Các yếu tố tác động đến hoạt động bảo vệ môi
trường trong các cơ sở bảo trợ xã hội (Qua
nghiên cứu tại tỉnh Bến Tre) Trần Thị Lan Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Năm bảo vệ: 2014 Keywords. Xã hội học; Bảo vệ môi trường; Cơ sở bảo trợ xã hội; Ô nhiễm môi trường
Content
1. Lý do chọn đề tài
Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình trạng ô
nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra. Vấn đề này ngày
càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của
các thế hệ hiện tại và tương lai. Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp mà
còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội.
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế
và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường
chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh
tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường
diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng.
Hiện nay, cả nước có gần 600 cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng thuộc ngành Lao
động-Thương binh và Xã hội quản lý, gồm hơn 400 cơ sở bảo trợ xã hội, 121 cơ sở 05,06 và có
các cơ sở bảo trợ xã hội. Tuy nhiên, hiện nay nghiên cứu, đánh giá về các yếu tố tác động đến
môi trường và hiện trạng môi trường tại các cơ sở bảo trợ xã hội là chưa nhiều. Vì vậy, các cơ
quan quản lý Nhà nước chưa có các thông tin đầy đủ về các yếu tố và hiện trạng môi trường của
từng cơ sở bảo trợ xã hội cũng như mức độ quan tâm đúng mức tới vấn đề môi trường tại các cơ
sở.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “ Các yếu tố tác động đến hoạt
động bảo vệ môi trường trong các cơ sở bảo trợ xã hội” qua nghiên cứu tại tỉnh Bến Tre, với
mong muốn đóng góp thêm nghiên cứu của mình dưới góc độ xã hội học cho vấn đề bảo vệ môi
trường trong các cơ sở bảo trợ xã hội.
2.Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Con người và xã hội đều xuất thân từ tự nhiên và là một bộ phận của tự nhiên. Hoạt động
của con người và xã hội được xem là một khâu, một yếu tố trong hệ thống của thiên nhiên.
Thông qua quá trình lao động, con người khai thác, bồi đắp cho thiên nhiên, cũng thông qua quá
trình đó con người và xã hội cũng có sự đối lập với thiên nhiên. Con người ngày nay khai thác và
sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách tối đa, bất chấp quy luật của tự nhiên. Chính sự vô tình
hay hữu ý mà con người đã phá hủy môi trường sống của mình một cách nghiêm trọng.
Ở Việt Nam hiện nay vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường là một vấn đề được các nhà
khoa học nghiên cứu khá nhiều trong những năm qua. Đây là vấn đề nóng bỏng, bức xúc và luôn
cần thiết được tìm tòi khám phá. Có một số những công trình nghiên cứu của các cơ quan, nhà
nghiên cứu khác nhau mới được thực hiện trong những thời gian gần đây có thể kể đến:
Sách “Một số vấn đề xã hội nhân văn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên và
bảo vệ môi trường ở Việt Nam”, tác giả Hà Huy Thành [23]. Dựa vào việc phân tích mối
quan hệ giữa con người và tự nhiên qua các thời kỳ, cuốn sách đã liên hệ về thực trạng và một
số vấn đề xã hội tác động đến việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình công
nghiệp hóa ở Việt Nam. Cụ thể thông qua việc phân tích bản chất mối quan hệ giữa xã hội
và môi trường trong quá trình phát triển, tác giả đã dự báo những khả năng xung đột trong
quá trình phát triển và mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên, tính xã hội và nhân văn trong
việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, cũng như trước những vấn đề cấp bách của thiên
nhiên như: Suy thoái và ô nhiễm không khí, đất, nước…Đồng thời, cuốn sách cũng tập
trung nêu thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường cũng như đi sâu
việc xã hội hóa văn hóa môi trường), vấn đề thể chế hóa và hiệu lực hóa văn hóa môi
trường
).Bài viết: “Môi trường, tài nguyên và phát triển bền vững - cam kết của Việt Nam”,
Phạm Khôi Nguyên [17]. Đây là một trong những bài viết đề cập đến vấn đề môi trường
với hai phần chính. Phần một, tác giả đề cập đến hiện trạng xuống cấp của môi trường và các
nguyên nhân gây ra dưới góc độ vĩ mô. Phần hai nói về các quy định, văn bản, chính sách có
liên quan đến môi trường đã thực hiện được tại Việt Nam theo tinh thần tại Hội nghị thượng
đỉnh Thế giới về phát triển bền vững tại Cộng hòa Nam Phi của Liên Hiệp Quốc. Bài viết
giúp người đọc có cái nhìn rõ nét hơn về thực trạng, nguyên nhân ô nhiễm môi trường hiện
nay trên thế giới từ cái nhìn vĩ mô cũng như các chính sách, đường lối về môi trường của Việt
Nam.
