Phương pháp giảng dạy giúp bồi dưỡng phụ đạo học sinh yếu kém môn Ngữ văn trong trường THPT - Pdf 28

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển của Giáo dục- Đào tạo quyết định sự tiến bộ, phồn vinh của xã
hội đúng như Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã chỉ rõ: “Giáo dục- Đào tạo là quốc
sách hàng đầu, là nhân tố phát triển kinh tế xã hội, là cơ sở để thực hiện công
nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước”. Vì thế, trách nhiệm của người quản lý là sự tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho các
trường học nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực
hiện được mục tiêu kế hoạch đào tạo của nhà trường, mà tiêu điểm là quá trình dạy
học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái
mới về chất.
Chính vì thế, trong những năm qua bộ GD và ĐT đã quán triệt chặt chẽ về
việc thực hiện “quy chế 40 và quyết định 51 sửa đổi trong việc đánh giá học lực của
học sinh và quá trình thực hiện cuộc vận động hai không với 4 nội dung: Nói không
với bệnh thành tích trong giáo dục và tiêu cực trong thi cử, nói không với vi phạm
đạo đức nhà giáo và học sinh không đạt chuẩn lên lớp do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
chỉ đạo đã đem lại sự đánh giá thực chất về chất lượng của học sinh. Theo đó, số
lượng học sinh yếu kém có chiều hướng tăng cao so với nhiều năm trước đây. Đây
là thực trạng chung mà chúng ta phải chấp nhận và cần tìm ra những giải pháp phù
hợp để cải thiện nó trên tinh thần không chạy theo thành tích nhưng phải nâng cao
chất lượng thực của hoạt động dạy học và giáo dục.
Với trường THPT Thạch Thành 2, một trong những mục tiêu quan trọng hàng
đầu là nâng cao kết quả học tập của học sinh, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém trên tinh
thần đánh giá đúng thực chất năng lực của các em. Trên thực tế, những khó khăn
khách quan và chủ quan của trường đã góp phần làm cho số lượng học sinh yếu kém
cao hơn hẳn so với nhiều trường THPT của Tỉnh. Đặc biệt với môn Ngữ văn – môn
1
học được học sinh coi là không “ưa thích”, “không thịnh hành” với những ngành
nghề hiện đại nên học sinh lại càng chây lười, coi nhẹ, xem thường, học có tính chất
đối phó với thầy cô trên lớp. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tỉ lệ yếu kém
của trường, cũng như tỉ lệ phần trăm học sinh đạt điểm trên trung bình trong các kì
thi tốt nghiệp.

dục của Đảng và nhà nước ta là bình đẳng. Vì thế trong công tác giảng dạy chúng ta
cần có sự quan tâm đúng mức đến các đối tượng học sinh khác nhau, đặc biệt là
những học sinh yếu kém nhằm tạo ra cơ hội cho các em.
Sự trưởng thành của mỗi học trò luôn luôn phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản là sự
nỗ lực của bản thân các em và sự tận tâm của quý thầy cô giáo. Các em có năng lực
thì công việc giảng dạy của chúng ta bớt phần khó nhọc, các em học yếu thì việc
giảng dạy của quý thầy cô vất vả hơn. Nhưng nếu những em học lực yếu tiến bộ thì
niềm hạnh phúc của người làm thầy cũng sẽ được nhân lên rất nhiều lần. Xuất phát
từ suy nghĩ đó, tôi đã mạnh dạn vận dụng giải pháp dạy phụ đạo cho học sinh yếu
kém ngay trong lớp dạy của mình và lớp phụ đạo do nhà trường phân công để hạn
chế tỷ lệ học sinh phải yếu kém và bước đầu đã đạt được kết quả khả quan.
II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN:
3
Tai sao cần phụ đạo? Phụ đạo nghĩa là ngoài con đường chính thì chúng ta có
thêm con đường khác để tới đích đó. Con đường phụ này hỗ trợ, góp phần tạo thuận
lợi cho chủ thể dễ dàng đạt mục đích hơn. Từ đó ta có thể hiểu phụ đạo trong môn
Văn là ngoài việc chúng ta thực hiện con đường chính theo mục đích yêu cầu về nội
dung, phương pháp bài học cũng như thực hiện thời gian theo đúng phân phối trên
lớp học chính khóa thì còn con đường khác để hỗ trợ các em nắm vững vàng những
kiến thức còn thiếu hụt hoặc mở rộng đi sâu vào vào một phương diện nào đó của
vấn đề. Rèn luyện thêm kĩ năng làm văn nghị luận văn học hoặc nghị luận xã hội.
Nay, tôi trân trọng trình bày kinh nghiệm này cùng quý đồng nghiệp. Bản
thân tôi cũng luôn nghĩ rằng để đạt mục đích hạ thấp tỷ lệ học sinh yếu kém thì đây
không phải là giải pháp duy nhất. Vì vậy trong thời gian tới tôi sẽ học hỏi thêm kinh
nghiệm, tìm tòi thêm giải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng dạy học của chính
mình.

