TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
BÀI TẬP TỐT NGHIỆP:
Lâm Đồng th áng 12 n ăm 2009
Ng ườ i hướng dẫn :
PGS.TS Lã Thị Bắc Lý
Nhóm thực hiện:
1. Lâm Thị Kim Huệ
Số báo danh: 67
2. Hoàng Khánh Dung
Số báo danh: 23
Lớp 3A – Lâm Đồng
Để hoàn thành tốt đề tài này, chúng em vô cùng
cảm ơn các thầy cô giáo khoa Giáo dục mầm non,
Trường Đại học sư phạm Hà Nội, các bạn đồng nghiệp
Mầm non Sơn Ca, Huyện Đức Trọng, Tỉnh Lâm Đồng.
Trong thời gian qua đó tạo điều kiện thuận lợi để
chúng em thực hiện và hoàn thành bài tập tốt nghiệp
này.
Đặc biệt hơn chúng em hết lòng biết ơn cô Lã
Thị Bắc Lý, giảng viên ngữ văn, khoa Mầm non
trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tận tình hướng dẫn
chúng em thực hiện đề tài này.
Đề tài được hoàn thành là niềm vui lớn nhất đối
với chúng em. Hy vọng rằng, nó sẽ giúp ích cho những
ai cần tài liệu để tham khảo thêm trong việc hướng dẫn
trẻ đọc thơ.
Một lần nữa, chúng em xin chân thành cảm ơn!
Nhóm thực hiện
IV. Phương pháp nghiên cứu:
1. Đọc tài liệu.
2. Quan sát ghi chép.
3. Thực nghiệm sư phạm.
4. Xử lý số liệu.
V. Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
1. Đối tượng nghiên cứu: Khả năng phát âm của trẻ mẫu giáo lớn.
2. Khách thể: 30 cháu trẻ mẫu giáo lớn ở trường Mầm Non Sơn Ca -
Huyện Đức Trọng - Tỉnh Lâm Đồng.
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương I
I. Cơ sở lý luận ngữ âm.
1. Đặc điểm của âm tiết tiếng Việt:
Có tính phân tiết cao, các âm tiết đứng cách nhau, mỗi âm tiết bao giờ cũng
gắn liền với thanh điệu và làm thay đổi ý nghĩa của âm tiết.
Vì vậy: Lời nói của con người bao giờ cũng là lời nói thành tiếng. Khi nói
chúng ta phải phát âm ra thành từ, thành câu, thành văn bản để truyền đạt nội dung
thông báo. Khi nghe chúng ta tiếp nhận các âm thanh người nói phát ra, từ đó hiểu
được nội dung của lời nói. Trong âm thanh của lời nói do một cá nhân phát ra,
ngoài những đặc điểm cụ thể còn có một cái chung nhất mang chức năng xã hôị.
Những âm thanh cụ thể của lời nói, của mỗi cá nhân là những thực thể mang chức
năng xã hội.
2. Hệ thống ngữ âm của âm tiết tiếng Việt:
Có 5 thành phần Sắp xếp theo sơ đồ sau:
Âm đầu
1
Thanh điệu
5
Vần
Âm điệu
mả, mạ về độ cao. Các âm tiết trước đều được phát âm với cao độ cao, các âm tiết
sau phát âm với cao độ thấp.
* Thanh điệu là sự thay đổi về âm điệu, trong những âm tiết trên thì những âm
tiết cùng thuộc độ cao lại đối lập nhau về sự biến thiên của độ cao, trong thời gian
âm tiết “ma” được phát âm với cao độ hoàn toàn bằng phẳng; còn “mã” với đường
nét biến thiên, cao độ không bằng phẳng. Âm điệu là những đường nét biến thiên
về cao độ.
* Nguyên âm trong Tiếng Việt được coi là âm chính, nguyên âm là khi nói âm
vị phát ra luồng hơi đi tự do không có gì cản trở.
VD: Khi phát âm “t” hơi bị cản trở ở đầu lưỡi chạm vào lợi; còn với âm “a”
hơi thoát ra tự do không bị cản ở chỗ nào cho nên “ă” cũng là nguyên âm. Xét về
mặt cấu tạo người ta phân chia phân biệt nguyên âm đơn và nguyên âm đôi.
- Nguyên âm đôi là gồm 2 nguyên âm ghép lại liền nhau. Khi phát âm thì đọc
nhanh, đọc lướt từ âm này sang âm kia, đầu mạnh sau yếu hơn, do đó âm sắc chủ
yếu của các nguyên âm đôi là do âm đầu quyết định. Có 3 nguyên âm đôi đó là:
uô, ươ, ie. Xét về độ dài, cần phân biệt nguyên âm ngắn và nguyên âm dài, nguyên
âm ngắn khi phát ra không thể kéo dài, nếu kéo dài có thể ảnh hưởng đến nghĩa.
