1
ĐỀ TÀI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG
QUAN SÁT CỦA TRẺ MẪU GIÁO 4-5 TUỔI THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG LÀM QUEN VỚI MỘT SỐ LOẠI QUẢ
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
* Tầm quan trọng của vấn đề.
Một trong những nền tảng để đất nước phát triển đi lên đó là trí thức, mà
kho tàng trí thức của nhân loại ngày càng phát triển mạnh mẽ. Nhận thức được
điều này, trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, Đảng và nhà nước ta đã
khẳng định vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo. Đầu tư cho giáo dục là quốc
sách hàng đầu và đầu tư có chiều sâu, việc phát triển con người, nguồn nhân lực
trung tâm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp XNH – HĐH đất nước, gữi gìn bản sắc
văn hoá dân tộc và cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”.
Trẻ em là những chủ nhân tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc vì vậy mà giáo dục trẻ ngay từ lứa tuổi mầm
non là rất cần thiết. Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân, là
khâu đầu tiên quan trọng đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách toàn diên
cho trẻ, tạo cơ sở cho quá trình phát triển sau này của trẻ. Một trong những mục
tiêu của giáo dục mầm non là giáo dục trẻ “Thông minh, ham hiểu biết, thích
khám phá tìm tòi, có một số kĩ năng cơ bản cần thiết khi bước vào trường phổ
thông để tiến tới lĩnh hội kiến thức sâu rộng”. Trẻ ở lứa tuổi mầm non tiếp thu
kiến thức thông qua các hoạt động. Hoạt động làm quen với môi trường xung
quanh là một bộ phận quan trọng, tạo cơ hội điều kiện cho trẻ được quan sát các
sự vật và hiện tượng xung quanh, có tác dụng góp phần tích cực vào việc giáo
dục toàn diện, trong đó có giáo dục tình cảm, trí tuệ, tình cảm, thầm mĩ, đạo đức
cho trẻ.
Sáng kiến kinh nghiệm: Lê Thị Mi
nâng cao khả năng quan sát cho trẻ là rất cần thiết. Khả năng quan sát của trẻ mà
Sáng kiến kinh nghiệm: Lê Thị Mi
3
tôi sẽ giúp trẻ lĩnh hội được nhiều tri thức mới hơn nữa trong hoạt động cho trẻ
làm quen với môi trường xung quanh nói riêng và các hoạt động khác nói chung.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp
nâng cao khả năng quan sát của trẻ mẫu giáo từ 4-5 tuổi thông qua hoạt động
làm quen với một số loại quả” và tiến hành nghiên cứu.
* Giới hạn nghiên cứu của đề tài.
Từ tháng 9/ 2010 đến tháng 4/ 2011 tại lớp mẫu giáo 4-5 tuổi (15 trai – 15 gái)
trường mầm non Hồng Thái Tây- Đông Triều- Quảng Ninh.
1. Cơ sở lý luận.
Quan sát là tri giác có chủ định. Có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch về
các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan. Sự quan sát của một người nếu
được rèn luyện và bồi dưỡng có hệ thống, dần dần sẽ trở thành một khả năng
hay còn có thể coi là một cá tính ổn định và thường xuyên của con người.
Như trên vừa nói, quan sát là hình thức tri giác cao nhất, mang tính tích
cực, chủ động và có hình thức rõ rệt, làm cho con người khác xa con vật. Quá
trình quan sát trong hoạt động đặc biệt trong rèn luyện đã hình thành lên khả
năng quan sát ở con người.
Vậy khả năng quan sát là khả năng tri giác có mục đích nhằm phát hiện
những đặc điểm Thuộc tính của sự vật, hiện tượng xung quanh.
Khả năng quan sát của mỗi con người không hoàn toàn bẩm sinh mà nó
được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của con người, phụ
thuộc vào sự rèn luyện và giáo dục.
Kết quả quan sát phụ thuộc trước hết vào mục đích đặt ra rõ ràng đến mức
nào, việc định hướng chú ý vào những đối tượng quan sát và việc tổ chức kế
giờ tổ chức cho trẻ khám phá khoa học giúp trẻ tiếp cận thế giới xung quanh
một cách gần nhất, đồng thời đi sâu, tìm hiểu về đặc điểm đặc trưng của một số
loại quả, ích lợi, cách sử dụng một số loại quả qua đó giúp trẻ hứng thú hơn,
đồng thời kích thích khả năng sáng tạo của trẻ khi tham gia các hoạt động trải
nghiệm thực hành .