Bài viết: “Cần phải coi trọng Xã hội học Môi trường”, của tác giả Mã Nhung, người
dịch Nguyễn An Tâm, Tạp chí XHH [19]. Theo bài viết, sự biến đổi của môi trường trên
phạm vi toàn cầu gây ảnh hưởng đến sự tồn vong của trái đất do con người sử dụng quá mức
các nguồn lực tự nhiên, sự gia tăng dân số, sự phát triển của đô thị hóa – công nghiệp hóa.
Đồng thời, sự tác động của các yếu tố: chính trị quốc tế, thể chế xã hội, lợi ích kinh tế, tập tục
truyền thống… là những nguyên nhân chính gây nên sự tác động nghiêm trọng này. Vì vậy,
bài viết cho rằng khi nghiên cứu về loài người một mặt cần phải xem xét về yếu tố môi trường
tự nhiên, mặt khác phải nghiên cứu về sự tác động của xã hội loài người đối mới môi
trường cũng như những nghiên cứu kết hợp giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Và Xã
hội học Môi trường sẽ nghiên cứu những ảnh hưởng của hành vi con người đối với môi
trường tự nhiên trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Bên cạnh đó, đây cũng là một bài viết hay mang tính lý luận về nghiên cứu môi
trường tại Trung Quốc dưới góc độ Xã hội học. Dựa trên các đặc điểm vốn có của Trung
Quốc về điều kiện địa lý, dân số, kinh tế, chính trị, xã hội, thể chế…Cụ thể, tác giả đã chia
các lĩnh vực nghiên cứu về XHH MT ở Trung Quốc thành các nhóm như: ảnh hưởng của tập
tục văn hóa truyền thống về những quy phạm hành vi của khu xã đối với moi trường, việc
chưa được thể hiện rõ [25].
Luận văn “Thực trạng thu gom rác thải sinh hoạt tại thị trấn Anh Sơn-huyện Anh Sơn-
tỉnh Nghệ An và đề xuất một số giải pháp quản lý thích hợp” của tác giả Nguyễn Duy cũng đã
phân tích, làm rõ thực trạng vấn đề rác thải sinh hoạt đang tồn tại ở thị trấn Anh Sơn; các thành
phần rác thải; nguồn gốc phát sinh các loại chất thải sinh hoạt; các hoạt động thu gom rác thải
sinh hoạt tại Anh Sơn và đưa ra được một số đề xuất giải pháp quản lý thích hợp về công tác thu
gom rác thải sinh hoạt, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở cấp độ các đô thị, thị trấn chưa bao quát
chung đến cả các vùng nông thôn.[8]
Đề tài cấp bộ: “Hiện trạng và giải pháp quản lý, tái sử dụng rác thải sinh hoạt khu vực
đô thị tại thành phố Thái Nguyên” do đại học Nông lâm thực hiện; Nguyễn Ngọc Nông là chủ
nhiệm đề tài đã phân tích các loại rác thải sinh hoạt hiện nay. Tác giả chỉ ra các nguồn chất thải
rắn chủ yếu từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và thương mại, khu dân cư, cơ
quan, trường học, bệnh viện. Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích sự ảnh hưởng của các chất thải
rắn đến sức khỏe của cộng đồng, trong đó chủ yếu là các chất thải hữu hữu cơ bền. Các chất hữu
cơ này được tận dụng nhiều trong đời sống hàng ngày chủ yếu ở các dạng dầu thải trong các thiết
bị điện của gia đình,các tụ điện Theo đánh gía của các chuyên gia các loại chất thải nguy hại
ảnh hưởng đến nguy hại sức khỏe cộng đồng, nghiêm trọng nhất là đối với các khu dân cư làng
nghể, gần công nghiệp, bãi chôn lấp rác thải, vùng nông thôn bị ô nhiễm. Chất thải rắn còn ảnh
hưởng rất nặng đến môi trường đất, nước, môi trường không khí, mỹ quan đô thị [15].
