Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Trong tiếng Việt có một số lớn từ gốc Hán mà ta thường gọi là từ ngữ Hán
Việt. Nó chiếm tỉ lệ bao nhiêu trong kho tàng tiếng Việt, cho đến nay, chưa thể
biết được đích xác. Nhiều người dẫn con số 60% của Maspero thống kê nhưng
đá quá cũ, từ bấy đến nay tiếng Việt đã phát triển và chắc chắn là tỉ lệ đã thay
đổi. Chúng tôi chỉ thống kê 2.000 mục từ của cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng
Phê chủ biên thì thấy con số không phải như vậy, từ ngữ Hán Việt chiếm khoảng
40%. Công việc thống kê để có được số lượng chính xác, khoa học còn chờ ở
tương lai. Dù sao đi nữa, độ phong phú của từ ngữ Hán Việt là điều dễ thấy qua
từ điển, qua các văn bản, nhất là văn bản khoa học, chính luận, báo chí v.v
Từ ngữ Hán Việt đến với người Việt, hay nói một cách khác, theo cách nói
của các nhà ngôn ngữ học, sự thủ đắc từ ngữ Hán Việt, cũng như các lớp từ ngữ
khác, do nhiều con đường: con đường tự nhiên, tự phát, tức là qua thực tiễn giao
tiếp xã hội, mỗi người tự thể nghiệm, tự tìm hiểu để nắm được ý nghĩa, cách
dùng nó. Sự thực là như vậy, nếu chúng ta chú ý quan sát lời ăn tiếng nói của
các em ở lứa tuổi trước lúc đi học; cũng như trong ngôn ngữ người lớn tuổi
không có cái may mắn được cắp sách đến trường. Chỉ có điều là họ đã hiểu một
số từ Hán Việt, đã biết dùng một số từ Hán Việt mà không ý thức được đó là từ
Hán Việt. Đối với họ, những từ đó cũng là từ Việt, như tất cả những từ khác. do
đó, cần thiết phải có con đường thứ hai: Sự học tập trong nhà trường. Từ lớp 6
trong bộ môn Tiếng Việt.
Vấn đề ở đây là giáo viên phải xác định cho được một danh sách các từ
ngữ khó hiểu cần giảng giải cho học sinh theo từng năm học. Về nguyên tắc thì
những từ ngữ nào có ý nghĩa cụ thể biểu thị những sự vật, hoạt động, tính chất
tương đối gần gũi với học sinh thì dễ hiểu, còn những từ nào có ý nghĩa khái
quát, trừu tượng, biểu thị những sự vật, họat động, tính chất xa lạ với học sinh
thì khó hiểu.
Cái khó nhất hiện nay vẫn là trình độ của giáo viên và sách giáo khoa. Giáo
viên của chúng ta hiện nay nói chung là không đủ trình độ để giảng dạy có kết
Mặt khác trong các năm học gần đây theo yêu cầu của chuyên môn, chúng tôi
đã nắm bắt sự triển khai theo tinh thần chỉ đạo của Sở giáo dục và Đào tạo,
Phòng giáo dục và Đào tạo về môn Ngữ văn, chúng tôi đã tổ chức các chuyên đề
về cách soạn và dạy môn Ngữ văn. Từ đó tôi mạnh dạn đề xuất, thảo luận một
số ứng dụng trong khi dạy môn Ngữ văn ở khối lớp 7 về cách dạy những bài về
từ Hán Việt.
