I. Đ Ề TÀI :
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢM BỚT LỖI
CHÍNH TẢ
II. Đ ẶT VẤ N Đ Ề:
Giáo dục bậc tiểu học là một khoa học giáo dục khó nhất. Nó là nền tảng
đầu tiên để giúp con người tồn tại và phát triển, đặc biệt là môn Tiếng Việt có
vị trí quan trọng trong tất cả các phân môn, nó hình thành khả năng giao tiếp,
là cơ sở để phát triển tư duy cho trẻ để tiếp thu các môn học khác. Trong năng
lực hoạt đông ngôn ngữ ở con người thể hiện ở kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết.
Như vậy kĩ năng viết là một trong bốn kĩ năng hoạt động của ngôn ngữ. Đặc
biệt ở tiểu học nói chung và ở lớp 3 nói riêng, kĩ năng viết có ý nghĩa rất sâu
sắc, viết đúng mới diễn tả hết ý mà mình cần diễn đạt, để người khác hiểu hết
nội dung trong văn bản.
- Chữ viết là hệ thống ký hiệu bằng đường nét đặt ra để ghi tiếng nói và
có những quy tắc, quy định riêng. Muốn viết đúng chính tả Tiếng Việt, ta cần
phải nắm được các kiến thức cơ bản về từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp và phong
cách, phải tuân theo những quy định, quy tắc đã được xác lập.
Trong quá trình dạy Chính tả lớp ba tôi thấy học sinh mắc lỗi chính tả
rất nhiều. Có những học sinh viết sai hơn 10 lỗi ở một bài chính tả khoảng 60
chữ. Khi chấm bài Tập làm văn, tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều
gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính tả. Điều này ảnh hưởng tới kết quả học
tập của các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả
năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát. Đặc biệt ngày
nay xã hội ta ngày càng phát triển thì nhu cầu đòi hỏi về tri thức con người
ngày càng cao, trong đó ngôn ngữ nói và viết là vô cùng cần thiết cho mỗi
người. Mỗi thành công không phải tự nhiên mà có được mà phải trải qua một
quá trình rèn luyện kiên trì ngay từ đầu. Vì thế tôi băn khoăn, trăn trở và
mạnh dạn đề xuất một số biện pháp góp phần trong việc giúp học sinh lớp 3
giảm bớt lỗi chính tả.
1
III.CƠ S Ở LÍ LUẬN:
như sau:
2
Tổng số học
sinh
Lỗi Số lượng Tỉ lể %
27em
không sai lối 4em 14,8 %
sai 1-2 lỗi 5em 18,5%
sai 3-5 lỗi
7em 25,9%
sai 5-10 lỗi
7em 25,9%
sai trên 10 lỗi
4em 14,8%
Qua đợt khảo sát trên bản thân tôi thấy học sinh còn viết sai lỗi chính tả
quá nhiều, tôi rất băn khoăn và lo lắng. Chính vì vậy trong quá trình giảng
dạy tôi đã tìm ra và đưa vào vận dụng một số biện pháp sau:
V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.Thống kê lỗi:
Qua kết quả thống kê các loại lỗi, tôi thấy học sinh thường mắc phải
các loại lỗi sau:
a. Về thanh đi ệu:
Tiếng Việt có 6 thanh điệu (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì học
sinh không phân biệt 2 thanh hỏi, ngã. Tuy chỉ có 2 thanh nhưng số lượng
tiếng mang 2 thanh này không ít và rất phổ biến kể cả những người có trình
độ văn hoá cao.
Ví dụ: Sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành…
b. Về âm đ ầu:
- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ c/k: Céo cờ…
+ iêt/iêc: mải miếc, tiêu diệc…
+ uôn/uông: khuôn nhạc, buồn tắm…
+ uôt/uôc: rét buốc, chải chuốc…
+ ươn/ương: lươn bổng, sung sư ớn
2. Nguyên nhân mắc lỗi:
a. Về thanh đi ệu:
- Do học sinh phát âm theo giọng địa phương nên không phân biệt được
thanh hỏi và thanh ngã
4
b. Về âm đ ầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu
ch/tr, s/x. d/gi, l/n. Mặt khác, người Miền Nam còn lẫn lộn v và d. Ngoài ra,
trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: /k/ ghi
bằng c,k,qu…) dĩ nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng, nhưng đối
với học sinh tiểu học (nhất là học sinh yếu) thì rất dễ lẫn lộn.
c. Về âm chính:
Có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:
- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên
âm /ă/ lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi /ie,
ươ, uô/ lại được ghi bằng các dạng iê, yê, ia, ya; ươ, ưa; uô, ua (bia - khuya,
biên - tuyến, lửa - lương, mua - muôn); âm đệm /w/ lại được ghi bằng 2 con
chữ u và o (ví dụ: huệ, hoa).
- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm tiếng địa phương đối với các
âm chính trong hầu hết các vần trên.
d. Về âm cuối:
Người Miền Nam phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm
cuối n/ng/nh và t/c/ch. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai
bán âm cuối /i,u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong:
sau/sao) do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh khu vực
phía Nam.
tả, khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích
cấu tạo tiếng.
- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học
sinh đọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu
nghĩa từ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật
thật, mô hình, tranh ảnh,…
Ví dụ: Phân biệt chiêng và chiên
6
+ Giải nghĩa từ chiêng: Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh
ảnh cái chiêng hoặc miêu tả đặc điểm (chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình
tròn, đánh bằng dùi, âm thanh vang dội).
+ Giải nghĩa từ chiên: Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ
chiên hoặc giải thích bằng định nghĩa (chiên là làm chín thức ăn bằng cách
cho thức ăn vào chảo dầu, mỡ, đun trực tiếp trên bếp lửa).
- Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ
thể để giải nghĩa từ.
d. Ghi nhớ mẹo luật chính tả:
- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi
phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách
rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn
giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie.
Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác
như:
+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều
bắt đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân,
sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu,
sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, sư tử, sơn dương, san hô…
+ Để phân biệt dấu thanh hỏi/ngã: Các từ gộp âm chỉ mang thanh hỏi
không mang thanh ngã:
- Trong + ấy = trỏng.
đùng đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng,
quang quác, ăng ẳng, ằng ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng,
eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, reng reng, phèng phèng, lẻng
kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch,
thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch…
8
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã
khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo
chân
e. Làm các bài tập chính tả:
Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học
sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong
văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc
chính tả để các em ghi nhớ.
- Bài tập trắc nghiệm:
* Khoanh tròn vào chữ cái trước những chữ viết đúng chính tả:
a. Hướng dẩn b. Hướng dẫn
c. Giải lụa d. Dải lụa
e. Oan uổng g. Oan uổn
* Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và
chữ S vào ô trống trước những chữ viết sai chính tả:
Rau muốn Rau muống
Chải chuốc Chải chuốt
Giặc quần áo Giặt quần áo
* Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ
viết đúng chính tả:
A B
bênh trái
bên vực
bện tật
/
, xanh biêng b…
/
* Điền tiếng láy thích hợp vào chỗ trống:
Hắn bỡ…… trước cuộc sống mới lạ.
Buổi trưa hè, trời nắng chói …….
Dây leo chằng………, chắn cả lối đi.
Tiếng gà kêu quang ………
- Bài tập tìm từ:
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua
gợi ý từ đồng âm, từ trái nghĩa….
* Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ươt hoặc ươc có nghĩa như sau:
Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ:
Thi không đỗ:
10
Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh:
* Tìm các từ chỉ hoạt động:
Chứa tiếng bắt đầu bằng r:
Chứa tiếng bắt đầu bằng d:
Chứa tiếng bắt đầu bằng gi:
Chứa tiếng có vần ươt:
Chứa tiếng có vần ươc:
* Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau:
Trái nghĩa với từ thật thà:
Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố:
Cây trồng để làm đẹp:
Khung gỗ để dệt vải:
- Bài tập phân biệt:
Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau:
sai 1-2 lỗi 8em 29,7%
sai 3-4 lỗi
6em 22,2%
sai 5-10 lỗi
3 em 11,1%
sai trên 10 lỗi
0 %
Tuy rằng đây mới chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn và việc “giúp học
sinh giảm bớt lỗi chính tả” là một quá trình lâu dài song tôi vẫn cảm thấy rất
vui vì công việc mình làm đã bước đầu có hiệu quả.
VII. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
- Việc phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm nguyên nhân gây lỗi, từ đó
đưa ra các biện pháp khắc phục là rất cần thiết, không thể thiếu trong quá
trình dạy - học Tiếng Việt. Nhưng không phải chỉ đưa ra các biện pháp khắc
phục là có thể thực hiện một cách có hiệu quả. Sửa chữa, khắc phục lỗi chính
tả là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền bỉ,
không được nóng vội. Bởi vì có những học sinh tiến bộ ngay trong vài tuần
nhưng cũng có những học sinh thì sự tiến bộ diễn ra rất chậm, không phải vài
tuần, có khi vài tháng, thậm chí cả một học kỳ. Nếu giáo viên không biết chờ
đợi, nôn nóng thì chắc chắn sẽ thất bại.
12
- Ngay từ khi các em mới bắt đầu “làm quen” với Tiếng Việt, giáo viên nên
hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy
tắc ghi âm chữ quốc ngữ… tránh trường hợp học sinh vì thiếu hiểu biết dẫn
đến sai sót. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn quan sát, kiểm tra,… từ
đó phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc, hoặc những lỗi mà học sinh hay
mắc phải để kịp thời sửa chữa, uốn nắn.
- “Ở đâu có thầy giỏi. ở đó có trò giỏi”. Vì vậy người giáo viên cần phải
không ngừng học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao trình độ, tay nghề.
Có nắm chắc kiến thức, giáo viên mới có thể giúp học sinh chữa lỗi và khắc
14
MỤC LỤC
TT Tiêu đề Trang
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Tên đề tài
Đặt vấn đề
Cơ sở lí luận
Cơ sở thực tiễn
Nội dung nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
Bài học kinh nghiệm
Ý kiến đề xuất
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Mục lục
Phiếu đánh giá xếp loại SKKN
1
1
2