Sáng kiến kinh nghiệm: Lê Thị Mi
5
Mỗi giờ khám phá khoa học nói chung và làm quen với các loại quả nói
riêng khi sử dụng một số biện pháp nâng cao khả năng quan sát của trẻ sẽ phần
nào giúp giáo viên phát huy tốt khả năng của mình, thể hiện khả năng sáng tạo,
trí tưởng tưởng phong phú giúp cho mỗi giờ học thêm sinh động, hiệu quả.
Hiện nay với những xu thế chung là mỗi giáo viên cần tự học hỏi, bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, khi lựa chọn những hình thức khác nhau
để tổ chức các hoạt động cho trẻ trong các tiết dạy các giáo viên sẽ có cơ hội
được học tập, tìm hiểu nhiều hơn, phát huy tố chất nhiều hơn đồng thời đáp ứng
được nhu cầu giáo dục hiện nay về tiếp cận cái mới trong công tác chăm sóc,
giáo dục trẻ.
Hiện nay nhà trường đã và đang thực hiện đưa một số biện pháp, hình thức
tổ chức các hoạt động mới để nâng cao khả năng quan sát của trẻ vào chương
trình chăm sóc giáo dục trẻ nên việc giáo viên lựa chọn một số các biện pháp
mới, sáng tạo để nâng cao khả năng quan sát của trẻ trong một số hoạt động
khám phá khoa học nói chung sẽ đem lại cho đội ngũ giáo viên nhà trường
những phương pháp mới, biện pháp mới, góp phần nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ.
Cùng với sự phát triển chung của nhà trường, nâng cao hiệu quả giảng dạy,
phát huy tính tích cực của trẻ cũng là những mong muốn của các bậc phụ huynh,
cùng hưởng ứng giúp đỡ các giáo viên để thực hiện tốt công tác đổi mới hìnhh
thức dạy và học, phối kết hợp cùng nhà trường để con em tiếp cận điều mới mẻ,
luyện thói quen luôn luôn học hỏi, luôn luôn vận động, sáng tạo và tích cực khi
tổ chức cho trẻ mỗi giờ học, mỗi giờ khám phá thế giới xung quanh .
2. Luyện kỹ năng thực hành.
Để mỗi giờ dạy trẻ làm quen với một số loại quả đạt hiệu quả cao giáo
viên trước hết rèn luyện có những biện pháp cần thiết. Trau dồi kiến thức về
giáo dục trẻ một cách cơ bản nhất để có kỹ năng lựa chọn đồ dùng trực quan là
hình ảnh hay vật thật để tổ chức cho trẻ hoạt động
Tạo điều kiện cho trẻ thường xuyên được tiếp xúc với các sự vật, hiện
tượng xung quanh trong tính đa dạng của chúng.
Về phượng diện tâm lý học, có thể nói cuộc sống là một dòng hoạt động và
Sáng kiến kinh nghiệm: Lê Thị Mi
7
trong dòng hoạt động ấy, tất cả mọi yếu tố tham gia vào đó (đối tượng, động cơ,
phương tiện trong mỗi tác động qua lại với chủ thể) đều góp phần vào việc hình
thành và phát triển tâm lý, nhân cách con người.
Quá trình trẻ tiếp xúc, hoạt động với các sự vật, hiện tượng xung quanh còn
là điều kiện nhà giáo dục có các tác động sư phạm phù hợp nhằm nâng cao một
mặt nào đó về tâm lý của trẻ.
Ví dụ: Thông qua việc tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng cô giáo dạy trẻ
cách quan sát có hiệu quả, dạy trẻ quan sát tích cực, chủ động, tự giác…. giúp
trẻ biết cách quan sát và mở rộng vốn từ. Trong quá trình ấy trẻ còn được rèn
luyện và phát triển các năng lực cảm giác…
- Cách thực hiện:
Thông qua các hoạt động trong ngày của trẻ như: Giờ đón trẻ, giờ dạo chơi,
tham gia giờ chơi, hoạt động ngoài trời, hoạt động chiều, các hoạt động khác…
cô cho trẻ quan sát vật thật, xem tranh ảnh, mô hình, băng hình, chơi đồ, chơi,
đọc thơ, kể chuyện, hát, đọc câu đố…. Có nội dung miêu tả về các sự vật, hiện
tượng xung quanh để thấy đựơc sự phong phú, đa dạng muôn màu, muôn vẻ
- Trong ruột quả chanh có những phần nào?...