2
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Riêng những phần nêu dưới đây chúng tôi đã dạy thể nghiệm ở một số
đồng chí giáo viên trên lớp và sinh hoạt tổ , nhóm cặn kẽ, trao đổi cụ thể từng
bước soạn và lên lớp áp dụng cho 2 lớp 7a, 7b năm học 2010 – 2011 và năm học
2011 - 2012. Chính kết quả thu được đại trà ở 2 lớp 7 đã khích lệ tôi trình bày đề
tài này.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận của vấn đề
Mục đích của việc học tiếng Việt ở trường THCS là nhằm cung cấp
những tri thức tiếng Việt cho học sinh, giúp các em vận dụng kiến thức lý thuyết
để giải quyết hệ thống bài tập sau mỗi tiết học. Nhưng quan trọng hơn là giúp
các em vận dụng kiến thức về tiếng Việt được cung cấp để vận dụng vào hoàn
cảnh cụ thể, hướng tới hình thành kỹ năng, kỹ sảo trong phát âm, dùng từ, đặt
câu cho đúng yêu cầu. Để làm được điều đó phải hướng các em vào hoạt động
giao tiếp, giải quyết các nội dung giao tiếp trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ
thể. Giao tiếp vừa là mục đích, cũng vừa là phương thức để dạy học tiếng Việt.
Bài học về “Từ Hán Việt” là nội dung quan trọng trong chương trình tiếng
Việt của sách Ngữ văn lớp 7 tập 1. Bài được dạy với thời lượng ít mà nội dung
kiến thức quá khó. Các ngữ liệu được đưa ra phân tích trong thời lượng của các
tiết học ngắn và khó. Giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh xem xét một vài ngữ liệu
tiêu biểu, còn lại hướng dẫn học sinh tự làm ở nhà. Dạy học theo quan điểm
giảng bài “Từ Hán Việt” một mặt phát huy được tính khách thể của ngôn ngữ,
7a 21 0 0 2 9,5% 8 38% 5 23,8% 6 28,5%
7b 20 0 0 1 5% 6 30% 9 45% 4 20%
Năm học 2011 - 2012
Lớp Sĩ
số
Điểm
9 - 10 7 - 8,5 5 - 6,5 3 - 4,5 0 - 2,5
SL % SL % SL % SL % SL %
7a 23 2 8,7% 5 21,7 10 43,5 5 21,7 1 4,35
7b 22 3 13,6 4 17,4 12 54,6 2 9.1 1 4,6
Bên cạnh những mặt yếu cùng với nhiều khó khăn, song các em ở trường
THCS Hạ Trung cũng có nhiều ưu điểm đáng khích lệ, các em đang ở độ tuổi
hiếu động, thích tìm tòi tranh luận, trường lại có bề dày về thành tích học tập, đó
là cơ sở để thúc đẩy các em học tập tốt.
Tóm lại: căn cứ vào hai cơ sở trên tôi đã đi sâu vào tìm tòi nghiên cứu để
thay đổi các hình thức tổ chức học tập cho học sinh cho phù hợp với đối tượng
học sinh và thực tế tình hình địa phương nhằm giúp các em tiếp thu bài tốt hơn,
nâng cao chất lượng môn học.
II. CÁC GIẢI PHÁP VÀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN VỀ CÁCH
NHẬN DIỆN VÀ DẠY YẾU TỐ HÁN - VIỆT
2.1. Giải pháp 1: Cách nhận diện và phân biệt từ thuần Việt và các
từ Hán – Việt
4
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Từ Hán – Việt chiếm một tỷ lệ khá lớn trong vốn từ tiếng Việt, đặc biệt
trong các văn bản văn học trung đại mà học sinh bắt buộc phải tìm hiểu .Do tầm
quan trọng đó mà sách giáo khoa ngữ văn lớp 7 đã dành cho chúng ta một thời
lượng vừa đủ.Ngữ văn Lớp 7, tập1 : tiết 18 và tiết 23.
2.1.1. Biện pháp 1: Cách nhận diện từ Hán Việt
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
học sinh đạt đến một trình độ học vấn nhất định. Đối với học sinh trung học cơ
sở đặc biệt khó khăn, đối với các em là học sinh người dân tộc như ở trường
THCS Hạ Trung huyện Bá Thước, tư duy của các em chủ yếu còn ở trình độ
trực quan, cảm tính. Vì vậy, các tiêu chí đưa ra để nhận diện từ Hán – Việt đối
với học sinh trung học cơ sở càng cụ thể, càng rõ ràng về hình thức, càng có tính
trực quan thì càng tốt, càng hiệu quả.
