TRƯỜNG ðẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC ðẤT - TNTN
ðỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NẤM
Trichoderma spp và 3 LOẠI VẬT LIỆU CHỨA ðẤT TRỒNG LÊN
SINH TRƯỞNG, SÂU BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN GỪNG TẠI XÃ
MỸ AN, HUYỆN CHỢ MỚI NĂM 2006-2007 Chủ nhiệm ñề tài: NGUYỄN PHÚ DŨNG
Các đối tượng dịch hại xãy ra trên gừng ngoài yếu tố khách quan (nhiệt độ, ẩm
độ, gió, mưa, đất...) còn do vấn đề kỹ thuật canh tác của nông dân như: lượng giống
gieo trên hom trồng, khoảng cách trồng gừng trên sọt hay bọc nilong sẽ ảnh hưởng đến
lượng giống được dùng, kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch và bảo quản chưa được thống
nhất qui trình làm ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, dịch hại và năng suất cũng như về
hiệu quả kinh tế trong sản xuất đại trà. Để đáp ứng nhu cầu của bà con nông dân trồng
gừng đạt hiệu quả hơn trong sản xuất, vì thế chúng tôi chọn đề tài: “Hiện trạng canh
tác và ảnh hưởng của nấm Trichoderma spp và 3 loại vật liệu chứa đất trồng lên
sinh trưởng, sâu bệnh hại chính trên gừng tại xã Mỹ An, huyện Chợ Mới năm
2006-2007”, làm cơ sở cho nông dân mạnh dạn áp dụng kỹ thuật canh tác mới trong sản
xuất, kỳ vọng khắc phục được những khó khăn mà người trồng gừng đang gặp phải,
đồng thời góp phần nâng cao đời sống nông dân.
A. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. MỤC TIÊU
Điều tra, ghi nhận kỹ thuật canh tác, sâu bệnh hại chính và các loại nông dược
được sử dụng trên cây gừng của nông dân tại một số xã thuộc Huyện Chợ Mới, An
Giang.
Xác định hiệu quả của nấm đối kháng Trichoderma spp đối với bệnh thối củ,
bệnh cháy lá…
Xác định hiệu quả của từng vật liệu chứa đất trồng lên sinh trưởng và sâu bệnh
hại chính trên gừng so với trồng gừng trực tiếp trên đồng ruộng.
1
II. NỘI DUNG
Điều tra hiện trạng canh tác và sử dụng nông dược trên cây gừng tại huyện Chợ
Mới (47 mẫu được phân bổ theo một số xã Kiến An, Mỹ An, Tấn Mỹ và Bình Phước
Xuân) theo phiếu điều tra được soạn trước các câu hỏi phỏng vấn có liên quan đến các
vấn đề kỹ thuật canh tác như thời vụ, giống, phân bón, tưới nước, sâu bệnh, các loại
nông dược thường được sử dụng, năng suất, hiệu quả kinh tế….
Bố trí thí nghiệm hiệu quả của nấm Trichoderma spp và 3 loại vật liệu chứa lên
hợp đối với cây gừng (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2001).
Gừng là loại cây thân thảo, sống được lâu năm, có thể cao từ 50-100 cm tuỳ theo
đất, có nơi cao hơn 150 cm. Cây gừng cũng sinh trưởng bình thường dưới tán che của
các vườn cây ăn quả và một số loại rừng trồng. Tuy nhiên dưới độ tán che 0,7-0,8 (tán
2
lá che khoảng 70-80% diện tích tán) của rừng gỗ tự nhiên, cây gừng trồng chỉ cho năng
suất củ bằng ½ năng suất trồng ở nơi ánh sáng hoàn toàn, trên cùng một loại đất
(Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2001). Gừng phát triển thân ngầm ở dưới đất,
có nhiều đốt, mỗi đốt có mầm ngủ, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ đâm chồi thành cây
gừng mới. Bẹ lá ôm sát vào nhau phát triển thành thân giả trên mặt đất. Lá đơn mọc
cách (so le), lá trơn, không có cuống, hình mũi mác, mặt bóng nhẵn, mép lá không có
răng cưa, gân giữa hơi trắng nhạt. Trục hoa mọc từ góc (củ gừng), dài khoảng trên dưới
20 cm, hoa tự tạo thành bông, mọc sát nhau, hoa dài khoảng 5 cm, rộng khoảng 2-3 cm,
lá bắc hình trứng, mép lưng màu vàng. Đài hoa dài chừng 1 cm, có 3 răng ngắn, có 3
cánh hoa, màu vàng hơi nhạt, mép cánh hoa màu tím, nhị hoa cũng màu tím. Tuy nhiên
ở nước ta gừng trồng ít ra hoa, hoặc chưa ra hoa đã thu hoạch củ để bán (Mai Văn
Quyền và ctv, 2001).
