tựu khoa học kỹ thuật đạt đƣợc, giai cấp
tƣ sản ở các cƣờng quốc phƣơng Tây đã có những bƣớc tiến xa hơn trong
việc tìm kiếm thị trƣờng, khám phá ra những vùng đất mới lạ mà từ trƣớc
họ chƣa có điều kiện đặt chân đến. Trên cơ sở những cuộc phát kiến địa lý ,
kết hợp với những tiến bộ về khoa học kỹ thuật đặc biệt trong nghành hàng
hải, giai cấp tƣ sản phƣơng Tây đã tăng cƣờng tìm kiếm, xâm lƣợc thuộc
địa, tìm ra những vùng đất mới ở nhiều dân tộc khác nhau nhằm đáp ứng
cho sự phát triển nền kinh tế tƣ bản chủ nghĩa ở chính quốc.
Nhƣ vậy bƣớc sang thế kỷ XIX cùng với sự lớn mạnh của chủ nghĩa tƣ
bản trên thế giới là sự tăng cƣờng xâm nhập, nô dịch thuộc địa của các nƣớc
tƣ bản phƣơng Tây. Quá trình phát triển của chủ nghĩa tƣ bản gắn liền với
quá trình xâm lƣợc thuộc địa, giai cấp tƣ sản đã đi khắp nơi để tìm đến một
mục tiêu để xâm nhập. Họ đã không từ mục tiêu nào, dùng bất cứ mọi thủ
1
Trƣơng Bá Cần – Tƣ tƣởng canh tân Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX. Tr 23.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 16
đoạn từ mua chuộc, nô dịch, lừa bịp, dung vũ lực…hòng che đậy âm mƣu
xâm lƣợc của mình.
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tƣ bản chủ nghĩa ở các nƣớc lớn
ngày càng làm tăng nhu cầu về thuộc địa. Thuộc địa là nơi có ý nghĩa quan
trọng đặc biệt với chính quốc: nơi cung cấp nguyên liệu, lƣơng thực, nhân
công, nơi tiêu thụ hàng hóa của mình và đem lại cho chính quốc một lợi
nhuận kếch xù. Do tầm quan trọng ấy mà giai cấp tƣ sản phƣơng Tây đã bất
chấp mọi luật lệ, quyền lợi của các dân tộc để tìm cách xâm nhập vào châu
Theo hiệp ƣớc này Trung Quốc phải mở cửa biển cho Anh tự do thông
thƣơng, ngoài ra Trung Quốc phải bồi thƣờng chiến phí và cắt Hƣơng Cảng
cho Anh. Với Hiệp ƣớc Nam Kinh mở đầu cho quá trình biến Trung Quốc
từ một nƣớc độc lập trở thành nƣớc thuộc địa ở châu Á.
Ở nửa sau thế kỷ XIX Anh xâm lƣợc Ba Tƣ, Newziland, biến toàn bộ
Ấn Độ trở thành thuộc địa.
Mỹ và Pháp cũng ngày càng tăng cƣờng ảnh hƣởng ở khu vực châu Á ,
ráo riết các hoạt động xâm lƣợc mở rộng thuộc địa.
Tại Đông Nam Á một khu vực địa lý, lịch sử quan trọng, từ thế kỷ XVI
đến thế kỷ XIX là giai đoạn bắt đâu quá trình suy thoái của nhà nƣớc phong
kiến. Đối diện với nền văn minh phƣơng Tây và với nguy cơ xâm nhập của
tƣ bản nƣớc ngoài. Giai cấp phong kiến cầm quyền ở các vƣơng quốc đều
hết sức lúng túng và lo sợ, bế tắc. Sự trì trệ của chế độ phong kiến đã làm
cho giới thống trị luẩn quẩn không tìm ra đƣợc đối sách thích hợp để thay
đổi vận mệnh đất nƣớc và bắt kịp với vận hội mới của thời đại. Cuối thế kỷ
XIX lần lƣợt các nƣớc Đông Nam Á đều trở thành thuộc địa hoặc vùng ảnh
hƣởng của thực dân phƣơng Tây. Sau khi tìm đƣờng biển sang phƣơng
Đông ngƣời châu Âu lần lƣợt đến Đông Nam Á. Năm 1511 đánh dấu mốc
quan trọng trong việc chinh phục Đông Nam Á với sự kiện Bồ Đào Nha
chiếm Malacca. Đến năm 1790, Anh chiếm đảo Penang, một năm sau đó
Malaya bị Bồ Đào Nha xâm lƣợc, Philippin cũng bị Tây Ban Nha thôn tính.
Inđônêxia cũng bị Tây Ban Nha, Hà Lan xâu xé vào năm 1811. Sau khi
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 18
chiếm đƣợc Miến Điện 1885 Anh thôn tính Brunay. Thực dân Pháp thì tìm
cách vào Đông Dƣơng chiếm ( Việt Nam, Lào, Campuchia ).
