hiệu quả của chế phẩm Em, TRICO-ĐHCT đối với bệnh thối củ gừng - Pdf 28


TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

------------------------ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM EM, TRICO-ĐHCT ĐỐI VỚI BỆNH
THỐI CỦ GỪNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG GIỐNG, KÍCH
THƯỚC SỌT TRE LÊN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT GỪNG
TẠI MỸ AN, CHỢ MỚI, AN GIANG
HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM EM, TRICO-ĐHCT ĐỐI VỚI BỆNH
THỐI CỦ GỪNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG GIỐNG, KÍCH
THƯỚC SỌT TRE LÊN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT GỪNG
TẠI MỸ AN, CHỢ MỚI, AN GIANG

Chủ nhiệm đề tài: ThS. NGUYỄN PHÚ DŨNG
Cộng tác viên: ThS. Văn Viễn Lương
KS. Nguyễn Ngọc Liễm
KS. Nguyễn Thị Hương Huệ
Long Xuyên, tháng 5 năm 2010
ii

MỤC LỤC

Nội dung Trang
Cảm tạ…………………………………………………………………………..…. i
Tóm lược……………………………………………………………………..……. ii

8. Sâu, bệnh hại gừng và biện pháp phòng trị…………………………………..….. 5
9. Thu hoạch……….…………………………………..……………………..….… 5
10. Công dụng.…………………………………….…………………………..…… 5
11. Hiệu quả kinh tế…..…………………………….………………………..…..… 5
12. Chế phẩm EM …..…………………………….……………………………..… 6
12.1. Chế phẩm EM là gì ?………………………………………….……..…..… 6
12.1.1. Tác dụng của EM ………………..……………………..……..…..… 6
12.1.2. Nguyên lý của công nghệ EM …………………..……..……..…..… 7
12.2. Tình hình nghiên cứu ứng dụng EM tại Việt Nam ……………….....….… 8
13. Nấm Trichoderma (Chế phẩm Trico-ĐHCT) - một tác nhân phòng trừ sinh
học …..……………….……………………………….….…………..…

8
13.1. Đặc điểm sinh học ………………………………….……..…….....…....… 8
13.2. Đặc điểm hình thái và sự phân bố của nấm Trichoderma ……..….…..… 8
13.3. Một số loài Trichoderma thường gặp ở vùng nhiệt đới …………….…..… 8
13.4. Cơ chế và khả năng đối kháng của nấm Trichoderma trong phòng trừ
bệnh cây ………….…………………………………………….…..…

9
iii
13.4.1. Cơ chế và khả năng đối kháng của Trichoderma đối với nấm ký sinh 9
13.4.2. Những thành công trong việc sử dụng nấm Trichoderma trong
phòng trừ sinh học ….…...............................................................…….…..…

10
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………………………….……………..….… 11
1. Thí nghiệm ảnh hưởng của lượng giống gừng gieo trong sọt tre và kích thước
sọt tre lên khả năng sinh trưởng và năng suất trên cây gừng………..…….


3. Phân tích thống kê …..……..…………………………...……………….……... 16
Chương II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ................. 17
A. THÍ NGHIỆM ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG GIỐNG GỪNG GIEO
TRONG SỌT TRE VÀ KÍCH THƯỚC SỌT TRE LÊN KHẢ NĂNG SINH
TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT TRÊN CÂY GỪNG ………..……………..…….

17
I. MÔ TẢ ĐIỂM THÍ NGHIỆM..…………………………………………..……… 17
II. TÌNH HÌNH THỜI TIẾT Ở AN GIANG TỪ 25/12/2006 ĐẾN 25/9/2007……. 17
III. GHI NHẬN TỔNG QUÁT KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM …………….…………. 17
IV. KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM……………………………………………..………. 18
1. Tình hình dịch hại trong thời gian thí nghiệm ………………………….……..... 18
1.1. Cào cào ……………………………………………….……..…..…………. 18
1.2. Bệnh cháy lá ……………………………........……………..…..….………. 18
1.3. Bệnh thối củ gừng ………........…………........……………..…..…………. 18
2. Tình hình sinh trưởng của cây gừng……………………………….…..……..…. 19
2.1. Chiều cao cây………………………………………………..…..…………. 19
2.2. Số lá trên cây gừng…………………………………………..…..…………. 19
2.3. Đường kính thân gừng………………………………………...……………. 20
3. Năng suất……………………………………………………………..…….…… 20
4. Hiệu quả kinh tế ………………………………..…………………….…….…… 21
B. THÍ NGHIỆM HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM EM VÀ TRICO-ĐHCT
ĐỐI VỚI BỆNH THỐI CỦ GỪNG ……….………..…………………..……….