Gừng có nhu cầu N, P, K tương đối cao, trong đó, nhu cầu về N là nhiều nhất,
sau đó P và K. Vì vậy, muốn đạt năng suất cao phải trồng gừng trên đất tốt, nếu trồng
gừng trên đất xấu phải bón phân (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2001).
3. Giống
3.1. Chọn giống
Khi chọn gừng để làm giống thì ngưng bón phân ở giai đoạn gừng đã được 6
tháng tuổi. Lưu ý không được lạm dụng phân vô cơ quá nhiều, gừng sẽ dễ phát sinh
bệnh. Đối với phân hữu cơ vi sinh có thể tăng liều lượng lên, bón càng nhiều càng tốt,
không có hại cho cây gừng (Khoa Học & Đời Sống, 2005).
Gừng giống: Chọn gừng già, không mang mầm bệnh. Gừng trồng phổ biến
(Zingiber officinale) trong sản xuất có hai giống khác nhau:
• Gừng trâu, củ to, ít xơ, ít cay, thích hợp cho xuất khẩu.
nước tốt vì vậy đất để trồng rừng thường là đất vườn cày bừa kỹ, làm sạch cỏ.
Trước khi xuống giống nên gom và thiêu hủy những cây bị bệnh của vụ trước
đó, đất trồng nên được cày xới, phơi khô, lên liếp và bón lót vôi bột (70-120 kg/công).
Có thể rải chất kích kháng, tăng cường bón phân hữu cơ vi sinh, phân chuồng đã ủ hoai
mục, cũng có thể dùng tro trấu. Chú ý: khi đặt gừng giống, nên đặt trên mặt liếp, không
nên đặt dưới rãnh (để nhẹ tưới) vì vi khuẩn gây bệnh thối củ luôn có khuynh hướng di
chuyển xuống phần dưới của liếp trồng, nhất là tập trung nơi các rãnh (Khoa Học & Đời
Sống, 2005).
Theo Lê Đình Mỗi và ctv (2002), cây gừng sinh trưởng tốt trên các thân đất tơi
xốp, tầng đất dầy còn tương đối tốt, ít lẫn đá, có khả năng giữ nước và thấm nước tương
đối cao, đất đủ ấm, thoát nước tốt, không gây úng, cây gừng thích hợp nhất trên những
thân đất thịt, có hàm lượng mùn cao, đất trồng tốt nhất là có độ pH 5,5-7.
Cây gừng đã được 90 ngày tuổi, có thể chia ra làm 5 đợt bón phân và mỗi đợt
bón cách nhau 20 ngày (90 ngày, 110 ngày, 130 ngày, 150 ngày, 170 ngày, 190 ngày).
Bón phân NPK 20-20-15, liều lượng 10 kg/công, đồng thời có thể bón thêm các loại
phân hữu cơ (Khoa Học và Đời Sống, 2005).
6. Chăm Sóc
Tưới nước: Giai đoạn đầu, 3 ngày/ lần, tưới vừa đủ ẩm bằng thùng tưới có gắn
vòi sen. Giai đoạn sau, 7 ngày/ lần, tưới đẫm nước.
Làm cỏ: Khi thấy cỏ xuất hiện ta tiến hành nhổ sạch cỏ dại, kết hợp vun gốc.
7. Bón Phân
Theo Châu Đăng Sơn (2005), bón phân được chia ra các giai đoạn sau:
- Đợt 1: Sau khi trồng 25-30 ngày, bón 3kg phân trùn /sọt.
- Đợt 2: Sau khi trồng 55-60 ngày, bón 3kg phân trùn / sọt.
Các đợt sau, bón phân khi thấy củ lòi ra khỏi lớp phân trùn. Liều lượng phân bón
tùy củ lòi nhiều hay ít. Khoảng 1- 3kg/vỏ.
Theo Khoa học và đời sống (2005), cây gừng là loại cây trồng có thời gian sinh
trưởng khá dài (từ 6 đến 8 tháng). Do vậy, khi trồng gừng, nông dân thường trồng xen
với các loại cây trồng khác có thời gian sinh trưởng ngắn hơn như đậu xanh hoặc bắp. Ở
giai đoạn đầu nông dân chỉ bón phân cho các loại cây trồng xen này (chứ không bón
mưa, đục vào bên trong ăn phần non, nếu bộc phát nhanh sẽ làm giảm năng suất gừng
và sử dụng Basudin, Regent…khi thấy bướm xuất hiện thì phun xịt.
9. Nấm Trichoderma spp
Nấm Trichoderma spp hiện diện ở khấp nơi trong đất đã được các nhà khoa học
tìm thấy có khả năng phân huỷ các dư thừa thực vật hay rơm rạ thành chất dinh dưỡng
cung cấp cho cây đồng thời còn tạo thêm độ phì cho đất. Bên cạnh khả năng phân huỷ
rơm thì một số loài trong chi này còn là nhân tố hứa hẹn trong phòng trừ sinh học, do
trong quá trình sống chúng sản sinh ra các chất kháng sinh, độc tố…ức chế sự phát triển
của một số nấm gây bệnh trong đất (theo Cook và Baker, 1989, được trích dẫn bởi Ngô
Thị Mỹ Hiền, 2003).