Trước khi đi vào tiêu chí nhận diện cụ thể, Tôi đã xác định một số khái
niệm cơ bản: từ thuần Việt và từ Hán – Việt. Bản thân tôi cho học sinh tìm hiểu
khái niệm từ Hán – Việt là gì?
Để làm sáng tỏ khái niệm này, cần cho học sinh phân biệt các khái niệm
sau: Cách đọc Hán – Việt, tiếng Hán – Việt, từ Hán – Việt và yếu tố gốc Hán.
Theo giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cách đọc Hán – Việt là một cách đọc vốn
bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, mà cụ thể Đường âm dạy
ở Giao Châu vào giai đoạn bao gồm khoảng 2 thế kỷ VIII và IX. Nói đến cách
đọc Hán – Việt là nói đến cái vỏ ngữ âm mà người Việt Nam gán cho hệ thống
văn tự Hán, bất luận những chữ được đọc đó là những chữ như thế nào.
Ví dụ: tuyết, học, cao, tuy, chẩm, giá, ma v.v.
Yếu tố gốc Hán là những yếu tố đã được du nhập vào trong tiếng Việt, bất
luận đó là những yếu tố như thế nào: quốc , gia, sơn, tuyết, mùa ( do vụ mà ra)
hoặc mỳ chính (vốn do vị tinh mà ra). v.v.
Cách đọc Hán – Việt
+ Một là: những lĩnh vực gồm những chữ Hán có thể đọc Hán – Việt
được, nhưng không liên quan đến tiếng Việt.
Ví dụ: chẩm, giá, ma
+ Hai là: những yếu tố người Việt, mượn từ tiếng Hán, nhưng chúng lại
không trực tiếp liên quan gì đến cách đọc Hán – Việt, ở đây có 3 trường hợp:
* Trường hợp mượn cách đọc Hán – Việt tức mượn từ thượng cổ như:
mùa, mùi, buồng, buồm… Vì chúng đã được nhập vào Việt Nam từ rất lâu đời
nên đã được Việt hóa hoàn toàn, rất khó có thể phân biệt được với những từ
mồm, sừng, chớp, làng xóm
+ Có những từ có sự tương tác với tiếng Tày – Thái: bánh, bắt, bóc, buộc,
đường, gọt, neo, méo, ngắt, ngẩm, ngợi, vắng
+ Những yếu tố thuần Việt là gốc Việt cổ Môn – Khmer: một, hai, ba,
bốn, mắt, cân , gối, cá, chim, đất, mưa, lúa, gió, trăng, ngày
+ Có những yếu tố gốc Thái: lưng, bụng, cằm, gà, vịt, đồng, rẫy, rùa
+ Có những yếu tố - như đã trình bày ở trên – được mượn từ tiếng Hán từ
thời thượng cổ đã được Việt hóa hoàn toàn ( thí dụ: mùi, mùa, buồng, buồm )
và những yếu tố cũng được mượn từ tiếng Hán đời Đường, nhưng sau đã diễn
biến theo một con đường khác với cách đọc Hán – Việt.
Các từ thuần Việt loại này có thể kể ra rất nhiều trong kho từ tiếng việt hiện nay:
7
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Âm Hán Âm Việt Âm Hán Âm Việt
Kính Gương Thanh Xanh
Các Gác Đại Đời
Cang Gang Cận Gần
Can Gan Kí Ghi
Hoạch Vạch Quả Góa
Bổn Vốn Kiếm Gươm
Bản Ván Phương Vuông
Phá Vỡ Long Rồng
Lực Sức
+ Có những từ được tạo bằng cách dùng chất liệu Hán – Việt kết hợp với
yếu tố thuần Việt theo quy tắc ngữ pháp tiếng Việt như; kẻ địch, người Việt, tàu
thủy cũng được coi là từ thuần Việt.
2.1.2. Biện pháp 2: Cách nhận diện và phân biệt từ thuần Việt và các
từ Hán – Việt
Để giúp học sinh nhận diện và phân biệt được các tiếng Hán – Việt nói
chung, từ đơn Hán – Việt nói riêng với các tiếng và từ đơn thuần Việt, giáo viên
Câu văn để ghi nhớ giúp nhận diện tiếng ( hoặc từ đơn) Hán – Việt:
Nguyện quyết cứu nguy.
