Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A.PHẦN MỞ ĐẦU
Trước đây khi nhắc tới hệ thống kế hoạch hóa trong phát triển các
ngành kinh tế quốc dân chúng ta thường bắt gặp nhiều cụm từ: chiến lược
phát triển ngành, kế hoạch phát triển ngành…mà ít khi thấy các ngành lập
quy hoạch phát triển cho riêng ngành. Sở dĩ là vì quy hoạch gắn với bố trí
sắp xếp nên nó phù hợp hơn với hệ thống kế hoạch hóa phát triển cho các
vùng, các khu đô thị. Tuy nhiên đã có một thực tế đáng buồn xảy ra với các
ngành kinh tế quốc dân đó là việc phát triển một cách tự phát các cơ sở sản
xuất không tuân theo bất cứ một khuôn khổ nào, dẫn tới các ngành rất khó
kiểm soát và không thể phát triển đúng theo kế hoạch đã đặt ra. Việc này
gây ra những rắc rối trong quản lý ngành gây lãng phí mất mát lớn, không
đạt hiệu quả trong đầu tư.
Trong khoảng 5 – 10 năm trở lại đây các ngành đã chú trọng hơn tới
công tác xây dựng quy hoạch phát triển cho mình ( ngành điện, ngành dệt
may, ngành thép..). Xây dựng quy hoạch là một nội dung khó do nó đòi hỏi
phải phân tích tỉ mỉ các điều kiện phát triển ngành ở các vùng, sự liên kết
phát triển ngành giữa các vùng và sự hợp tác giữa các ngành trong vùng.
Tuy nhiên nếu có được một bản quy hoạch tốt sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi
cho các ngành phát triển nhanh và bền vững.
Quy hoạch ngành là một nội dung lớn trong hệ thống kế hoạch hóa
phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy em chọn đề tài của đề án là: “Quy
hoạch ngành – cở sở lý thuyết và những đổi mới ở Việt Nam”. Và lấy ngành
dệt may là một ví dụ minh họa để phân tích.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
B. NỘI DUNG
I.Một số phương pháp lý luận về quy hoạch ngành.
1. Khái niệm quy hoạch ngành.
Quá trình kế hoạch hóa nếu phân theo nội dung thì nó là một hệ thống
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau của các bộ phận cấu thành bao gồm:
triển và tổ chức không gian kinh tế - xã hội dài hạn dựa trên sự bố trí hợp lý
bền vững kết cấu hạ tầng vật chất kĩ thuật phu hợp với những điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Trong xây dựng quy hoạch
phải đi vào luận chúng ở mức cần thiết từ khâu điều tra, phân tích đến tính
toán chứng minh, so sánh các phương án, các giải pháp, xem xét mọi yếu tố
tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, an ninh quốc phòng,…đi từ
tổng quát đến cụ thể và ngược lại, cần chú ý sự phù hợp cả không gian lãnh
thổ và thời gian cụ thể.
Trên cơ sở khung quy hoạch tổng thể và chiến lược phát triển, các
ngành sẽ xây dựng quy hoạch phát triển của ngành mình. Các tiềm năng
phát triển sẽ được đánh giá chuẩn xác hơn và cụ thể hơn, đồng thời trên
một mức độ nào đó sẽ lượng hóa các nguồn lực cơ cấu phát triển ngành,
làm cơ sở xây dựng các chương trình, dự án chính sách thực hiện các mục
tiêu ngành. Như vậy, quy hoạch ngành là sự định hướng và bố trí, sắp xếp
các cơ sở sản xuất của ngành trên phạm vi từng vùng trong cả nước để tạo
ra một cơ cấu ngành hợp lý và hiệu quả. Về mặt ý nghĩa, quy hoạch ngành
sẽ là căn cứ để xây dựng quy hoạch vùng, là công cụ để quản lý (theo dõi,
kiểm tra )ngành.
Quy hoạch tổng thể vùng là những luận chứng khoa học về bố trí sản
xuất phục vụ đời sống, sản xuất của dân cư trên phạm vi lãnh thổ của một
vùng. Nó tổng hợp quy hoạch của các ngành, xác định mục tiêu phát triển
của vùng dựa trên đánh giá thực trạng kinh tế, thực trạng quy hoạch trong
thời gian qua. Dựa trên kết quả nghiên cứu nhu cầu hàng hoá dịch vụ trong
vùng và ngoài vùng có liên quan để bố trí không gian hợp lý và xây dựng
giải pháp thực hiện. Quy hoạch vùng vừa phải đảm bảo các phương án tối
ưu liên ngành và liên vùng trên cùng một địa bàn lãnh thổ, vừa phải phát
huy tiềm năng và đặc thù của từng vùng để phát triển.