- Khi thực hiện đề tài này, tôi cũng gặp những thuận lợi và khó khăn nhất định.
Trường nhận được sự quan tâm và chỉ đạo sâu sát của các cấp lãnh đạo như Sở
GD-ĐT Thanh Hóa, của Huyện uỷ – UBND Huyện Thạch Thành, của các cấp chính

khác, các em phải học quá nhiều môn, ngoài ra còn phải đi học nhiều buổi.
Tất cả những nguyên nhân đó làm cho việc tiếp thu kiến thức của học sinh
không hiệu quả, chất lượng học tập không cao đặc biệt với những môn KHXH, yêu
cầu vừa phải học thuộc bài, vừa phải có tư duy tổng hợp cao như môn văn.
III/ NỘI DUNG. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
1/ Xác định đối tượng.
5
Bất cứ con người làm việc gì cũng hướng tới đối tượng cụ thể với những mục
đích nhất định. Và đối tượng của giáo viên thì không ai ngoài khác chính là học
sinh. Nhưng tôi đang hướng tới một đối tượng đặc biệt hơn. Đó là những học sinh
mà tiếp thu bài học chậm, ý thức học tập kém, chây lười, ham chơi…Nên nội dung
công việc của tôi cũng có phần khó khăn hơn.
2/ Xây dựng đề cương - giáo án dạy phụ đạo.
- Xây dựng kế hoạch – đề cương dạy học cho một bài học cụ thể là thể hiện
mối tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh giúp học sinh
đạt được những mục tiêu bài học. Vì vậy, để tiến hành một tiết dạy trên lớp nói
chung, tất cả giáo viên cần chuẩn bị giáo án đầy đủ, kĩ lưỡng (cả về nội dung và
phương pháp) để hướng dẫn học sinh tiếp cận một đơn vị kiến thức cần đạt theo
mục đích yêu cầu của từng bài học. Đặc biệt, đối với đối tượng học sinh yếu kém
thì việc xây dựng một đề cương ôn tập như thế nào cho phù hợp với lực học các em
là một vấn đề rất cần được quan tâm.
- Theo tôi, để tiến hành dạy phụ đạo đạt được kết quả tốt thì trước hết mình
phải xây dựng một đề cương dựa trên chuẩn kiến thức đưa ra, nghĩa là phải xác định
trọng tâm. Sau đó lựa chọn phương pháp phù hợp. Cơ sở để lựa chọn PPDH phù
hợp thì cần chú ý vào mục tiêu bài học, đặc trưng của từng phân môn, trình độ, kinh
nghiệm, tâm lý của người học, điều kiện phương tiện của nhà trường…Tôi nghĩ một
đề cương hay, một giáo án tốt là điều kiện đầu tiên để tiến hành dạy phụ đạo đạt
hiệu quả.
3/ Tiến hành dạy phụ đạo trên đề cương - giáo án đã xây dựng.
Ở trường THPT Thạch Thành 2, hình thức tiến hành phụ đạo được tổ chức