Trong quá trình tác động lên nấm gây bệnh, nấm Trichoderma spp ký sinh lên
nấm bệnh, cạnh tranh thức ăn, sản sinh các chất kháng sinh, enzyme để ngăn cản sự
xâm nhập và gây bệnh của các nấm gây bệnh hại cây. Bên cạnh tác động đối kháng với
nấm gây bệnh hại cây, nấm Trichoderma spp còn biểu hiện tác động kích thích đối với
sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng (Seiketop, 1982 được trích dẫn bởi Trần Thị
Thuần và ctv, 1996-2000).
10. Thu hoạch
Theo Trần Ngọc Chủng (2005), khi gừng có lá vàng và khô trên 2/3 số lá là ta có
thể thu hoạch được. Khi thu hoạch chú ý tránh gãy gừng. Kỹ thuật thu nhánh tránh gãy
5
và giữ nguyên cả khóm củ, ta cuốc xa gốc 20 – 25 cm, sau nhổ nhẹ để lấy cả khóm củ,
tỉa hết đất để có tảng củ của khóm.
Theo Châu Đăng Sơn (2005), sau khi trồng 9 tháng, tiến hành thu hoạch củ
gừng. Trong giai đoạn này, lá cây bắt đầu chuyển sang màu vàng, cong lại, một số lá bắt
đầu khô héo. Đào nhẹ không để gẫy củ. Sau đó, nhổ cây, rũ sạch đất.
11. Công dụng
Theo Lê Đình Mỗi và ctv (2002), gừng được sử dụng làm gia vị trong chế biến
thực phẩm ở hầu hết các khu vực trên thế giới. Thông thường gừng được sử dụng ở
dạng củ tươi hay được chế biến sơ bộ ở dạng củ khô thái lát, bột gừng khô, mức gừng,
quan đến các vấn đề kỹ thuật canh tác gừng như thời vụ, giống, phân bón, tưới nước,
phòng trừ sâu bệnh, các loại nông dược thường được sử dụng, năng suất, hiệu quả kinh
tế,... (Phụ chương 50). Thời gian điều tra tháng 2/2007 – 4/2007.
6
1.2 Phương pháp: Chọn ngẫu nhiên hộ nông dân trồng gừng trên địa bàn các xã
Kiến An, Mỹ An, Tấn Mỹ và Bình Phước Xuân thuộc huyện Chợ Mới - An Giang để
tiến hành điều tra. Số phiếu điều tra là 47 phiếu.
1.3. Xử lý số liệu: Các số liệu được nhập vào bằng phần mềm Microsoft Excel.
Sau đó thống kê bằng chương trình SPSS for Window V.12 để tính trung bình, Max và
Min.
2. Thí nghiệm
2.1. Phương tiện
* Địa điểm: thực hiện tại xã Mỹ An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, từ tháng
02/2006-10/2006.
* Khí hậu: tình hình khí hậu trong suốt thời gian thực hiện thí nghiệm được thu
thập dựa vào số liệu của đài khí tượng thủy văn An Giang, thể hiện qua các chỉ tiêu về
nhiệt độ, lượng mưa, tổng giờ nắng và ẩm độ không khí.
* Giống: Địa phương (Gừng dé).
2.2. Phương pháp
2.2.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí ngoài đồng ruộng của Chú 5 Bưu và Chú
5 Hoàng, xã Mỹ An, Huyện Chợ Mới, An Giang theo thể thức lô phụ,
hai nhân tố (xử lý nấm Trichoderma spp và vật liệu chứa) với 8 nghiệm
thức và ba lần lặp lại. Sơ đồ bố trí thí nghiệm và tổ hợp các nghiệm
thức được trình bày ở Hình 1 và Bảng 1.
Tổng diện tích ruộng thí nghiệm: 300 m
2
, diện tích mỗi lô (nghiệm thức) là 7,8
m
(8)
Có xử lý
(Tri)
ND-Tri
(1)
ST-Tri
(3)
NiT-Tri
(5)
NiĐ-Tri
(7)
7
Rep I
NiĐ-O (8) ST-O (4) ND-O (2) NiT-O (6)
Rãnh(0,5m)
NiT-Tri (5) ND-Tri (1) NiĐ-Tri (7) ST-Tri (3)
Rãnh (1m)
Rep II
NiĐ-Tri (7) ST-Tri (3) NiT-Tri (5) ND-Tri (1)
Rãnh(0,5m)
ST-O (4) ND-O (2) NiT-O (6) NiĐ-O (8)
Rãnh (1m)
Rep III
NiT-O (6) NiĐ-O (8) ST-O (4) ND-O (2)
Rãnh(0,5m)
ND-Tri (1) NiT-Tri (5) ST-Tri (3) NiĐ-Tri (7)
Hình 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm gừng tại Chợ Mới, An Giang
Ghi chú:
- ND-Tri (1): Trồng gừng trên liếp theo cách nông dân thực hiện và có xử lý
* Chuẩn bị đất: đất trồng nên cày xới, phơi khô, lên liếp và rải thuốc hoá học
để tiêu diệt mầm bệnh trong đất, tăng cường bón phân hữu cơ vi sinh, phân chuồng đã ủ
hoai mục, cũng có thể dùng tro trấu.