* Phụ âm: Các âm vị đảm nhiệm thành phần âm đầu của âm tiết Tiếng Việt
bao giờ cũng là các phụ âm. Phụ âm là âm vị khi phát âm luồng hơi đi ra bị cản ở
chỗ nào đó trong bộ máy phát âm, phụ âm có loại bị cản ở môi; có loại bị cản ở
răng, có loại bị cản ở lưỡi; có loại bị cản ở thanh hầu. Về phương thức phát âm
người ta chia phụ âm thành:
- Phụ âm tắc: Hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệng vào mũi: b, d, t, s c, k,
m,r, p, ng.
- Phụ âm sát: Hơi đi qua kẽ hở miệng: p, v, s, z, l, x, y, h.
- Phụ âm vang: Hơi thoát ra đầu lưỡi và bên lưỡi: m, n, nh.
- Phụ âm ồn: Hơi thoát ra đằng miệng có tiếng ồn: b, d, t, c, k, p, f, v, x, z, y,
h.
- Phụ âm hữu thanh, vô danh trong các âm ồn: Căn cứ vào chỗ dây thanh có
rung hay không rung người ta chia ra:
gãy ở giữa. Vì vậy dễ đồng nhất với âm điệu của thanh sắc (Phát âm “mỡ” thành
“mớ”).
- Sự chuyển đổi hướng đi của đường nét âm điệu thanh hỏi không diễn ra đột
ngột như thanh ngã, quá trình phát âm kéo dài trở thành khó đối với trẻ nhỏ có hơi
thở ngắn.
- Khi phát âm, trẻ thay thế âm điệu gãy bằng âm điệu không gãy, điều này
làm cho thanh hỏi ở trẻ gần như đồng nhất với thanh nặng.
- Phát âm hỏi thành họi hoặc phát âm hổ thành hộ. Đến hết tuổi mẫu giáo lớn
lỗi sai về hai thanh này sẽ được khắc phục hầu như hoàn toàn.
2. Lỗi về âm chính:
Lỗi về âm chính tập trung vào các nguyên âm đôi này thành nguyên âm đơn
khi phát âm.
Ví dụ: Trẻ phát âm “Con hươu” thành “Con hiêu”, “Thịt” thành “xịt”.
Trẻ phát âm sai là do tập quán của địa phương hoặc do nghe chưa chính xác,
các âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi làm cho cấu tạo của âm tiết phức tạp
hơn, phát âm khó khăn hơn.
3. Lỗi phát âm đầu:
Trẻ thường hay nói lẫn lộn: l, n
Ví dụ: “Lá lúa” trẻ phát âm thành “lá núa” và có thể phát âm “cái nồi” thành
“cái lồi”.
- Lỗi lẫn “tr” thành “t” : “Gà trống” phát âm thành “gà tống”; “trăng sáng”
phát âm thành “tăng sáng”.
- Lỗi lẫn r thành d; gi thành d: “Cái rổ” thành “Cái dổ”; “Cô giáo” thành “Cô
dáo”.
Một số trẻ 5 tuổi khi phát âm phụ âm P trẻ lẫn sang phụ âm “b”
VD: “Đèn pin” thành “Đèn bin”.
4. Lỗi về âm đệm:
Âm đệm chỉ được đọc lướt qua nên trẻ khó ghi nhận những âm chính vì thế
âm đệm thường bị bỏ qua.
VD: Trẻ phát âm “Khuất phục” thành “Quất phục”; “Loắt choắt” thành “Lắt
đồ vật nhưng không được nhìn vào vật mà thử đoán: Nếu đúng thì cô bảo cháu bắt
chước tiếng kêu của con vật đó, nếu cháu gọi tên chưa đúng hoặc phát âm sai tên
gọi thì cô giáo phải phát âm mẫu rõ ràng, chuẩn xác cho các cháu nói lại và tập nói
theo.
Ví dụ: Cháu lấy được con ếch cháu phải nói đúng “con ếch”. Nếu cháu nói
“con ắt” cô giáo phải tập cho cháu nói lại. Sau đó cho các cháu bắt chước tiếng kêu
“ộp, ộp”.
Trò chơi: “Con gì kêu đấy”
Cô giáo treo trên bảng tranh vẽ những con vật, đồ vật và cho cháu đoán hoặc
bày lên bàn những đồ chơi là con vật hay đồ vật có tiếng kêu mà các cháu sẽ đố
nhau, cô bảo các cháu nhìn lên tranh và lên đồ chơi rồi gọi tên chúng. Sau đó cô
bắt chước tiếng kêu của từng con vật hoặc đồ chơi và yêu cầu trẻ nói đúng tên con
vật và đồ vật đó.
VD: Cô nói “tu tu, xình xịch” các cháu phải nói tàu hoả; Cô nói “Vít vít” thì
trẻ nói vịt con; “chiếp chiếp” thì nói gà con, cô nói “ò ó o” thì nói gà trống gáy…
Hoặc cô có thể cho một cháu ra ngoài lớp, sau đó cô và cháu ở trong lớp chọn một
con vật cất đi, cho cháu đó vào thì cô và cháu ở trong lớp bắt chước tiếng kêu của
con vật đó hoặc tiếng động cơ của đồ chơi, sau đó cô bảo cháu đó nói tên con vật
tên đồ chơi.
VD: Cả lớp đồng thanh “ò ó o…” các cháu phải nói gà trống hoặc “bim bim”
cháu phải nói ô tô.