Bất cứ tiếng hoặc ( từ đơn) nào có chứa vần của 4 từ trong câu trên dù có
âm đầu hoặc mang thanh điệu nào cũng đều là Hán – Việt, trừ một vài ngoại lệ
Loại thứ 2: Các cấu tạo âm thanh chỉ có ở tiếng ( hoặc từ đơn) thuần Việt.
Ví dụ:
- Mọi tiếng có kết hợp âm ết đều là thuần Việt ( trừ ngoại lệ, kết là Hán –
Việt)
- Mọi tiếng có kết hợp âm ưng ( ngoại trừ ưng, ứng ngưng là Hán -Việt)
đều là thuần Việt.
- Nhưng tiếng nào có âm đầu là R thì là Thuần Việt. Thí dụ, ro, rò, rỉ, rẻ
Đối với trường hợp các tiếng ( hoặc từ đơn) có chứa những kết hợp âm có
thể là Hán – Việt hoặc thuần Việt thì chúng ta dùng 3 tiêu chí đã được nêu ở trên
để nhận diện ngoài ra bản thân tôi xin cũng hay sử dụng một thủ pháp thực hành
khác sau đây. Thủ pháp này được dựa trên quy tắc cấu tạo từ đã được GS.
Nguyễn Tài Cẩn: để cấu tạo từ, tiếng Việt thường có xu hướng ghép các yếu tố
có cùng nguồn gốc với nhau ( H + H, V + V)
Thủ pháp cụ thể như sau:
Một tiếng nếu đứng riêng một mình rất khó xác định là thuần việt hay
Hán - Việt. Để xác định ta thử tìm xem có từ ghép Hán – Việt nào trong thành
phần có chứa đó hay không. Nếu tìm được thì tiếng được chứa trong từ ghép
Hán – Việt ấy cũng chính là Hán – Việt.
9
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Cơ sở để nhận biết một trong từ song tiết từ ghép Hán – Việt có thể như
sau: Trật tự yếu tố: yếu tố chính đứng sau yếu tố phụ: Hải quân, không phận,
chiến thuyền
- Ý nghĩa của từ khái quát, trang trọng (so với từ thuần Việt nếu có).
Ví dụ: Để xác định tiếng phận là Hán – Việt lẫn tiếng thuần Việt cho nên
buộc ta phải dùng quy tắc cấu tạo từ. Do ta tìm được trong từ vựng tiếng Việt có
xáo trộn trật tự các yếu tố được sắp xếp trong từng bài rồi cơ cấu lại, xếp lại các
yếu tố Hán – Việt đó theo những mối quan hệ, hệ thống hay quan hệ liên tưởng
khác nhau. Đó là, khi dạy lý thuyết từ ngữ, chúng ta cần phải chú ý đến tính hệ
thống, nếu chúng ta trình bày kiến thức về từ ngữ để dạy cho học sinh một cách
có hệ thống thì sẽ giúp cho nội dung học tập được thể hiện rõ ràng, dễ hiểu hơn
và dễ ghi nhớ hơn.
Trên cơ sở nguyên tắc sư phạm này, chúng ta có thể sắp xếp lại các yếu tố
Hán – Việt đã được cung cấp trong SGK và sắp xếp chúng theo các quan hệ
khác nhau đã thực hiện như sau:
- Các yếu tố Hán – Việt trái nghĩa: Cận, viễn, đại, tiểu, phú, bần, đa, thiểu
v.v.