Đề tài: “Khảo sát vai trò của người dân trong việc tham gia quản lý và cải thiện môi
trường sống tại các cộng đồng nghèo đô thị” - Nhóm nghiên cứu Viện Khoa học xã hội vùng
Nam bộ, trung tâm Xã hội học, chủ nhiệm đề tài ThS. Trần Đan Tâm. Đề tài này quan tâm đến
việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý và cải tạo môi trường sống của người
nghèo đô thị. Đồng thời cũng tìm hiểu về ý thức của người dân trong việc tham gia quản lý cải
thiện môi trường. Các yếu tố về thái độ và hành vi cũng chưa được tác giả đề cập đến trong bài
viết này.
Luận văn thạc sĩ xã hội học: "Kiến thức, thái độ và hành vi người dân nông thôn về nước
sạch và vệ sinh môi trường" của Nguyễn Lê Hoài Anh đã nghiên cứu trường hợp 3 xã thuộc
Huyện Mỹ Lộc, tỉnh Hà Nam đã cho thấy người dân bắt đầu có nhận thức, hiểu biết về những
vấn đề liên quan đến nước sạch và vệ sinh môi trường. Nhưng chủ yếu dựa vào giác quan của
lý nguồn nước, rác thải y tế, sinh hoạt nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường cho các cơ sở bảo trợ
xã hội .
Nhìn chung, những nghiên cứu về đề tài môi trường tại Việt Nam mà tác giả luận văn thu
thập được, chủ yếu bàn về các vấn đề như: Vai trò của văn hóa môi trường trong nhận thức
của con người trong việc điều chỉnh hành vi mô trường. Vai trò của các yếu tố hệ thống hạ tầng
xã hội (cung cấp nước sạch, hệ thống thoát nước, các yếu tố văn hóa) trong hành vi của người
dân đối với môi trường. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý và cải tạo môi trường sống
của người nghèo đô thị, ý thức của người dân trong việc tham gia quản lý cải thiện môi trường.
Phân tích mối liên hệ giữa các vấn đề môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường
văn hóa, vai trò của giáo dục ý thức con người dựa trên đặc điểm văn hóa, xã hội, tự nhiên
về bảo vệ môi trường, nhận thức và hành vi của người dân Hà Nội với vấn đề sử dụng nước
sinh hoạt, vấn đề xử lý rác thải, nguyên nhân và ảnh hưởng đến người dân. Hiện trạng
xuống cấp của môi trường và các nguyên nhân gây ra dưới góc độ vĩ mô, các quy định,
văn bản, chính sách có liên quan đến môi trường đã thực hiện được tại Việt Nam. Thực
trạng và những vấn đề xã hội tác động đến việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam
như: khả năng xung đột trong quá trình phát triển và mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên, tính
xã hội và nhân văn trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái và ô nhiễm không
khí, đất, nước…Thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Ảnh hưởng
của những phong tục tập quán, luật pháp, đạo đức và văn hóa trong việc, sử dụng hợp lý tài
nguyên, bảo vệ môi trường. Vai trò của phát triển bền vững trong quá trình khai thác, sử
dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm tái thiết lập sự cân bằng giữa môi
trường, xã hội và con người trong quá trình phát triển. Sự cần thiết của việc bảo vệ và gìn
giữ tài nguyên và môi trường gắn với phát triển bền vững tại Việt Nam. Những chỉ báo quan
trọng trong việc đánh giá nghèo khổ và phát triển của Việt Nam. Tuy nhiên, có rất ít bài viết đề
cập đến vấn đề về nhận thức, thái độ và hành vi của con người với môi trường cũng như mối
liên hệ giữa các yếu tố này với nhau và hầu như chưa có bài viết nào tìm hiểu về vấn đề này ở
nhóm đối tượng ở các Trung tâm Bảo trợ xã hội.Tất cả các nghiên cứu của các tác giả đều
có ý nghĩa rất lớn đối với tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài: "Các yếu tố tác động đến hoạt
động bảo vệ môi trường trong các cơ sở bảo trợ xã hội (qua nghiên cứu tại tỉnh Bến Tre)".