Cô giáo giao nhiệm vụ quan sát một cách khái quát như vậy đòi hỏi trẻ phải
tích cực chủ động tìm, tòi các phần, các bộ phận, các thuộc tính, các đặc điểm
của đối tượng để hoàn thành nhiệm vụ quan sát.
Nếu chúng ta thường xuyên tổ chức cho trẻ quan sát các sự vật, hiện tượng
xung quanh bằng hệ thống câu hỏi như trên thì sẽ giúp trẻ rèn luyện được tính
tích cực, chủ động, tự giác quan sát và dần dần hình thành ở trẻ khả năng, thói
quen quan sát độc lập, chủ động, ít bị phụ thuộc vào người lớn.
* Dạy trẻ biểu đạt những điều quan quan sát được bằng ngôn ngữ.
Mở rộng vốn từ là việc cung cấp thêm từ mới cho trẻ. Khi điều tra thực
trạng khả năng quan sát của trẻ và khi tìm hiểu việc tổ chức cho trẻ quan sát ở
trường mầm non, chúng tôi thấy trên thực tế trẻ thiếu vốn từ rất nhiều, vốn từ
của trẻ rất nghèo nàn và do đó ảnh hưởng rất lớn đến kết quả quan sát của trẻ.
Sáng kiến kinh nghiệm: Lê Thị Mi
9
Ví dụ: Khi trẻ quan sát quả Bòng (Bưởi) trẻ thấy được cùi bòng, múi bòng,
tép bòng nhưng trẻ không nói lên được vì trẻ không có từ “Cùi bòng”, “Múi
bòng”, “Tép bòng”.
Như vậy vốn từ của trẻ có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả quan sát của trẻ.
Do đó cần thiết phải mở rộng vốn từ để phát triển khả năng quan sát cho trẻ.
Vốn từ ở đây đề cập tới số lượng từ và mức độ của từ, ngoài ra còn dạy trẻ rèn
luyện vốn từ bằng cách diễn đạt suy nghĩ của mình.
- Để mở rộng vốn từ, chúng ta cung cấp thêm từ loại cho trẻ như danh từ,
tính từ, động từ… việc cung cấp thêm từ loại luôn gắn liền với quá trình quan
sát sự vật, hiện tượng. Cứ như vậy số lượng từ của trẻ tăng dần lên giúp trẻ có
nhiều từ ngữ để gọi tên các thuộc tính của sự vật, hiện tượng, và cùng với việc
vốn từ được mở rộng thì vốn tri thức, vốn kinh nghiệm của trẻ cũng tăng lên.
* Dạy trẻ thể hiện kết quả quan sát và hoạt động thực tiễn.
cho trẻ làm quen ở nhà hoặc có thể mang những dồ dùng thật đó đếnn lớp để hỗ
trợ quá trình giảng dạy của các cô đạt kết qủa cao
4. Kiểm tra, đánh giá :
Kiểm tra và đánh giá sau các hoạt động là hết sức cần thiết vì chỉ có thế sau mỗi
giờ dạy tôi mới biết mình cần rút ra những bài học gì? hình thức ra sao? đã gây
được hứng thú cho trẻ không? cùng với việc đánh giá khả năng của trẻ khi tham
gia các hoạt động sự hứng thú, hiểu bài, cảm nhận, khả năng diễn đạt,..
Đối với trẻ việc kiểm tra đánh giá là phải kịp thời để có sự thay đổi về phương
pháp hay hình thức sao cho phù hợp với trẻ .
Sau mỗi làn tổ chức cho trẻ làm quen với một số loại quả , tổ chức các hoạt
động tôi thường kiểm tra,đánh giá trên cơ sở qua bài học trẻ nắm được những
gì , trẻ biết đặc điểm đặc trưng, màu sắc. ích lợi cách sử dụng của từng loại quả
hay không. Ví dụ : Khi kết thúc giờ làm quen với một số loại quả tôi tổ chức cho
trẻ chơi trò chơi : Xếp hoa quả .Cô có thể đặt câu hỏi:
- Con xếp đĩa hoa quả có những loại quả gì ?