7
- Biết tích hợp giữa các nội dung bài học để làm một bài văn NLVH.
(Huy động những kiến thức và cảm xúc, trải nghiệm của bản thân để viết bài
nghị luận về một hình tượng, một đoạn văn xuôi).
III/ Chuẩn bị:
- Yêu cầu học sinh chuẩn bị phần ôn tập của từng bài theo hệ thống luận
điểm, luận cứ (đầy đủ, ngắn gọn).
- GV chuẩn bị nội dung ôn tập.
- PP: Đặt vấn đề, gợi mở, đưa giả thiết từng dạng đề và yêu cầu học sinh
vạch ra ý chính cần có trong bài…
 Lượng kiến thức tôi yêu cầu cần nắm được như sau:
AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG
(Trích) – Hoàng Phủ Ngọc Tường-
I/Tác giả.
- Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, nhà văn gắn bó mật thiết với
xứ Huế, có vốn hiểu biết trên nhiều lĩnh vực; là một trong những nhà văn chuyên
viết bút kí.
- Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ
và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ
vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí…thể hiện qua lối hành
văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
-Tác phẩm chính: Ngôi sao trên đỉnh Văn Lâu(1971), Rất nhiều ánh lửa(1979), Ai
đã đặt tên cho dòng sông?(1986), Hoa trái quanh tôi(1995), Ngọn núi ảo
ảnh(1999),…
II.Nội dung – ý nghĩa: Ai đã đặt tên cho dòng sông?(1986) là bài kí xuất sắc nhất
của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Vẻ đẹp của sông Hương được cảm nhận ở nhiều góc
độ khác nhau. Qua đó, thể hiện những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về
8
sông Hương; bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn
đối với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương.

 Hai bút pháp kể - tả kết hợp nhuần nhuyễn, lối hành văn lịch lãm, tài hoa đã làm
nỗi bật một Sông Hương sinh động và hấp dẫn.
c/ Đến giữa thành phố Huế, sông Hương như tìm được chính mình “vui tươi
hẳn lên…uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến…dòng sông mềm hẳn đi như
tiếng vâng không nói ra của tình yêu”. Nó đã chuyển dòng liên tục- như phô diễn tất
cả vẻ đẹp vốn có:
+ Hình dáng: “dòng sông mềm như tấm lụa”
+ Màu sắc: “ Sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”
+ Dòng chảy: “Trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ là một mặt hồ yên tĩnh”
+ Mang “ Vẻ đẹp trầm mặc” như triết lí, như cổ thi”.
Sông Hương như “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”, So sánh Sông Hương
với sông Xen và sông Đa Nuýp, tác giả đã nâng dòng sông quê hương ngang hàng
với những dòng sông đẹp nhất thế gian. Ba con sông này có điểm tương đồng là
cùng chảy vào thành phố yêu quí của nó, được thành phố ôm vào lòng, nhưng sông
Hương có điểm đặc biệt, đó là “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế” Thể hiện
niềm tự hào sâu sắc của tác giả. Và như vậy, đó là tình cảm của Sông Hương dành
riêng cho Huế hay chính là tình cảm của nhà văn đối cới sông Hương, với xứ Huế
mộng mơ.
- Sông Hương “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”…là “Tứ đại cảnh”
 Ngòi bút của tác giả đã thực sự thăng hoa khi vẽ nên những hình ảnh đầy ấn
tượng, những cảm nhận tinh tế, những liên tưởng, so sánh đẹp đẽ đến bất ngờ, lý
thú, thể hiện tình yêu say đắm với con sông. Đó là những nét bút thật “dịu dàng,
tình tứ, đắm đuối”.
d/ Trước khi từ biệt Huế: SH như “người tình dịu dàng và chung thủy”. Con
sông “như nàng Kiều trong đêm tình tự, trở lại tìm Kim Trọng” để nói một lời thề
10
trước lúc đi xa- “Đang chếch hướng Bắc…bỗng … đột ngột đổi dòng, rẻ ngoặt sang
hướng Đông Tây để gặp lại thành phố lần cuối…” nhà văn gọi đó là “một chút lảng
lơ kín đáo của tình yêu”
 Sông Hương được Hoàng Phủ Ngọc Tường tiếp cận và miêu tả từ nhiều không

- Ngôn ngữ tài hoa, giàu hình ảnh, giàu sức gợi.