* Chuẩn bị cây con: Sau khi thu hoạch gừng giống được phơi nơi thoáng mát
(khoảng 5 ngày). Gừng được nhân giống chủ yếu bằng các mẩu, mảnh (hom) nhỏ được
tách từ thân rễ (trung bình 1 kg gừng phân ra 15 hom), mỗi mẫu dài từ 3-5 cm, nặng 30-
50g và có ít nhất một đỉnh chồi hoặc một đỉnh sinh trưởng. Sau đó phơi nơi thoáng mát
cho ráo vết cắt (khoảng 10 ngày). Mẫu gừng được xử lý thuốc Carban (ngâm khoảng 1-
2 giờ) trước khi đem ủ trong tro trấu và tưới nước vừa đủ ẩm để giúp gừng nẩy mầm tốt
(khoảng 7 ngày) trước khi đem ra trồng.
* Trồng cây:
- Trồng trong sọt tre (đường kính 0,4m), bọc nilong trắng (đường kính 0,4m) và
bọc nilong đen (đường kính 0,4m): Sau khi lót bọc nilong mỏng hay cước, cho
hỗn hợp đất phân (đất + phân + tro được xử lý vôi) vào, nén vừa. Trồng với
khoảng cách 0,4 x 0,5 cm và chỉ trồng 2 mẫu/sọt hay bọc. Có thể xử lý thuốc
trừ nấm bệnh hoặc trừ sâu sau khi trồng 3-5 ngày. Khi trồng, cần loại bỏ
những mẫu gừng bị hư thối hoặc nhiễm nấm bệnh (tránh trường hợp nấm bệnh
lây lan về sau)
- Đối với liếp đất thì đặt gừng giống trên mặt liếp, không nên đặt dưới rãnh (để
nhẹ tưới).
- Xử lý Trichoderma spp lần 1 lúc gieo bằng cách sử dụng chế phẩm tưới hoặc
phun trên cây con theo nồng độ sử dụng (1g/m
2
đất), cách 30 ngày sau khi
gieo xử lý lần 2 và 60 ngày sau khi gieo xử lý lần 3.
* Chăm sóc:
- Tưới nước: Giai đoạn đầu, 3 ngày/ lần, tưới vừa đủ ẩm bằng thùng tưới có gắn
vòi sen. Giai đoạn sau, 7 ngày/ lần, tưới đẫm nước.
- Làm cỏ: Khi thấy cỏ xuất hiện ta tiến hành nhổ sạch cỏ dại, kết hợp vun gốc.
- Bón phân: Theo Bảng 2 thì tổng lượng phân tính cho 1.000 m
40
-
-
-
-
-
-
5
5
5
5
-
0,5
-
-
-
0,3
0,3
-
-
-
5
10
-
-
1,5
1,5
1,5
1,5
-
: lá thứ i bị hại
n
i
: cấp thiệt hại thứ i tương ứng
P: tổng số lá quan sát ở mỗi nghiệm thức
N: cấp thiệt hại cao nhất
• Bệnh thối củ do vi khuẩn Erwinia spp: ghi nhận bệnh trên từng nghiệm thức
với phân cấp có và không có bệnh theo định kỳ 7 ngày/lần ở giai đoạn trước
từ 30-90 NSKG và 10 ngày/lần ở giai đoạn sau 90 ngày.
* Chỉ tiêu về tăng trưởng (quan sát cố định 10 cây/lô):
- Chiều cao bụi và chồi: dùng thước đo dây từ gốc đến đỉnh sinh trưởng của
thân cây dài nhất lúc thu hoạch.
10
- Đếm số lá/chồi trên cây gừng
- Đường kính thân gừng: dùng thước kẹp đo đường kính thân gừng ở chồi
cao nhất/bụi, cây/lô thí nghiệm.
* Chỉ tiêu về thành phần năng suất và năng suất
- Trọng lượng trung bình củ gừng (kg/củ gừng): cân 10 củ gừng
mẫu/nghiệm thức.
- Năng suất củ gừng: cân tất cả các củ gừng trên mỗi lô thí nghiệm (không
kể các cây đầu hàng) rồi qui ra năng suất thực tế (tấn/ha).
- Năng suất toàn cây (tổng sinh khối gồm thân, lá): cân trọng lượng của 10
cây trên mỗi nghiệm thức, tính trọng lượng trung bình rồi quy ra năng suất
toàn cây (tấn/ha).
* Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế: so sánh hiệu quả của đồng vốn đầu tư:
- Doanh thu = sản lượng x giá bán 1 kg gừng
- Chi phí sản xuất: giống, phân bón, thuốc BVTV, công làm đất, lên liếp,
làm cỏ, chi phí khác…
- Tỷ suất lợi nhuận: Tỷ suất lợi nhuận = (Doanh thu - chi phí sản xuất)/chi
từ 50 – 60 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất với 40,43%, tuổi 40 – <50 (27,65%), tuổi 30 - <40
(19,15%), tuổi trên 60 (8,51%) và thấp nhất tuổi dưới 30 chiếm 4,26%.
1.2. Trình độ văn hoá
Trình độ học vấn cũng là một yếu tố quan trong trong việc tiếp thu, học hỏi
những kinh nghiệm về canh tác tiên tiến và áp dụng có hiệu quả hơn trong canh tác
gừng của gia đình. Từ kết quả được ghi nhận ở Bảng 4 cho thấy các hộ điều tra có trình
độ từ Trung học cơ sở (THCS) là 26 hộ, chiếm 55,32% là cao nhất, Trung học phổ
thông (THPT) có 10 hộ (21,28%), ở cấp bậc tiểu học là 10 hộ (21,28%) và không có
trình độ là 1 hộ (2,13%), không có nông hộ nào có trình độ Trung học chuyên nghiệp
(THCN) hay Đại học (ĐH). Với kết quả nầy, thì đây là một phần khó khăn đối với nông
dân trồng gừng của huyện trong việc tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật mới được khuyến
cáo trong canh tác để góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Vì vậy,
12
việc mở các điểm trình diễn trồng gừng áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới trên từng xã để
giúp nông dân dễ tiếp nhận là vấn đề cần được đặt ra để giải quyết khó khăn nầy.
1.3. Kinh nghiệm và giới tính của nông hộ sản xuất
Có thể nói thời gian tham gia trồng gừng là một yếu tố có sự đóng góp quan
trọng đến năng suất trong nghề trồng gừng. Người trồng gừng lâu năm sẽ tích lũy được
nhiều kinh nghiệm rất quý báu và cần thiết trong nghề trồng gừng, từ đó mà trong các
khâu của quá trình canh tác họ biết rõ nên làm thế nào để nâng cao năng suất và hiệu
quả cho ruộng gừng của mình. Cũng từ dẫn liệu ở Bảng 4, cho thấy trồng gừng đa phần
là nam giới, chiếm 97,87% và nữ giới chiếm 2,13%. Riêng về kinh nghiệm trồng gừng,
thì trung bình dưới 5 năm chiếm tỉ lệ cao nhất với 36,17%, từ 5 - dưới 10 năm
(34,04%), từ 10 - dưới 15 năm (12,77%), từ 15 - dưới 20 năm (8,21%), từ 20 - dưới 25
năm và 25 – 30 năm cùng chiếm 4,26%.
Bảng 4: Tuổi trung bình, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất và giới tính của các
nông hộ trồng gừng ở Chợ Mới, tỉnh An Giang
Tuổi
trung bình %
mở rộng quy mô, diện tích trồng gừng của nông hộ. Nguồn lao động trong canh tác
gừng chủ yếu là lao động gia đình gồm chính và phụ. Ngoài các lao động chính thì sự
đóng góp của các lao động phụ trong nhà là không nhỏ (do có nhiều khâu chăm sóc
trong canh tác gừng đòi hỏi nhiều lao động mà các lao động phụ có thể tham gia như:
làm đất, gieo giống, làm cỏ,…). Qua số liệu điều tra được thể hiện Bảng 5, cho thấy
bình quân mỗi hộ canh tác có 1 lao động chính và 1,72 lao động phụ. Với kết quả nầy
thì số lao động gia đình của phần lớn nông hộ tương đối đủ để chăm sóc tốt cho diện
tích canh tác trung bình 3,19 công (1.000 m
2
)/hộ.
2.2. Diện tích trồng gừng của nông hộ
Cũng từ dẫn liệu ở Bảng 5, cho thấy diện tích trồng gừng của các nông hộ dưới 3
công chiếm tỷ lệ cao nhất (78,72%), từ 3 – dưới 5 công (17,02%), từ 5 – 12 công chiếm
tỉ lệ thấp nhất là 4,26%. Trung bình mỗi hộ canh tác 3,19 công/hộ, với diện tích nhỏ nầy
các nông hộ có thể sử dụng lao động gia đình để chăm sóc gừng và cũng góp phần hạn
chế chi phí.