- Những loại quả nào ăn có vị ngọt?
Sau đó cô cho trẻ về góc tạo hình để vẽ, tô màu một số loại quả
Sáng kiến kinh nghiệm: Lê Thị Mi
11
Sau mỗi giờ đó tôi cần ý kiến của bạn đồng nghiệp góp ý, ban giám hiệu
bổ xung những ý tưởng hay , sáng tạo để tiết dạy hoàn hảo hơn
Sau mỗi tuần tôi tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động ôn luyện
như :Đọc đồng dao về một số loài quả , chơi trò chơi về một số loại quả, bản
thân tôi rút kinh nghiệm sau mỗi bài dạy đưa ra kế hoạch cụ thể để thực hiện vào
hoạt động quan sát của tuần tiếp theo.
Sau mỗi giai đoạn tôi cùng tổ viên bàn họp cùng đề xuất với ban giám
hiệu
nhà trường tổ chức một số cuộc thi nhỏ : Thi bóc cam, thi xếp hoa quả, thi chọn
* Biểu dương :
Biểu dương là một hình tức hết sức quan trọng đối với trẻ vì:
Là phương pháp động viên khen ngợi trẻ sau mỗi một hoạt động hay sau
mỗi một việc làm của trẻ, được động viên khen ngợi kịp thời trẻ phấn khích hơn
và làm tốt hơn, cho dù trẻ thực hiện chưa thật tốt thì vẫn phải động viên khen
ngợi kịp thời, như vậy trẻ không bị nhàm chán .có thể động viên khen ngợi trẻ
bằng nhiều hình thức khác nhau như :Phát hoa, phiếu bé ngoan vào cuối ngày,
cuối tuần .
Trong giờ khám phá khoa học cô giáo thường xuyên động viên trẻ để trẻ
tích cực hơn tham gia hoạt động, cuối giờ học cô nhận xét khả năng của từng trẻ
trong giờ học tuyên dương trẻ trước lớp ,động viên, khích lệ trẻ trước phụ
huynh để trẻ được khen ngợi của bố mẹ.
* Tuyên truyền :
Để phụ huynh biết việc cho trẻ khám phá khoa học là một môn học giúp
trẻ phát triển nhận thức một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất thì có rất nhiều
biện pháp giúp phụ huynh nắm bắt rõ .
Bằng cách tạo các góc tuyên truyền có tranh ảnh khẩu hiệu được trang trí
ngoài lớp hưóng vào sự tập trung chú ý, mời phụ huynh đến để dự giờ thăm lớp,
tham gia những giờ khám phá khoa học, hoạt động ngoài trời của cô giáo và trẻ,
mời phụ huynh tham gia các hội thi, các chuyên đề do trường, lớp hay phòng tổ
chức, bằng cách trao đổi thảo luận với phụ huynh vào giờ đón trả trẻ hàng ngày.
Gia đình và nhà trường phối hợp chặt chẽ, để có phương pháp chăm sóc giáo
dục trẻ để thống nhất với nhau để công tác, chất lượng dạy trẻ đạt hiệu quả.