3. Ý nghĩa của đề tài
cầu về việc gia tăng các giá trị sử dụng (chất lượng dịch vụ).
Đề xuất một số khuyến nghị về chính sách bảo vệ môi trường tại các cơ sở bảo trợ xã hội
nói riêng và cộng đồng nói chung.
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu:
Các yếu tố tác động đến hoạt động bảo vệ môi trường trong các cơ sở bảo trợ xã hội.
5.2. Khách thể nghiên cứu:
Cán bộ và đối tượng tại Trung tâm thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Bến
Tre.
5.3. Phạm vi nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu tại Trung tâm Bảo trợ xã hội và Trung tâm bảo trợ trẻ
em, tỉnh Bến tre.
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2010 - 2012.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Hiện trạng môi trường ở cơ sở bảo trợ ở tỉnh Bến Tre hiện nay như thế nào?
Nhận thức, thái độ, hành động của cán bộ, đối tượng tại trung tâm diễn ra sao?
Các yếu tố nào tác động đến hoạt động bảo vệ môi trường ở hai cơ sở bảo trợ?. Đâu là
yếu tố chính? đâu là yếu tố xúc tác?
Trong các giải pháp để nâng cao hoạt động môi trường giải pháp nào là quan trọng nhất?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Cán bộ, nhân viên đã nhận thức được mục đích và ý nghĩa của bảo vệ môi trường trong các
cơ sở bảo trợ xã hội. Các nhóm đối tượng sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội nhận thức về bảo vệ
môi trường với mức độ khác nhau.
Mức độ tham gia bảo vệ môi trường của cán bộ, nhân viên bị tác động từ rất nhiều nhân
tố khách quan và nhân tố chủ quan, song dịch vụ chăm sóc đối tượng và bảo vệ môi trường chưa
tốt là nhân tố có tác động trực tiếp và mạnh nhất đến các cơ sở bảo trợ xã hội hiện nay.
Đầu tư cở sở vật chất hạ tầng là một trong những nhân tố quan trọng nhất làm thay đổi
hoạt động của trung tâm cũng như vấn đề bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng dịch vụ tại
hai Trung tâm bảo trợ xã hội.
8. Phương pháp nghiên cứu
Cụ thể cán bộ: Nhóm 18 - 30 tuổi: 50 người
Nhóm 31 - 60 tuổi: 50 người
Tổng : 130 người
Tác giả chọn 130 người để phỏng vấn về các yếu tố tác động đến hoạt động bảo vệ môi
trường (nhận thức, thái độ, hành vi )của cán bộ, nhân viên và đối tượng; Trong quá trình phỏng
vấn, tác giả phỏng vấn trực tiếp 100 cán bộ, nhân viên và 30 đối tượng sống tại 02 Trung tâm,
trung tâm bảo trợ xã hội và trung tâm trẻ em thu thập những thông tin liên quan đến vấn đề bảo
vệ môi trường trong các trung tâm; định biên biên chế và hợp đồng của mỗi trung tâm trung bình
60-70 cán bộ, nhân viên ( Số lượng cán bộ, nhân viên tại 02 trung tâm này được thực hiện theo
Điều 13,14,15 Nghị định số 68/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chỉnh phủ quy định điều kiện, thủ
tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội); đối tượng được phỏng vấn là
trẻ em và người già.