Nhƣ vậy sang thế kỷ XIX các nƣớc tƣ bản Âu, Mĩ đã kỹ nghệ hóa và thị
trƣờng đã phân chia ổn định vì vậy họ chỉ còn cách tìm kiếm thị trƣờng ở
Trong tình thế đó nhân dân dù có tinh thần chống ngoại xâm ngoan
cƣờng cuối cùng giai cấp phong kiến cũng phải nhƣợng bộ thực dân. Hầu
hết các nƣớc châu Á đều lần lƣợt rơi vào móng vuốt của các nƣớc đế quốc
thực dân. Duy chỉ có Nhật Bản và Thái Lan nhờ những chính sách mở cửa
khôn khéo mà hai nƣớc này đã thoát khỏi sự xâm lƣợc của thực dân phƣơng
Tây.
Do ảnh hƣởng của cuộc chiến tranh nha phiến, với sức ép ngày càng
tăng của các nƣớc tƣ bản, năm 1842 Nhật phải cho phép tàu nƣớc ngoài vào
lấy nƣớc ngọt và than. Từ đó cho đến trƣớc cải cách Minh Trị, Nhât Bản đã
lần lƣợt ký các hiệp ƣớc bất bình đẳng với Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Nga để
tránh cuộc chiến tranh không cân sức. Nhƣng cũng từ đây nhân dân Nhật
Bản đã nhận thức đƣợc sức mạnh ƣu việt của nền văn minh phƣơng Tây,
định hƣớng đƣợc con đƣờng đúng đắn phải đi là mở cửa, học tập khoa học
kinh tế phƣơng Tây để thoát khỏi họa ngoại xâm. Công cuộc cải cách Minh
Trị bắt đầu từ năm 1863 đã nhanh chóng đƣa đất nƣớc Nhật trở thành một
trong những nuƣớc tƣ bản phát triển cuối thế kỷ XIX.
Đối với Thái Lan trƣớc sự xâm lƣợc của đế quốc Anh ở Trung Quốc và
Mianma Thái lan đã ra sức đề phòng tìm cách chống ngoại xâm. Giai cấp
phong kiến Thái Lan đã chủ trƣơng cải cách ôn hòa trong lĩnh vực chính trị,
xã hội, tăng cƣờng buôn bán với phƣơng Tây nhờ đó mà bảo vệ nền độc lập
của mình. Với việc ký kết một số hiệp ƣớc bất bình đẳng với Mỹ, Anh,
Pháp, Hà Lan, Đan Mạch chịu hy sinh một số quyền lợi về thuế quan,
thƣơng mại, lãnh thổ. Nhờ đó mà Thái Lan đã tránh đƣợc chiến tranh và trở
thành vùng đẹm giữa hai khu vực thuộc địa của Anh và Pháp.
Cũng nhƣ các quốc gia khác ở Đông Nam Á Việt Nam không có điều
kiện, khả năng đi theo con đƣờng của Nhật Bản, Thái Lan, giai cấp thống trị
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 20
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 21
quyền. Còn đối với nhà Nguyễn đƣợc thiết lập bằng cuộc nội chiến phản
cách mạng nhờ cầu viện nƣớc ngoài. “Do bản chất và xu thế phát triển lịch
sử của mình, nhà Nguyễn đã không đóng vai trò tiến bộ, thúc đẩy lịch sử
phát triển về mọi mặt, nội trị, ngoại giao, quốc phòng, kinh tế làm cho dân
tộc ta phải trả một giá đắt từ tột đỉnh vinh quang đến tận cùng khổ nhục để
rồi từ tận cùng đau thƣơng khổ nhục bằng máu và nƣớc mắt sau 117 năm (
1858 - 1975) mới đến đƣợc bến bờ vinh quang. Độc lập – thống nhất toàn
vẹn lãn thổ.”
2
Xuất phát từ thực tế phức tạp trong một giai đoạn lịch sử vì vậy có nhiều
ý kiến khác nhau khi đánh giá về Triều Nguyễn giới sử học từ trƣớc tới nay
có nhiều ý kiến cho rằng: “ vƣơng Triều Nguyễn có công rất lớn trong việc
dấy lại nghiệp cƣ, dựng lên nghiệp mới công đức đều to từ đời Hồng Bàng
trở xuống chƣa bao giờ có”. Lại có ý kiến cho rằng: “ đây là một triều đại
phản động toàn diện, ngu đần và ngoan cố”.
Ngày nay chúng ta đã có cái nhìn mới, đánh giá khách quan hơn về
Triều Nguyễn trƣớc cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc. Vì vậy khi
nhận định, đánh giá về triều đại này chúng ta phải ghi nhận những mặt tích
cực, những đóng góp của Triều Nguyễn trong quá trình phát triển lịch sử
dân tộc. Đồng thời cũng cần nêu nên những hạn chế và trách nhiệm của
vƣơng triều này trong việc để nƣớc ta rơi vào tay thực dân Pháp ở nửa sau
thế kỷ XIX. Để hiểu rõ hơn về vƣơng triều này trƣớc tiên chúng ta cần tìm
hiểu về tình hình kinh tế chính trị của vƣơng triều này.