- Các yếu tố Hán – Việt đồng âm, độc có nghĩa – “đọc” độc có nghĩa là
“ác” chỉ có một, phong có nghĩa là “gió” phong có nghĩa là “ ban cấp cho”, tặng
danh hiệu, và phong có nghĩa là mũi nhọn, ( tiên phong, giao phong v.v)
- Các yếu tố Hán – Việt đa nghĩa: Các yếu tố Hán – Việt có nhiều nghĩa
như:
Ngân có nghĩa:
1. Bạc: ngân bản vị, Thủy ngân
2. Tiền bạc, ngân hàng, ngân khố.
3. Có màu sáng như bạc: Ngân hà, Sông ngân.
Hoặc “ phi”:
1. Bay: Phi công, phi cơ v.v.
2. Có tốc độ nhanh như bay: Phi báo.
3. Ngựa chạy rất nhanh: Ngựa phi.
4. Phóng dao: Phi dao
- Các yếu tố Hán – Việt đồng nghĩa: chiến – đả, kiến - thiết giáo – huấn,
nghiệp – nghệ, phi, vô – bất v.v. Đối với những trường hợp yếu tố Hán - Việt
đồng nghĩa thì chúng tôi sử dụng phương pháp chơi bài của Giáo sư Nguyễn
Đức Tồn. Đây là phương pháp dạy từ ngữ dựa trên nguyên lí tâm lí học tiếp thu
tiếng mẹ đẻ. Đó là ngôn ngữ của trẻ được tạo lập trong quá trình hoạt động thực
sung, giúp cho việc xây dựng những tiết học về yếu tố Hán – Việt sống động, đa
dạng và có hiệu quả cao.
2.2.1. Biện pháp 1: Giáo án minh họa
TIẾT 18 - Tiếng Việt : TỪ HÁN VIỆT
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT :
1. Kiến thức :
- Hiểu được thế nào là yếu tố Hán Việt, cách cấu tạo đặc biệt của từ ghép
Hán Việt.
2. Kĩ năng : Nhận biết được các từ ghép Hán Việt, mở rộng yếu tố Hán Việt.
3. Thái độ : - Biết sử dụng từ Hán Việt trong những ngữ cảnh cụ thể
B. PHƯƠNG PHÁP :
- Nêu và giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm.
12
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
C. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG TIỆN :
- SGK – SGV NV7 tập 1, từ điển Hán Việt.
D. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC :
* Ổn định lớp - Kiểm tra bài cũ :
? Em hãy đọc thuộc lòng và nêu nội dung của 2 văn bản tiếng Hán đã
học.
* Bài mới : Giới thiệu bài
Nhắc lại kiến thức về từ mượn dẫn vào bài
? Dựa vào kiến thức từ mượn ở lớp
6 em hãy cho biết thế nào là từ Hán
Việt ?
Mở rộng :
- Không phải mọi từ gốc Hán đều
là từ Hán Việt.
- Từ gốc Hán gồm 3 loại :
+ Từ cổ Hán Việt: buồm, buồng,
- Sơn : núi
- Hà : Sông
Các tiếng : quốc, sơn, hà. Không thể
dùng độc lập Riêng tiếng Nam có thể
dùng độc lập vì có thể nói : miền Nam,
phía Nam.
+ Nam quốc
+ Sơn hà
từ Hán Việt
-> yếu tố Hán Việt.
-> Tiếng để cấu tạo từ Hán Việt gọi là
yếu tố Hán Việt ?
- yếu tố Hán Việt dùng trong những
trường hợp sau :
+ Phần lớn dùng để tạo từ ghép Hán
Việt.
+ Một số yếu tố Hán Việt như : hoa,
quả, bút ,bảng ,học, tập,… Có thể dùng
độc lập, hoặc có thể dùng để tạo từ
13
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
*Cho HS đọc ví dụ 2
H? Giải nghĩa tiếng thiên trong các
từ Hán Việt sau :
- Thiên
1
niên kỉ, Thiên
2
lí mã.
- (Lí Công Uẩn) Thiên
* Ví dụ 2 :
- Thiên
1
: ngàn ( ngàn năm)
- Thiên
2
: ngàn ( nghìn con ngựa)
- Thiên
3
: dời, di, di dời. ( dời đô về
Thăng Long)
Thiên
1
, Thiên
2
đồng âm khác nghĩa
với Thiên
3
.
• Ghi nhớ :
- Trong Tiếng Việt có một khối lượng
khá lớn từ Hán Việt. Tiếng để cấu tạo từ
Hán Việt gọi là yếu tố Hán Việt.