Bảng 5: Tình hình lao động và diện tích trồng gừng của các nông hộ ở Chợ Mới, AG
Danh mục Số lượng Tần số hộ % Trung bình Max Min
Lao động (người/hộ):
13
- Chính
- Phụ
1
1,74
Diện tích (1000m
2
/hộ):
- <3
- 3 - <5
6 9 19,15
7 7 14,89
8 4 8,51
9 1 2,13
11 3 6,38
12 1 2,13
13 1 2,13
Ghi chú: Tổng số hộ điều tra: 47
3.2. Giống và cách xử lý giống
3.2.1. Nguồn giống
Giống giữ vai trò rất quan trọng trong sản xuất. Qua kết quả điều tra được trình
bày ở Bảng 7, cho thấy phần lớn các hộ đều mua gừng giống ở các vùng lân cận chiếm
85,11% và còn lại 14,89% nông dân tự để giống. Điều nầy chứng tỏ nguồn giống cung
cấp cho các nông hộ sản xuất là rất cần thiết tại địa phương, đặc biệt khi mô hình được
phát triển trên diện rộng và rất cần đáng lưu ý trong sản xuất về số lượng cũng như chất
lượng gừng giống.
3.2.2. Cách xử lý giống
14
Cây gừng rất dễ bị tấn công các loại dịch hại trong đất như kiến, dế, mối...đặc
biệt là bệnh thối củ sẽ ảnh hưởng lớn đến qui mô sản xuất cũng như toàn bộ quá trình
canh tác gừng, vì thế việc xử lý gừng giống trước khi gieo trồng là rất cần thiết giúp loại
trừ sự xâm nhập của sâu bệnh, góp phần bảo vệ năng suất. Cũng từ dẫn liệu ở Bảng 7,
cho thấy đa số các hộ (33 hộ nông dân) được điều tra đều có xử lý gừng giống trước khi
gieo trồng chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,22%, 11 hộ có xử lý gừng giống với vôi
(23,40%) và còn lại chỉ có 3 hộ không xử lý gừng giống chiếm 6,38%.
Bảng 7: Nguồn giống và cách xử lý giống gừng của các nông hộ ở Chợ Mới,
tỉnh An Giang
Danh mục Tần số hộ %
* Nguồn giống:
– Cây trồng gừng từ 10 - <20 cm có 6 hộ thực hiện và chiếm 13%; từ 20 - <30 cm (12
15
hộ và 25%); từ 30 - <40 cm (22 hộ và 47%) và trên 40 cm với 7 hộ thực hiện và chiếm
15%.
Tóm lại, qua kết quả phân tích trên chứng tỏ về việc thiết kế liếp trồng và
khoảng cách trồng gừng ở các nông hộ được điều tra không theo qui cách thống nhất và
chủ yếu theo kinh nghiệm, tập quán sản xuất tại địa phương. Vì vậy, việc giới thiệu hay
trình diễn qui cách sản xuất về thiết kế liếp trồng và khoảng cách trồng cho các nông hộ
sản xuất gừng là điều cần thiết, nhằm đem lại hiệu quả về kỹ thuật trồng và kinh tế sản
xuất.
16
Bảng 8: Kích thước liếp và khoảng cách trồng gừng của các nông hộ ở Chợ Mới, tỉnh An Giang
Kích thước liếp Khoảng cách trồng gừng
Chiều rộng Chiều cao Hàng – Hàng Cây – Cây
Kích thước
(cm)
Tần số hộ % Kích thước
(cm)
Tần số hộ % Kích thước
(cm)
Tần số hộ % Tần số hộ %
40 - <100 6 12,76 10 - <20 1 2,13 10 - <20 3 6 6 13
100 - <120 12 25,54 20 - <30 9 19,15 20 - <30 10 22 12 25
120 - <130 21 44,68 30 - <35 22 46,81 30 - <40 26 55 22 47
130 - 140 8 17,02 35 - 40 15 31,92 ≥ 40 8 17 7 15
Min 40 10 10 10
Max 140 40 45 45
Trung bình 109,5 31,17 28,94 27,77
phân
Tỷ lệ (%)
Hình 2: Phần trăm các loại phân bón được sử dụng trong canh tác gừng
ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
3.4.2. Liều lượng bón
Từ kết quả điều tra được thể hiện ở Bảng 9, cho thấy liều lượng sử dụng phân N,
P và K ở các nông hộ chưa có sự thống nhất nào, mà chỉ do tập quán và kinh nghiệm
sản xuất của từng nông hộ. Điều nầy chứng tỏ việc phổ biến qui trình kỹ thuật trồng
gừng cho nông dân chưa được quan tâm ở địa phương và cần thiết. Các mức độ về liều
lượng nguyên chất của phân N, P và K được sử dụng ở nông hộ cụ thể như sau:
* Phân đạm: Tổng lượng phân đạm được sử dụng cho 1000m
2
trồng gừng trong
khoảng 3 - 106 kg/1000m
2
, trung bình sử dụng 17,44 kg/1000m
2
. Trong đó, bón lượng
đạm nguyên chất <10kg/1.000m
2
chiếm 34,04%, 10-<15kg/1.000m
2
(23,40%), 15-
<25kg/1.000m
2
(25,53%), 25-<40kg/1.000m
2
(10,64%), 40-<50kg/1.000m
2
(4,26%) và
, trung bình sử dụng 9,52 kg/1000m
2
. Trong đó, bón lượng
kali nguyên chất <10kg/1.000m
2
chiếm 72,34%, 10-<15kg/1.000m
2
(8,51%), 15-
<20kg/1.000m
2
(8,51%), 20-<30kg/1.000m
2
(2,13%) và 30-45kg/1.000m
2
(8,51%).