Sáng kiến kinh nghiệm: Lê Thị Mi
13
Tìm ra những mặt ưu điểm và nhược điểm của trẻ, những biện pháp giáo
dục có hiệu quả. Động viên các bậc phụ huynh nên động viên khuyến khích trẻ
tìm hiểu khám phá những điều xung quanh trẻ hàng ngày và trảlời các câu hỏi
TT
Đối tượng
Trước thử nghiệm
TSĐ
đạt
Mức
độ
Sau thử nghiệm
TSĐ
đạt
Mức độ
1
Ninh Phương Anh
44
Khá
60
Tốt
2
33
TB
5
Bùi Mạnh Khải
16
Yếu
18
Yếu
6
Vũ Đình Phương
44
Khá
62
Tốt
7
82
Xuất sắc
10
Vũ Đức Huy
21
TB
33
TB
11
Hoàng Hải Yến
32
TB
40
Khá
12
43
Khá
15
Phạm Thanh Thảo
21
TB
35
TB
16
Nguyễn Tiến Phát
23
TB
35
TB
17
30
Khá
20
TrầnThị Thanh Bình
40
Khá
58
Khá
21
Hoàng THái Sơn
17
Yếu
29
TB
22
47
Khá
25
Nguyễn Nguyên Vũ
20
TB
30
TB
Sáng kiến kinh nghiệm: Lê Thị Mi
15
26
Đặng Bảo Long
16
Yếu
17
32
TB
55
Khá
30
Phùng Gia Phú
20
TB
40
Khá
Nhìn vào bảng kết quả ta có thể nhận thấy khả năng quan sát của trẻ được
nâng cao sau khi nâng cao sau khi trẻ được tác động các biện pháp sư phạm. Trẻ
đạt mức độ khá tốt tăng nên rõ rệt và đã có trẻ có khả năng quan sát đạt mức độ
xuất sắc (một trẻ chiếm 3,3 %). Khi trẻ được quan sát các sự vật hiện tượng với
các bài tập thử nghiệm tôi thấy trẻ rất hứng thú tập chung chú ý và đưa ra được
những nhận xét theo ý hiểu của bản thân hoặc theo sự chỉ dẫn của cô. Đôi khi trẻ
còn đưa ra các câu hỏi thắc mắc tại sao chỉ ra các đặc tính khó phát hiện, trẻ
luôn chủ động tích cực sáng tạo khi quan sát. Khi thực hiện các bài tập thực
nghiệm trẻ mạnh dạn cầm lên tay các loại quả để xoa, ngửi, ấn...
Bên cạnh đó vẫn còn trẻ khả năng quan sát đạt mức độ yếu ( 03 trẻ chiếm
Một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như sau:
+ Người lớn nói chung: Cô giáo mầm non (nhà giáo dục) nói riêng, chưa
nắm vững và chưa chú trọng, chưa quan tâm đúng mức và chưa thường xuyên
đến việc phát triển khả năng quan sát cho trẻ, chưa có biện pháp phù hợp để
hướng dẫn trẻ quan sát.
+ Sự rèn luyện các năng lực cảm giác, tri giác, quan sát cho trẻ chưa được
thực hiện thường xuyên và đồng đều giữa các mặt.
+ Sự đầu tư về cơ sở vật chất (phương tiện) trong trường mầm non Hồng
Thái Tây chưa cao, chưa phong phú, người lớn (Cô giáo) chưa tận dụng triệt để
các điều kiện thực, các hoàn cảnh thực để cho trẻ quan sát, tìm hiểu các sự vật,
hiện tượng xung quanh.
+ Phương pháp tổ chức quan sát cho trẻ trong các hoạt động ở trường mầm
non, nói chung và trong hoạt động LQVMTXQ nói riêng (tróng đó có làm quen
với các loại hoa quả) chưa phát huy được tính chủ động trong quan sát của trẻ.
Sáng kiến kinh nghiệm: Lê Thị Mi
17
2. Việc trú trọng đúng mức và có những biện tổ chức quan sát một cách
khoa học, hợp lý đã giúp cho khả năng quan sát của trẻ phát triển tốt, trẻ thể hiện
rõ nét tính tích cực chủ động trong quan sát.
Năm biện pháp tác động nâng cao khả năng quan sát cho trẻ 4-5 tuổi phát
huy tính tích cực, chủ động quan sát của trẻ.
Biện pháp 1: Tạo điều kiện cho trẻ thường xuyên tiếp xúc với các sự vật,
hiện tượng xung quanh trong tính đa dạng của chúng.
Biện pháp 2: Dạy trẻ cách quan sát có hiệu quả.
Biện pháp 3: Tổ chức cho trẻ quan sát kết hợp với những câu hỏi.
Biện pháp 4: Dạy trẻ biểu đạt những điều quan sát bằng ngôn ngữ.
Biện pháp 5: Dạy trẻ thể hiện kết quả quan sát vào hoạt động thực tiễn.
giới xung quanh). Nếu không có đồ dùng trực quan thì trẻ không thực hiện
nhiệm vụ quan sát. Vì vậy việc trang bị đồ dùng dạy học, đồ chơi trong lớp,
ngoài trời… cần được quan tâm đúng mức.