2. Mối quan hệ của quy hoạch ngành với các quy hoạch khác.
Quy hoạch có thể phân thành nhiều loại hình khác nhau dựa vào nội
dung, đối tượng, mức độ, phạm vi của lãnh thổ, quy hoạch tổng thể phát
Quy hoạch phát triển nông nghiệp là sự phân bố các vùng nông nghiệp
(diện tích, vị trí, loại cây trồng, chăn nuôi động vật ), sản lượng và mức
tăng trưởng của sản xuất nông nghiệp trong thời kì dài hạn trên một phạm
vi lãnh thổ xác định. Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong những
bộ phận của quy hoạch phát triển quốc gia. Quy hoạch phát triển công
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp: Bố trí các khu công nghiệp ( vị trí và diện tích ), chỉ tiêu phát triển
đối với ngành công nghiệp chính ( sản lượng và mức tăng trưởng ). Quy
hoạch phát triển các ngành là cơ sở và là bộ phận hợp thành của quy hoạch
tổng thể, chịu sự chỉ đạo và khống chế của quy hoạch tổng thể. Quy hoạch
tổng thể xác định một cơ cấu hợp lý giữa các ngành kinh tế trong tổng thu
nhập quốc dân, xác định nhịp độ tăng trưởng của các ngành nhằm đạt được
mục tiêu phát triển chung của toàn nền kinh tế. Quan hệ giữa chúng là quan
hệ giữa cả thể và tổng thể,cục bộ và toàn diện, có sự thống nhất theo không
gian và thời gian trong một khu vực. Tuy nhiên chúng có sự khác nhau về
tư tưởng chỉ đạo và nội dung giữa một bên là cụ thể, cục bộ trong phạm vi
hẹp, sự sắp xếp mang tính chiến thuật, một bên là định hướng chiến lược,
có tính toàn diện tổng thể toàn bộ nền kinh tế.
3. Nội dung của quy hoạch ngành
Trong thực tế nếu không có quy hoạch ngành sẽ phát triển tự phát dẫn
tới sự không hiệu quả. Phải có quy hoạch mới bám sát được thị trường đảm
bảo tổng cung bằng tổng cầu. Tuỳ đặc thù từng ngành mà trong mỗi phần
có những nội dung cụ thể khác nhau. Tuy nhiên khung cơ bản của một bản
quy hoạch cần tuân theo một số nội dung sau:
3.1 Đánh giá các điều kiện, yếu tố phát triển
Mục đích của việc đánh giá các điều kiện, yếu tố cho phát triển là chỉ
ra những nhân tố cần thiết cho phát triển ngành; đánh giá khả năng tác
động của các yếu tố đầu vào đến phát triển ngành; đánh giá vai trò trong
hội nhập và tính cạnh tranh của ngành trong phát triển. Phải đảm bảo đánh
chuyên ngành; quan điểm của các chuyên gia kinh tế đánh giá chung về
ngành; khảo sát các số liệu cơ bản theo các chỉ tiêu chủ yếu về hoạt động
của ngành trên phạm vi thế giới và khu vực; xếp hạng mức độ cạnh tranh
của sản phẩm.Từ đó rút ra được các nhận đinh cơ bản về tình hình phát
triển của ngành trên thế giới ( nhanh/ chậm ), xu thế phát triển của ngành
trên thế giới và trong nước tác động đến phát triển ngành trong tương lai là
mạnh/ trung bình hay yếu.
d. Đánh giá chung về thuận lợi, khó khăn và hướng khai thác
Tổng hợp các phân tích trên đề đưa ra những kết luận chính:
- Những thuận lợi, khó khăn của ngành ( cơ hội và thách thức ).
- Hướng khai thác trong tương lai ( phát triển hay không phát triển ).
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3.2 Đánh giá hiện trạng quy hoạch phát triển ngành
Mục đích của việc phân tích, đánh giá hiện trạng quy hoạch phát triển
ngành là: Đánh giá toàn bộ hiện trạng ngành theo các chỉ tiêu cơ bản như
khai thác tài nguyên, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu ngành, phân bố theo lãnh
thổ, đầu tư, lao động, công nghệ...; Đưa ra kết luận về kết quả đạt được,
những khó khăn gặp phải, những nguyên nhân chính và hướng giải quyết.
Việc đánh giá hiện trạng ngành cần tránh mô tả chung chung về thành tích
và hạn chế mà phải đảm bảo đạt được một số yêu cầu sau:
- Đánh giá trình độ phát triển ngành trong tương quan với các ngành
cũng như đối với cùng ngành trên thế giới.
- Đánh giá bối cảnh chung và mức độ cạnh tranh của ngành, sản
phẩm trong nền kinh tế quốc dân.
- Rút ra bài học ( những quy luật phát triển ) của ngành trong thời
gian qua. Xác định những điểm cần phải phát huy hoặc cần phải khắc phục
trong giai đoạn tới.
- Đánh giá được sự phân bố ngành, cơ cấu ngành theo vùng lãnh thổ
đưa ra nhận xét hợp lý hay chưa.
trang bị hiện đại/ GTSX ngành; tình hình nghiên cứu và triển khai ( R &
D ) của ngành. Từ đó đưa ra những kết luận cơ bản đánh giá mức độ hiện
đại hoá của ngành, trình độ trang bị công nghệ mới, khả năng đổi mới công
nghệ cho ngành.