 Với đối tượng học sinh trên lớp này, hầu hết là các em đã nắm được nội dung bài
học nên tôi chủ yếu hướng dẫn các em cách tích hợp các đơn vị kiến thức để làm bài
văn nghị luận văn học.
 Giả sử có một yêu cầu như sau: Phân tích hình tượng con Sông Hương qua
bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
 Vận dụng
Phần mở bài: (Giới thiệu về tác giả, nội dung tác phẩm và vấn đề nghị luận).
Để đáp ứng yêu cầu này tôi yêu cầu các em vận dụng linh hoạt hai đơn vị kiến thức
cơ bản ở mục I,II.
Phần thân bài: (Phân tích vấn đề nghị luận).
Đảm bảo các ý chính tức là phải nêu và phân tích được các luận điểm, luận cứ -
kết hợp thao tác tổng hợp để đánh giá về nội dung và nghệ thuật. Để đáp ứng yêu
cầu này tôi hướng dẫn các em vận dụng ngay phần kiến thức của mục III.
Phần kết bài: (đáng giá và nâng cao vấn đề) Vận dụng phần IV,V.
 Hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng thì giáo viên cần có ý thức kiểm tra,
đánh giá. Hoạt động này diễn ra thường xuyên đặc biệt là trong những bài viết theo
hình thức kiểm tra tự luận giúp các em có được một cách hành văn lưu loát và đảm
bảo nội dung trọng tâm. Đánh giá là khâu quan trọng không thể thiếu. Nó nằm ở giai
12
đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo dục và là khởi điểm cho một giai đoạn tiếp
theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn.
Với phương pháp này, tôi thu được kết quả khả quan.
b/ Tiến hành dạy phụ đạo ở lớp tổ chức trái buổi.
- Phụ đạo ở đối tượng này, tôi thấy đã thực hiện ở một số trường với hình thức:
Giáo viên soạn đề cương khá đầy đủ (về nội dung, hành văn), yêu cầu học sinh học
thuộc lòng rồi lên lớp khảo bài chừng nào thuộc mới cho về. Nhìn chung thì họ cũng
đã đạt được kết quả nhất định nhưng không cao. Bản thân tôi thấy, nếu áp dụng
phương pháp này vào đối tượng tôi đang trực tiếp phụ đạo sẽ không ổn. Bởi như đã

- Hoàng Phủ Ngọc Tường - một trí thức yêu nước, nhà văn gắn bó mật thiết với
xứ Huế, hiểu biết trên nhiều lĩnh vực; là nhà văn chuyên viết bút kí.
- Nghệ thuât: kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa
nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều, lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm
và tài hoa.
- Ai đã đặt tên cho dòng sông?(1986) là bài kí xuất sắc nhất của Hoàng Phủ
Ngọc Tường.
II. Nội dung – ý nghĩa: Vẻ đẹp của sông Hương được cảm nhận ở nhiều góc độ
khác nhau bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn
đối với dòng sông quê hương xứ Huế, đất nước.
1. Thủy trình của Hương Giang.
a/ Sông Hương ở vùng thượng nguồn.
- Có quan hệ sâu sắc với dãy trường sơn. Mang vẻ đẹp của một sức sống
mãnh liệt, hoang dại bí ẩn, sâu thẳm được so sánh “một bản trường ca của rừng
già” với nhiều tiết tấu hùng tráng và dự dội…
14
- Sông Hương có sức sống mãnh liệt, mang vẻ đẹp hoang dại và đầy cá tính,
được nhân hoá thành “cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”
- Sông Hương có chiều sâu vẻ đẹp và nhân cách “người mẹ phù sa của một vùng
văn hóa xứ sở”
 Nghệ thuật: thể hiện sự tài hoa của ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường: liên
tưởng kì thú, xác đáng, ngôn từ gợi cảm.
b/ Đến ngoại vi thành phố
- Sông Hương là “người gái đẹp nằm mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa
đầy hoa dại”.
- Thủy trình của sông Hương khi bắt đầu về xuôi tựa “một cuộc kiếm tìm có ý
thức” … “Chuyển dòng liên tục”,“Vòng những khúc quanh đột ngột”,“Vẽ những
hình cung thật tròn ôm lấy chân đồi Thiên Mụ xuôi dần về Huế”…

Sông Hương

tình yêu say đắm với con sông quê hương.
2. Sông Hương là dòng sông lịch sử.
- Là dòng sông biên thùy trong sách địa dư của Nguyễn Trãi.
- Dòng sông soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ.
- Sống hết mình với lịch sử bi tráng của các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX.
- Chứng kiến Cách Mạng tháng tám, mùa xuân Mậu Thân 1968.
=> Khi đất nước có chiến tranh, sông Hương biết cách “tự hiến đời mình làm
một chiến công”. Sau những biến cố lịch sử, “nó trở về với cuộc sống bình thường,
làm một người con gái dịu dàng” với chiếc áo dài tím rất Huế.
3. Sông Hương là dòng sông văn hóa, thi ca.
16
- Gắn bó với kinh thành Huế, cái nôi của nền âm nhạc dân gian và cổ điển Huế,
gắn bó với Nguyễn Du, danh nhân văn hóa thế giới.
- Là cảm hứng sáng tác của nhiều thi nhân, nghệ sĩ: Nguyễn Du, bà Huyện
Thanh Quan, Cao Bá Quát, Tản Đà, Tố Hữu,…
III. Ý nghĩa văn bản:
Thể hiện những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về sông Hương; bộc lộ tình
yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê
hương, với xứ Huế thân thương.
IV. Nghệ thuật.
- Hoàng Phủ Ngọc Tường đã huy động vốn kiến thức tổng hợp về địa lí, văn
hóa, lịch sử,…trong và ngoài nước để miêu tả và cảm nhận những vẻ đẹp
khác nhau của dòng sông.
- Ngôn ngữ tài hoa, giàu hình ảnh, giàu sức gợi.
 Tương tự phương pháp trên, tôi đưa ra một ví dụ về thể loại thơ. Bài “Tây Tiến”
của nhà thơ Quang Dũng. (Tôi trích dẫn giáo án phần 1)
I/ TÌM HIỂU CHUNG.
1.Tác giả. Quang Dũng (1921-1988)
- Là một nghệ sĩ đa tài làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc nhưng trước hết là
một nhà thơ.

“Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ da diết mênh mang, rợn ngợp. Nỗi nhớ gắn với khung
cảnh thiên nhiên núi rừng miền Tây và những chặng hành quân gian khổ.
b. Hành trình gian khổ qua:
18
- Miền đất xa lạ hoang vu “Sài khao”, “Mường Lát”, “Mường Hịch”…
Những địa danh lạ tai được liệt kê gợi lên cả một miền bí ẩn. Vừa dữ dội, vừa thơ
mộng trữ tình.
- Dốc đèo hiểm trở
“ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống”…
+ Những từ láy tượng hình và cách ngắt nhịp như khắc chạm làm nỗi bật con
đường khúc khuỷu, gập ghềnh. Hình ảnh thơ gân guốc gợi cảm giác về những con
dốc gần như thẳng đứng, vút lên thật cao và đổ xuống thật sâu. Quả là “Thi trung
hữu hoạ”.
+ Đoạn thơ cũng bộc lộ nghệ thuật sử dụng từ ngữ, âm điệu tài hoa.
Câu thơ miêu tả toàn thanh trắc như mang vất vả nhọc nhằn từng bước chân
người lính trên dốc đá cheo leo… Nhưng … đã dịu lại khi được kết hợp với câu
thơ nhiều thanh bằng, để sự hoang vắng của Sài Khao, Mường Lát chợt mộng mơ
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Trắc- Bằng phối hợp tài hoa đã làm hiện lên một thế giới khác thường vừa đa
dạng, vừa độc đáo của núi rừng miền Tây Tổ Quốc.
- Thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt đe doạ tính mạng con người “Sương”
dày đặc “lấp đoàn quân mỏi”, “Mưa” dữ dội biến rừng thành “xa khơi”…
“ Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
- Gian khổ nhiều lúc đã vượt quá sự chịu đựng. Người lính hi sinh ngay

hiểu vấn đề và lập được một dàn ý bằng sơ đồ như thế. Chừng nào các em thành
thục phương pháp học tôi sẽ linh hoạt hướng dẫn về kĩ năng tích hợp nội dung để
làm bài làm văn. Lúc đầu, quả là khó khăn vì học sinh rất lười nhưng càng về sau tôi
cảm thấy các em nắm được bài và có hứng thú với chính bài học.
 ph©n m«n lµm v¨n
- Phân môn làm văn có hai dạng nghị luận chủ yếu. Nghị luận văn học và nghị
luận xã hội. Ở phần nghị luận văn học, ngoài những tiết có thực trên lớp, học sinh
được rèn luyện kĩ năng sắp xếp ý, liên kết đoạn tạo mạch lạc, lôgic trong một văn
bản ngay trong các tiết tăng dạy phụ đạo. Trong phạm vi này, tôi chỉ trình bày
phương pháp, kĩ năng làm văn nghị luận xã hội.
- Nghị luận xã hội lớp 12 chia hai dạng: nghị luận về một tư tưởng, đạo lí và
nghị luận về một hiện tượng trong đời sống. Sách văn - chương trình chuẩn chỉ có
hai tiết học cho hai bài. Tôi thấy quá ít, trong khi cấu trúc đề thi học kì, thi tốt
nghiệp, thi Đại học câu làm văn này chiếm đến 3 điểm. Mặc dù ở bài học này, nội
dung – phương pháp khá rõ ràng song đối với đối tượng học sinh yếu thì khó có thể
hình thành ngay được. Vì thế, tôi cũng đặc biệt chú ý phần này. Hơn nữa, NL về
một hiện tượng trong đời sống hay vấn đề tư tưởng đạo lí không chỉ có ý nghĩa xã
hội mà còn có tác dụng giáo dục tư tưởng, đạo lí, cách sống đúng đắn, tích cực đối
với học sinh, thanh niên.
- Tôi xác định rõ, muốn học sinh làm bài kiểu này tốt trước hết phải nắm thật
vững phương pháp. Sau đó mới áp dụng cụ thể trong một đề bài cụ thể. (Phương
này tôi áp dụng luôn cho cả hai đối tượng: ở tiết tăng và lớp phụ đạo, nhưng ở lớp
phụ đạo tôi tăng cường luyện tập nhiều hơn)
Tôi đưa ra hai phương pháp song song của hai dạng.
21
(1) VỀ PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ.
 Đề tài thường gặp:
- Về nhận thức (lí tưởng, mục đích học tập….)
- Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, sống trung
thực…)