- Phần lớn yếu tố Hán Việt không được
dùng độc lập như từ mà chỉ dùng để tạo
từ ghép.
Một số yếu tố Hán Việt như: hoa, quả,
bút, bảng, học, tập có lúc dùng để tạo từ
ghép, có lúc dùng độc lập như một từ.
- Có nhiều yếu tố Hán Việt đồng âm
sư’ thuộc loại từ ghép đẳng lập hay
chính phụ ?
? Các từ ái quốc, thủ môn, chiến
thắng thuộc loại từ ghép gì ?
? Nhận xét về trật tự của các yếu tố
trong các từ này có giống trật tự
các tiếng trong từ ghép tiếng Việt
cùng loại không ?
? Các từ thiên thư, thạch mã, tái
phạm thuộc loại từ ghép gì ? Trật
tự giữa các tiếng có gì khác so với
từ ghép tiếng việt cùng loại ?
H Qua phân tích trên em hãy cho
biết : Từ ghép Hán Việt có mấy
loại chính ?
? Em có nhận xét gì về trật tự các
yếu tố trong từ ghép chính phụ ?
? Hãy so sánh cấu tạo vị trí và các
yếu tốt của từ ghép chính phụ Hán
Việt có gì giống và khác so với các
từ tiếng việt.
Học sinh rút ra ghi nhớ.
HS đọc to ghi nhớ ( sgk – trang
70)
Lấy ví dụ minh họa.
Gọi 1 hs đọc yêu cầu bài tập 3
trong sgk.
GV cho Hs làm bài tập theo nhóm
Gọi hs đọc yêu cầu của bài tập 4 –
sgk.
Bài tập 3 :
- Yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ
đứng sau : hữu ích, phát thanh, bảo mật,
phóng hoả.
- Yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính
đứng sau : thi nhân, đại thắng, tân binh,
hậu đãi.
(Giáo viên có thể cho học sinh giải thích
và đặt câu với các từ Hán Việt đó)
Bài tập 4 : Bài tập này Giáo viên có thể
cho học sinh làm ở nhà.
Yêu cầu :
- Yếu tố chính đứng trước : ái quốc, hữu
15
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
phụ đứng trước, yếu tố chính đứng
sau, 5 từ ghép Hán Việt có yếu tố
chính đứng trước, yếu tố phụ đứng
sau ?
- Hướng dẫn hs về nhà làm bài tập
4 sgk.
danh, đại diện, ưu thời, ái quần, tham
chiến, đình chiến, điện báo, đính hôn,
tuyệt vọng.
- Yếu tố phụ đứng trước : quốc hồn, dân
trí, đại thắng, đại sự, bạc mệnh.
ư
e.
E. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI :
- Nắm được các loại từ ghép Hán Việt và cách hiểu, cách sử dụng trong văn
* Năm học 2010 - 2011
Nhìn vào kết quả trên ta thấy: tỉ lệ phần trăm số bài được điểm giỏi – khá
16
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
ở lớp thực nghiệm cao hơn lớp không áp dụng chúng. Trong khi số bài được
điểm trung bình và yếu,kém được giảm đi rõ rệt so với lớp áp dụng.
Điều đó cho thấy kinh nghiệm của giáo viên trong việc phát huy được khả năng
tiềm ẩn của học sinh trong khi học để tìm ra tri thức, học sinh có cơ hội thể hiện
năng lực của mình, nó góp phần phân hoá trình độ của học sinh một cách tỉ mỉ,
chi tiết và thực sự có hiệu quả.
Điều đặc biệt hơn nữa trong năm học 2012-2013 tôi tiếp tục được phân
công dạy lớp 7 và áp dụng biện pháp trên vào dạy học phân môn tiếng việt và
thu được kết quả rất cao ở cả hai lớp 7A, 7B.
Cụ thể năm học 2011-2012.
Sau khi áp dụng các phương pháp này ở lớp 7A và 7B năm học 2010 –
2011 và lớp 7A và 7B năm học 2011 - 2012 tôi nhận thấy việc thay đổi nhận
thức của học sinh và đạt kết quả nhất định. Trong các giờ học thầy trò cùng làm
việc có sự tác động qua lại giữa thầy và trò nhịp nhàng hơn.