Các đồ dùng trực quan bằng vật thật là điều quan trọng hơn cả đối với trẻ.
chỉ có đối tượng quan sát bằng vật thật thì trẻ mới nhận thức được đầy đủ, chính
xác, trọn vẹn các thuộc tính của chúng, trẻ mới có điều kiện để rèn luyện và phát
triển các năng lực cảm giác. Năng lực tri giác - yếu tố cơ bản của năng lực quan
sát. Muốn vậy các trường mầm non nói chung và trường mầm non Hồng Thái
Tây nói riêng, cần được tạo điều kiện về diện tích rộng rãi, trồng nhiều cây
xanh, cây ăn quả, hoa, rau… cần được nuôi nhiều con vật quen thuộc, để trẻ có
điều kiện tiếp xúc, quan sát và nhận biết mối quan hệ và sự phát triển của các sự
vật hiện tượng ấy.
Vấn đề thứ 3 là trình độ của các cô giao mầm non. Các cô giáo mầm non
phải yêu nghề mến trẻ, phải tâm huyết với nghề, và sự hiểu biết về đặc điểm và
phát triển tâm lý, sinh lý của trẻ, có trí thức và phương pháp giáo dục nói chung
và phương pháp tổ chức quan sát nói riêng thù mới có các biện pháp và vận
dụng tốt các biện pháp vào việc nâng cao khả năng quan sát, khẳ năng nhận thức
của trẻ được (nhất là áp dụng 5 biện pháp như đã thử nghiệm).
Sáng kiến kinh nghiệm: Lê Thị Mi
19
Vì vậy tôi rất mong các cấp lãnh đạo có thẩm quyền quan tâm giúp đỡ cho
bậc học mầm non nói chung và cho trường mầm non Hồng Thái Tây nói riêng,
về cơ sở vật chất cũng như các vất đề tôi nói ở trên, để cho trẻ mầm non ngày
càng nhanh nhẹn, hoạt bát và thông minh hơn, tôi xin chân thành cảm ơn.
Trên đây là toàn bộ sáng kiến kinh nghiệm của tôi và việc áp dụng sáng
kiến này vào công tác giảng dạy chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót. Tôi mong
rằng được sự quan tâm góp ý của các cấp lãnh đạo, chị em đồng nghiệp để việc
Trang
1
3
4
5
6
6
9
10
11
12
13
I. Đặt vấn đề
1. Cơ sở lý luận.
2. Cơ sở thực tiễn.
II. Nội dung nghiên cứu đề tài
1. Bồi dưỡng nhận thức
2. Luyện kỹ năng thực hành
3. Tăng cường cơ sở vật chất
4. Kiểm tra đánh giá
5. Phê phán rút kinh nghiệm
6. Biểu dương tuyên truyền
7. Khuyến khích bằng vật chất
III. Kết quả nghiên cứu
IV. Kết luận.
V. Đề nghị.
VI. Tài liệu tham khảo
VII. Mục lục
các quy định của trường của ngành đề ra.
- Không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ phục vụ cho
công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
- Có lối sống giản dị, không xa hoa lãng phí, đoàn kết với chị em trong
trường, thân thiện với phụ huynh, nhân dân trong thôn.
- Tích cực tham gia công tác quần chúng như dọn vệ sinh đường làng, tham
gia giao lưu văn nghệ do thôn, xã tổ chức.
II. KẾT QUẢ CÔNG TÁC
1.Công tác chủ nhiệm
- Năm học 2010-2011 tôi đã được BGH trường mầm non Hồng Thái Tây
phân công nhiệm vụ chủ nhiệm lớp mẫu giáo 4 tuổi thôn 7.
- Công tác phát triển đảm bảo được sĩ số trường giao
- Trẻ được chăm sóc và giáo dục theo yêu cầu của trường đề ra
- Thực hiện đúng nội quy quy định của nhà trường
- Đảm bảo an toàn tuyệt đối 100% tính mạng cho trẻ, trẻ không bị ngộ độc
thức ăn, nước uống.
2.Thực hiện phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện học sinh
tích cực.
Sáng kiến kinh nghiệm: Lê Thị Mi
23
-Tôi đã tham mưu với phụ huynh ủng hộ kinh phí mua chăn đắp mùa đông
cho trẻ.
3. Công tác khác
- Làm thêm nhiều đồ dùng trực quan phục vụ cho chuyên đề khám phá khoa
học
- Viết sáng kiến kinh nghiệm môn khám phá khoa học.