1. Chính trị
a. Tổ chức bộ máy nhà nƣớc
Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long
Gia Long, nhóm thứ hai lại hƣớng về công lao của nhà Tây Sơn. Theo ý
kiến của cá nhân tôi thì công lao của Nguyễn Huệ chính là ngƣời mở đƣờng
còn Gia Long là ngƣời hoàn tất sự nghiệp thống nhất ấy.
Sau khi lên ngôi Gia Long đã lấy lại quốc hiệu là Đại Việt sau đó đổi
thành Việt Nam ( 1804). Các vua Nguyễn đã thiết lập lại bộ máy chính trị
quân chủ chuyên chế tập trung mọi quyền lực về tay nhà vua. Vua là ngƣời
đứng đầu nhà nƣớc, có quyền lực vô hạn mà không một thứ thần quyền nào
có thể khống chế đƣợc. Mệnh lệnh nhà vua ban ra thì tuyệt đối phải thi
hành. Giúp việc cho vua có thị thƣ viện ( thời Gia Long), văn thƣ phòng (
thời Minh Mạng) có nhiệm vụ giải quyết giấy tờ, vă thƣ, còn việc quân đốc
trọng sự thì có tứ trụ đại thần sau đổi thành viện cơ mật. Bên dƣới vua là 6
3
Nguyễn Phan Quang - Việt Nam thế kỷ XIX ( 1802 - 1884). NXB Tp. Hồ Chí Minh, 2002. Tr 38.
4
Nguyễn Phan Quang – Sđd, Tr. 38.
5
Nguyễn Phan Quang – Sđd, Tr. 40.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 23
bộ ( Lại, Lễ, Binh, Hình, Công, Hộ) có nhiệm vụ chỉ đạo các công việc
chung của nhà nƣớc. Đứng đầu mỗi bộ là 1 thƣợng thƣ, hai tả hữu tham tri,
hai tả hữu thị lang. Ngoài ra còn có các cơ quan chuyên môn nhƣ đô sát
viện, hàn lâm viện, thái y viện, quốc tử giám, nội vụ phủ…
Có thể nói nhà nƣớc quân chủ chuyên chế nhà Nguễn “thực chất là tiếp
tục thể chế quân chủ thời Lê sơ, nhƣng đƣợc nâng lên ở mức cao hơn nhằm
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Thầy Trịnh Thành Công
SVTH: Lê Thị Lành
Trang 24
đƣợc ƣu tiên, nhằm giảm bớt tệ tham nhũng và hạn chế tính chất tƣ hữu về
ruộng đất. Vì vậy quan lại chỉ đƣợc cấp lƣơng bổng, và một số lúa gạo tùy
theo phẩm hàm và chức tƣớc.
Nhằm tập trung quyền lực và đề phòng mọi sự lấn át uy quyền của nhà
vua, khi lên ngôi Gia Long đã đặt ra lệ “ tứ bất” bốn không: không đặt chức
tƣớc, không lấy trạng nguyên, không lập hoàng hậu, không phong vƣơng
cho ngƣời khác, các chức tứ trụ: tam thái, tam thiếu, dƣới triều Nguyễn chỉ
còn là những vinh hàm gia phong cho công thần.
Nhƣ vậy bộ máy nhà nƣớc dƣới Triều Nguyễn không cồng kềnh, cũng
không đông đảo song không vì thế mà bớt đi tệ tham nhũng. Với quan điểm
trị nƣớc theo định hƣớng chính trị của Nho giáo, Triều Nguyễn đã tham
khảo mô hình tổ chức bộ máy thời Minh, Thanh của Trung Quốc, nâng cao
và hoàn thiện bộ máy nhà nƣớc quân chủ chuyên chế vững mạnh, tự tôn và
bành chƣớng. Nhƣng về thực chất bộ máy nhà nƣớc quân chủ chuyên chế
đó ngày càng đi xa rời với thực tế, bảo thủ, cố chấp, kém hiệu lực và ngày
càng trở nên lạc hậu trƣớc trào lƣu canh tân và Âu hóa ở nửa sau thế kỷ
XIX.
b. Luật pháp
Năm 1811 vua Gia Long chỉ dụ cho Nguyễn Văn Thành trên cơ sở tham
khảo luật Hồng Đức, luật nhà Thanh và biên soạn bộ luật Gia Long, hay
còn gọi là Hoàng triều luật lệ.
“Bộ luật bao gồm 21 quyển chính với 398 điều và một quyển phụ lục với
30 điều với bố cục nhƣ sau:
Quyển 1: kiểm kê các luật lệ
Quyển 2 và 3: ( 45 điều): quy tắc các luật lệ
Quyển 4 và 5 ( 27 điều): luật hành chính
thoát khỏi ách đô hộ của nƣớc ngoài mà là kết quả của việc đánh bại nhà
Tây Sơn. Vì vậy khi nắm quyền Triều Nguyễn không thực hiện triệt để
8
Nguyễn Phan Quang – Sđd, Tr. 20.
9
Nguyễn Phan Quang – Sđd, Tr. 20.