Giáo viên không phải thuyết giảng nhiều như trước, học sinh cũng không
phải ngồi để nghe, em nào cũng được học, được nói, được suy nghĩ. Bên cạnh
đó còn phát huy được tính tích cực cho học sinh, học sinh chủ động trong tìm
tòi, tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng hơn. Học sinh ít chán học môn Tiếng
Việt hơn, học sinh thích học tăng lên từ 25 đến 80%.
Để minh chứng cho điều lí giải ở trên tôi đưa ra bảng đối chứng qua các
lần khảo sát thực tế ở trong các năm học cụ thể như sau:
Kết quả điểm khảo sát chất lượng qua các bài kiểm tra năm học 2010 –
2011, năm học 2011 – 2012 và học kì I năm học 2012 - 2013 ở 2 lớp 7 môn
Ngữ văn như sau:
Năm học 2010 - 2011
Lớp Sĩ
khá rộng, khó và sự hiểu biết có giới hạn và không đồng đều về chất lượng nhận
thức là sự khó khăn đặt ra và không đồng đều về chất lượng nhận thức là sự khó
khăn đặt ra cho giáo viên khi đứng lớp. Ngoài việc đưa ra những kiến thức cơ
bản trong SGK vào giờ dạy, giáo viên cần phải cho học sinh tìm hiểu những ngữ
liệu bên ngoài, nảy sinh từ cuộc sống hàng ngày hoặc qua thực tế bài viết của
các em đã làm sinh động cho giờ học. Mặt khác, giúp các em có ý thức khai thác
kiến thức đã học và giải quyết các tình huống của cuộc sống cho cuộc giao tiếp
đạt hiệu quả.
Tiếng Việt trong cơ chế dạy học mới, luôn ý thức được vai trò chủ động
trong việc tiếp thu tri thức mới. Các em bị cuốn vào tình huống và với tư cách là
một người trong cuộc, phải tham gia tháo gỡ, giải đáp những tình huống ấy dưới
sự điều khiển của giáo viên. Giáo viên đóng vai trò là người dẫn dắt học sinh,
tìm hiểu bài thông qua hoạt động giao tiếp, thực hành lý thuyết đó vào làm bài
tập trong SGK, vận dụng nó trong cuộc sống.
Chất lượng giờ học: Qua việc khảo sát ứng dụng, đối chứng chúng tôi
nhận thấy không khí của hai lớp học có sự khác nhau đáng kể. Các em học tập
có sự sôi nổi, hào hứng, bị lôi cuốn vào giờ học, vốn dĩ bị coi là khó khăn và
cứng nhắc. Từ yêu cầu sử dụng tiếng Việt cho đúng như là một tất yếu trong đời
thường và sử dụng hay có đạt hiệu quả cao hay không chỉ là yêu cầu của các nhà
văn, nhà thơ…
C . KẾT LUẬN
18
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Để dạy được một tiết tiếng Việt mang lại hiệu quả cao đối với học sinh
vùng sâu, vùng xa như trường THCS Hạ Trung không phải là một điều đơn giản
bởi vốn dĩ môn tiếng Việt lâu nay rất công thức và khô khan. Đặc biệt là những
tiết dạy từ Hán Việt. Chính vì vậy nó đòi hỏi người giáo viên trong giảng dạy
luôn luôn có những biện pháp tổ chức cụ thể với tiết liên quan đến dạy Từ Hán
Việt. bản thân tôi chuẩn bị rất kĩ càng với 2 yếu tố rất quan trọng. Đó là làm sao
trang bị cho học sinh:
là nhờ có sự giúp đỡ của Hội đồng giáo dục và tổ chuyên môn trường THCS Hạ
Trung.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Bá Thước, ngày 2 tháng 3 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT
Bùi Văn Đạt20
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
A. PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ
I-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1
II. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG
2
B. PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
3
1.1. Cơ sở lý luận của vấn đề 3
1.2. Thực trạng của vấn đề 3