con cá mập đầu tiên tấn công con cá kiếm (thành quả lao động của ông). Mặc dù
suy kiệt về thể xác sau ba ngày chiến đấu với con cá kiếm, ông lão vẫn kiên cường
chiến đấu với con cá mập. Khi ông giết được nó rồi ông vẫn dự cảm đàn cá mập
khác sẽ kéo đến, ông khó giữ được thành quả lao động của mình.
+ Câu nói thể hiện quyết tâm đương đầu với đàn cá mập trong mọi tình
huống, hoàn cảnh bất lợi của ông. Cho nên ở đây, “hủy diệt” có thể hiểu là con
người có thể bị thương, có thể chết hoặc mất mát, thất bại về vật chất. Nhưng
“con người không thể bị đánh bại” về ý chí, nghị lực, khao khát. Câu nói khẳng
định niềm tin vào sức mạnh, ý chí và khả năng tồn tại của con người trong bất kì
hoàn cảnh nào
- Phân tích và chứng minh
+ Trong cuộc sống con người phải đối diện với nhiều thử thách, có khi rất nghiệt
ngã. Nếu thiếu niềm tin, không có ý chí thì người ta dễ dàng buông xuôi, nản lòng,
chấp nhận đầu hàng hoàn cảnh.
+ Ngược lại, nếu tin tưởng vào bản thân, tin vào khả năng và sức sống mạnh mẽ
thì sẽ vươn lên, quyết tâm vượt qua mọi thử thách.
Ví dụ: Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta (dẫn chứng), Thực tế lao động của
nhân dân ta.
- Bác bỏ, phê phán lối sống vô trách nhiệm, thiếu ý chí, nghị lực (dẫn chứng.)
23
- Bình luận:
+ Phải có nghị lực và niềm tin (…)
+ Phải có niềm kiêu hãnh bằng sự quyết tâm của con người.
c. Kết bài: Suy nghĩ của ông lão Xan-ti-a-gô có thể được coi là một phương châm
sống đúng đắn. Mỗi người cần biết xử lí hành động của mình như thế nào để có thể
vượt qua hoàn cảnh trong cuộc sống.
(2) VỀ PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI VĂN NL VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG:
 Đề tài thường gặp: Những hiện tượng xấu hoặc tốt đang diễn ra trong mỗi con
người và đời sống xã hội có thể nhìn nhận ở các phương diện:
- Hiện tượng tốt:

của xã hội ta hiện nay.
a. Mở bài
- Đất nước ta đang trên đà phát triển nhưng vẫn còn nhiều mặt tiêu cực.
- Một trong những mặt tiêu cực ấy là “Bệnh thành tích” – một căn bệnh
nguy hiểm cần phải được giải quyết triệt để.
b. Thân bài
- Giải thích: Thành tích là gì? Vì sao thành tích lại được xem là một
căn bệnh?
+ Thành tích: là những kết quả được đánh giá tốt, là cái mà người ta đặt ra
làm mục tiêu để vươn tới  về bản chất là tốt.
+ Thành tích chỉ được xem là “bệnh” khi nó bị biến dạng để biến nhận thức
và hành động của một người, một tập thể, một xã hội rơi vào tình trạng ảo
tưởng để mưu cầu quyền lợi, hư danh một cách thấp hèn, vị kỉ  vì thế nó
chẳng khác nào là một căn bệnh âm ỉ, lây lan trong xã hội.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status