Bảng 9: Tổng lượng bón phân N, P, K nguyên chất được sử dụng ở các nông hộ trồng
gừng tại Chợ Mới, tỉnh An Giang
Loại phân Liều lượng bón
(Kg/1000m
2
)
Tần số hộ
% Trung
bình
Max Min
N
<10 16 34,04
10-<15 11 23,40
15-<25 12 25,53
1-<3 4 8,51
3-<6 32 68,09 4,59 10 1
6-10 11 23,40
Ngày làm cỏ sau khi trồng
20-<30 5 10,64
30-<40 11 23,40
40-<50 13 27,66 45,22 75 20
50-<60 3 6,38
60-<70 13 27,66
70-75 2 4,26
19
3.6. Tình hình dịch hại và biện pháp phòng trị của nông hộ
3.6.1. Sâu hại
Qua kết quả điều tra được ghi nhận ở Bảng 12 cho thấy, các loại sâu gây hại
chính trên diện tích trồng gừng bao gồm:
- Sâu hại: sâu đục thân là loại sâu gây hại thường xuyên nhất với 42 hộ ghi nhận
chiếm 89,36%, sâu keo (sâu ăn tạp) có 4 hộ ghi nhận (8,51%), sâu ăn lá (5 hộ ghi nhận
và 10,64 %), cào cào (2 hộ ghi nhận và 4,26%) và 5 hộ (10,64%) cho biết không có sự
xuất hiện của sâu hại trong canh tác gừng.
- Thời điểm xuất hiện sâu hại: được thể hiện cụ thể qua ngày xuất hiện đầu
tiên chiếm tỷ lệ cao nhất từ 31 – 45 ngày sau khi trồng với 23 hộ ghi nhận (48,94%) và
không thấy xuất hiện sâu hại chiếm 12,77% (6 hộ ghi nhận). Tuy nhiên, thời điểm sâu
hại xuất hiện nhiều nhất từ 60 – 90 ngày sau khi trồng (38,30%), kế đến trên 90 ngày
sau khi trồng (36,17%). Về cách quản lý sâu hại được thể hiện qua các yếu tố như:
- Lần phun thuốc trừ sâu hại: chiếm cao nhất từ 4 – 6 lần/vụ với 17 hộ ghi
nhận (36,17%), kế đến 1 – 4 lần/vụ và 6 – 12 lần/vụ cùng có 12 hộ ghi nhận (25,53%),
thấp nhất có 6 hộ (12,77%) cho rằng không cần phun thuốc.
- Lý do phun thuốc: chiếm cao nhất có 31 hộ (65,96%) thực hiện khi có sâu
xuất hiện và thấp nhất có 5 hộ phun định kỳ và phun ngừa cùng chiếm 10,64%.
dụng từ các nông hộ canh tác gừng trong vùng. Trong đó, các loại thuốc có tỷ lệ sử
dụng nhiều cao như: Ridomil (28 hộ sử dụng và chiếm 59,57%), Zineb (13 hộ và
27,66%), Bavistin (10 hộ và 21,28%), các loại thuốc bệnh còn lại chiếm tỷ lệ thấp với
dưới 20 % hộ sử dụng (Bảng 11).
Tóm lại, qua các kết quả phân tích trên chứng tỏ việc quản lý dịch hại của nông
dân trong vùng chưa được thống nhất theo qui trình kỹ thuật canh tác. Do vậy, cần phải
hổ trợ những thông tin kỹ thuật mới cho nông dân trong vùng ứng dụng, nhất là việc
quản lý dịch hại nói chung nhằm đem lại hiệu quả canh tác gừng tốt nhất.