- Đánh giá về hoạt động đầu tư cho phát triển ngành : Sử dụng các chỉ
tiêu: Tổng số vốn đầu tư và cơ cấu đầu tư cho ngành qua các năm theo các
phân ngành; tốc độ tăng vốn đầu tư cho ngành qua các năm; cơ cấu vốn đầu
tư theo các sản phẩm hoặc theo các phân ngành ( vốn đầu tư theo nguồn
cung caap, trong nước - nước ngoài, nhà nước và ngoài quốc doanh...); suất
đầu tư ( vốn đầu tư / GTSX ); khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư trong
ngành; hệ số ICOR theo các năm và theo sản phẩm hoặc theo phân ngành.
Để đưa ra được các kết luận về quy mô đầu tư, cơ cấu đầu tư theo ngành,
theo nguồn, hiệu quả đầu tư.
- Nguồn nhân lực cho ngành: Thống kê số lao động, phân loại trình
độ và khả năng cung ứng lao động cụ thể cần tính toán: số lượng lao động
trong ngành qua các năm, theo các sản phẩm hoặc các phân ngành ( số lao
động trong ngành theo mức độ đào tạo: lao động phổ thông/ lao động qua
đào tạo: công nhân/ kĩ sư/ thợ lành nghề ...); năng suất lao động qua các
năm: thu nhập của lao động trong ngành qua các năm; đánh giá khả năng
đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển ngành. Rút ra các kết luận về tình
hình lao động cho phát triển ngành giai đoạn qua ( thiếu hay dư thừa ), cơ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cấu lao động theo trình độ đào tạo đã hợp lý chưa, năng suất lao động là
cao hay thấp.
c.Đánh giá hiện trạng phân bố ngành trên các vùng lãnh thổ
Khảo sát và đánh giá sự phát triển của ngành trên các vùng lãnh thổ
thông qua các số liệu thống kê về:
- Số lượng cơ sở sản xuất của ngành theo các vùng;
- GTSX ( GDP ) ngành theo các vùng, tốc độ tăng trưởng của GTSX (
triển ngành:
- Dự báo nhu cầu và khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào cho
ngành: Nguyên nhiên vật liệu, vốn đầu tư, lao động, khả năng đổi mới khoa
học công nghệ của ngành…
- Dự báo cầu thị trường về sản phẩm của ngành và năng lực cạnh
tranh của sản phẩm và dịch vụ của ngành.
c. Luận chứng về các phương án phát triển
Các phương án phát triển thể hiện khả năng phát triển của ngành
theo hướng hiện đại hoá trong điều kiện hội nhập. Cần đưa ra được 2 -3
phương án để lựa chọn, các phương án được xây dựng đi liền với các điều
kiện ở mức độ thấp/ trung bình/ cao. Nội dung các phương án cần thể hiện
được:
- Nhịp độ tăng trưởng của GTSX, GDP, doanh thu, xuất khẩu…
- Xây dựng cơ cấu hợp lý của các phân ngành và các sản phẩm;
- Nhu cầu về vốn đầu tư theo các nguồn, nhu cầu về lao động và trình
độ đào tạo.
Trên cơ sở những lập luận và phân tích về tính khả thi và hiệu quả sẽ
lựa chọn một phương án phát triển hợp lý để xây dựng quy hoạch.
3.4 Luận chứng về phương pháp quy hoạch ngành
Trên cơ sở các phân tích trên sẽ tiến hành xây dựng quy hoạch ngành.
Đây là sự thể hiện ý đồ bố trí các cơ sở sản xuất của ngành trên các vùng
lãnh thổ. Cần khai thác các yếu tố thuận lợi của các vùng cho phát triển
ngành ( về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, các
điều kiện kinh tế xã hội phát triển, khả năng chuyển giao công nghệ của
ngành,…). Việc bố trí cần chú ý tới khoảng cách giữa nơi sản xuất và thị
trường tiêu thụ, vùng nguyên liêụ đầu vào để tiết kiệm chi phí đạt hiệu quả
kinh tế cao. Đồng thời cần đặc biệt chú ý tới tính chất liên vùng và tính
chất liên ngành ( sự phối hợp giữa ngành và các ngành khác có liên quan
trên cùng một vùng lãnh thổ). Từ đó tạo ra một mạng lưới các cơ sở sản
xuất của ngành hợp lý và hiệu quả. Lụân chứng về phương án quy hoạch
chức sản xuất có hiệu quả;
Giải pháp về khoa học công nghệ cần nêu rõ những yêu cầu và biện
pháp trang bị, đổi mới công nghệ hiện đại;
Cần nêu rõ nhu cầu về nguồn lực, cơ cấu nguồn nhân lực và khả năng
đáp ứng nguồn nhân lực trong từng giai đoạn quy hoạch đồng thời gắn với
Website: Email : Tel (: 0918.775.368