8.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Chúng tôi tiến hành 10 phỏng vấn sâu. (Mỗi trung tâm tiến hành phỏng vấn sâu 3 người
thụ hưởng các dịch vụ của trung tâm và 2 cán bộ của mỗi trung tâm).
Đối tượng được phỏng vấn sâu tác giả chọn những đối tượng là người thụ hưởng các dịch
vụ chính sách của nhà nước được thể hiện theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007
của Chính phủ về chính sách trợ giúp xã hội các đối tượng bảo trợ xã hội và Nghị định số
13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của chỉnh phủ về chính sách trợ giúp xã hội các đối
tượng bảo trợ xã hội và phỏng vấn sâu một số cán bộ, nhân viên được thực hiện theo Nghị định
số 68/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt
động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả thu thập được những thông tin liên
quan đến nội dung luận văn của mình đó là các vấn đề gây ô nhiễm môi trường hiện nay tại trung
tâm như là nước thải sinh hoạt, rác thải, không khí…thái độ, hành vi của cán bộ, nhân viên và
đối tượng trong các trung tâm về vấn đề bảo vệ môi trường.
8.5 Về xử lý số liệu
Số liệu bảng hỏi sau khi hoàn tất được xử lý bằng chương trình SPSS 13.0
- cam kết của Việt Nam, t ạ p chí xã h ộ i họ c,04, 88.
18. Đỗ Hoài Nam, (2003), Phát triển kinh tế xã hội và môi trường các tỉnh ven biển miền
Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
19. Mã Nhung, người dịch Nguyễn An (2000), Cần phải coi trọng Xã hội học Môi
trường Tâm, tạp chí XHH, 02, 70.
20. Tô Duy Hợp & Đặng Đình Long (2003), Văn hóa môi trường ở Việt Nam ngày
nay: thực trạng và xu hướng biến đổi, tạp chí xã hội học số 1.
21. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2001), Xã hội học, Nxb ĐHQGHN.
22. Dương Thị Tơ và Tô Kim Oanh (2002), dự án“Tăng cường năng lực thể chế quản
lý thông tin môi trường” do WB tài trợ 2000-2002.
23. Hà Huy Thành (2001), Một số vấn đề xã hội nhân văn trong việc sử dụng hợp
lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia.
24. Nguyễn Duy Thắng (2003), Nghèo khổ đô thị: các nguyên nhân và yếu tố tác
động Tạp chí XHH số 1,81.
25. Nguyễn Thị Kim Thái và Nguyễn Thị Loan (2008), xây dựng mô hình xã hội hóa
để giải quyết những vấn đề chất thải rắn cho 4 xã: Thi Sơn, Ngọc Sơn, Văn Xá và Thị trấn
Quế ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
26. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học,
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
27.Từ điển môi trường và phát triển bền vững, (2001), Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà
Nội.
28. Từ điển Tiếng Việt Phổ thông - Viện ngôn ngữ học, NXB TP.HCM.
29. Trần Hữu Trung, Nguyễn Văn Hồi, “Hệ thống văn bản và tài liệu kỹ thuật hướng
dẫn bảo vệ môi trường trong các cơ sở bảo trợ xã hội", Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Lao động-
Thương binh và Xã hội.
30. Võ Quý, (1997), Tổng quan về những vấn đề môi trường ở Việt Nam, In trong tập:
Chính sách và công tác môi trường ở Việt Nam, Hà Nội.
31. Viện Khoa học LĐXH, Báo cáo chuyên đề “Bảo vệ môi trường trong các cơ sở bảo
trợ xã hội” Điều tra năm 2009, Bộ Lao động TBXH.