Bảng 11: Các loại nông dược được sử dụng ở các hộ trồng gừng tại Chợ Mới, An Giang
STT
Thuốc sâu
Thuốc bệnh
Loại thuốc Tần số hộ % Loại thuốc Tần số hộ %
1
Regent 30
63,8
3 Zineb 13 27,66
2
Basudin 12
25,5
3 Kasumin 7 14,89
3
Lannate 6
12,7
7 Score 6 12,77
4
Padan 10
21,2
8 Ridomil 28 59,57
5
Bassa 2 4,26 Validacin 3 6,38
17
Không sử dụng 5
10,6
4 Kasai 1 2,13
18
Bavistin 10 21,28
19
Coc 85 3 6,38
20
Gambat 1 2,13
21
Carban 1 2,13
22
Poligam 1 2,13
21
23
Anvil 5 10,64
24
Daconil 3 6,38
25
Carosal 1 2,13
26
Benomyl 1 2,13
27
Bim-annong 1 2,13
28
Flash 1 2,13
Bảng 12: Diễn biến và cách quản lý dịch hại ở các hộ trồng gừng tại Chợ Mới, AG
- 6 - 12 12 25,53
* Lý do phun thuốc: * Lý do phun thuốc:
- Ngừa 5 10,64 - Ngừa 31 65,96
- Định kỳ 5 10,64 - Định kỳ 13 27,66
- Có sâu 31 65,96 - Có bệnh 3 6,38
- Không phun 6 12,77
* Thời điểm phun thuốc: * Thời điểm phun thuốc:
- Sáng 9 19,15 - Sáng 21 44,68
- Trưa 1 2,13 - Trưa 1 2,13
- Chiều 31 65,96 - Chiều 25 53,19
- Không phun 6 12,77
Ghi chú: Tổng số hộ điều tra: 47
4. Năng suất và hiệu quả kinh tế trồng gừng
Năng suất của các hộ trồng gừng trong vùng Chợ Mới đều có năng suất trung
bình 2,42 tấn/1000m
2
, cao nhất là 5 tấn/1000m
2
và thấp nhất là 0,4 tấn/1000m
2
(Bảng
13). Với năng suất trên thì trung bình nông dân trong vùng có thể đạt được lợi nhuận
4,45 triệu đồng/1000m
2
, tuy nhiên với lợi nhuận trên nông dân chưa tính đến các chi phí
22
cơ hội. Với lợi nhuận thu được như trên thì tỷ suất lợi nhuận trung bình ước đạt là 0,77,
tức là nông dân bỏ ra 1 đồng vốn thì có thể lời được 0,77 đồng.
Bảng 13: Hiệu quả kinh tế của các hộ trồng gừng tại Chợ Mới, An Giang
5.3. Nguồn thông tin cho sản xuất nông hộ
Hiện tại người dân trồng gừng ở khu vực điều tra ít nhận được thông tin về cây
gừng như kỹ thuật canh tác, tài liệu về cây gừng. Ở Chợ Mới có 45 hộ (95,74%) nông
dân có thông tin về cây gừng là do truyền miệng giữa các hộ nông dân với nhau và dựa
theo kinh nghiệm, làm theo lối xóm. Thông tin từ cán bộ khuyến nông, thông tin đại
chúng hầu như không phổ biến, tài liệu phổ biến về cây gừng lại không có. Đây là yếu
tố góp phần vào việc ảnh hưởng đến sản xuất gừng của địa phương. Do đó cần phải chú
ý công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học kỹ thuật đến với nông dân nhiều hơn.
5.4. Ý kiến của người dân
Thực tế điều tra ở Chợ Mới, người trồng gừng rất cần có một thị trường tiêu thụ
ổn định. Có 100 % nông dân yêu cầu có nơi thu mua ổn định giá cả, 95,74% hộ nông
dân cần hổ trợ kỹ thuật canh tác gừng nhằm làm giảm chi phí. Người nông dân còn
thiếu hiểu biết về kỹ thuật canh tác, họ chỉ học hỏi kinh nghiệm từ những người đã
trồng rồi, do đó họ rất cần các hoạt động khuyến nông để nâng cao trình độ hiểu biết về
cây gừng và canh tác đạt hiệu quả cao hơn. Có 40,43% hộ nông dân cần hỗ trợ vốn,
23
nhiều hộ trồng gừng thấy có lời nhiều nhưng đầu tư vào thì rất cao lại không có vốn nên
không thể mở rộng được. Nông dân còn yêu cầu các nhà khoa học hãy nghiên cứu để
tìm ra giống gừng đạt năng suất và phẩm chất cao.
B. ẢNH HƯỞNG CỦA NẤM Trichoderma spp VÀ 3 LOẠI VẬT LIỆU
CHỨA LÊN SINH TRƯỞNG, DỊCH HẠI CHÍNH TRÊN GỪNG
TẠI HUYỆN CHỢ MỚI NĂM 2006-2007
I. MÔ TẢ ĐỊA ĐIỂM THÍ NGHIỆM
Thí nghiệm được thực hiện tại xã Mỹ An, huyện Chợ Mới tỉnh An Giang. Sống
trong vùng đất phù sa nên đa số người dân ở đây làm rẫy là chủ yếu, một số ít là trồng
lúa. Xã Mỹ An có tổng diện tích đất canh tác nông nghiệp là 1.241ha. Trong đó diện
tích trồng lúa chiếm 400ha đất màu là 366ha và 144ha là đất vườn. Tổng diện tích gieo
trồng cả năm là 3.600ha trong đó trồng lúa là 1.155ha, trồng màu là 2.445ha xã tiếp tục
đẩy mạnh việc trồng màu nhất là những cây màu có giá trị như Bắp 1,500ha, gừng và