22
I. THÍ NGHIỆM 1: KHẢO SÁT HIỆU QUẢ ĐỐI KHÁNG CỦA CHẾ PHẨM
TRICO-ĐHCT VÀ EM ĐỐI VỚI NẤM Fusarium spp., TRONG ĐIỀU
KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM…….………………………………..………
III. THÍ NGHIỆM 3:. KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ỨC CHẾ SỰ SINH BÀO TỬ
HAY TẠO HẠCH CỦA NẤM Fusarium spp. BỞI CHẾ PHẨM TRICO-
ĐHCT VÀ EM TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM …………. 26
IV. THÍ NGHIỆM 4: KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ỨC CHẾ SỰ SINH BÀO TỬ
HAY TẠO HẠCH CỦA NẤM Fusarium spp BỞI CHẾ PHẨM Trico-
ĐHCT TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM ………...…………. 27
CHƯƠNG III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……………..……………..………… 29
A. KẾT LUẬN …………………….……………………………………………… 29
B. ĐỀ NGHỊ ………………………………………………………………………. 29
Tài liệu tham khảo………………………………………………………..………. 30 DANH SÁCH BẢNG

Nội dung Trang
Bảng 1: Tổ hợp các nghiệm thức giữa lượng giống gieo trên sọt tre và khoảng
cách trồng gừng tại Chợ Mới, An Giang …………… 12
Bảng 2: Lịch bón phân cho ruộng gừng tại Chợ Mới - An Giang ……..……….... 13
Bảng 3: Ảnh hưởng của kích thước sọt tre và mật độ gieo lên bệnh cháy lá gừng
qua bốn thời điểm quan sát tại Xã Mỹ An, Chợ Mới, An
Giang……………………………………………………..………...……. 18
Bảng 4: Ảnh hưởng của kích thước sọt tre và mật độ gieo lên chiều cao cây qua sáu
thời điểm quan sát tại xã Mỹ An, Chợ Mới, An
Giang……………………...…………………………………………….… 19

Hình 8: Khả năng ức chế sự sinh bào tử của nấm Fusarium spp. bởi chế phẩm
EM ở 2, 3, 4 và 5 ngày sau chủng …………………………………….... 27
Hình 9: Sự phát triển chế phẩm trên môi trường PDA sau 2 ngày chủng ở đĩa
petri ……………………………………………………………………... 28
Hình 10: Sự phát triển chế phẩm trên môi trường PDA sau 2 ngày chủng ở đĩa
petri …………………………………………………...…..…………..… 28KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT

ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cửu Long
EM Chế phẩm EM (Effective Micro-organisms)
Trico-ĐHCT Chế phẩm Trichoderma
NSKT Ngày sau khi trồng
HSĐK Hiệu suất đối kháng
GSC Giờ sau khi chủng
NSC Ngày sau khi chủng
ns Không khác biệt có ý nghĩa thống kê
ĐC Đối chứng
ErT Vi khuẩn Erwinia trắng
ErV Vi khuẩn Erwinia vàng
Fusa Nấm Fusarium spp.

vi

Phụ chương 10: Phân tích thống kê ảnh hưởng của kích thước sọt và mật độ gieo
giống lên số lá cây gừng ở thời điểm 166 NSKT tại xã Mỹ An,
Chợ Mới, An Giang, năm 2006………………………. ……..….. 36
Phụ chương 11: Phân tích thống kê ảnh hưởng của kích thước sọt và mật độ gieo
giống lên chiều cao cây gừng ở thời điểm 36 NSKT tại xã Mỹ An,
Chợ Mới, An Giang, năm 2006…………………………………... 36
Phụ chương 12: Phân tích thống kê ảnh hưởng của kích thước sọt và mật độ gieo
giống lên chiều cao cây gừng ở thời điểm 50 NSKT tại xã Mỹ An,
Chợ Mới, An Giang, năm 2006………………………………....... 36
Phụ chương 13: Phân tích thống kê ảnh hưởng của kích thước sọt và mật độ gieo
giống lên chiều cao cây gừng ở thời điểm 71 NSKT tại xã Mỹ An,
Chợ Mới, An Giang, năm 2006…………………………………... 37
Phụ chương 14: Phân tích thống kê ảnh hưởng của kích thước sọt và mật độ gieo
giống lên chiều cao cây gừng ở thời điểm 113 NSKT tại xã Mỹ
An, Chợ Mới, An Giang, năm 2006…………………….………… 37
Phụ chương 15: Phân tích thống kê ảnh hưởng của kích thước sọt và mật độ gieo
giống lên chiều cao cây gừng ở thời điểm 136 NSKT tại xã Mỹ
An, Chợ Mới, An Giang, năm 2006………………………………. 37
Phụ chương 16: Phân tích thống kê ảnh hưởng của kích thước sọt và mật độ gieo
giống lên chiều cao cây gừng ở thời điểm 166 NSKT tại xã Mỹ
vii
An, Chợ Mới, An Giang, năm 2006…………………………….… 38
Phụ chương 17: Phân tích thống kê ảnh hưởng của kích thước sọt và mật độ gieo
giống lên đường kính thân gừng ở thời điểm 36 NSKT tại xã Mỹ
An, Chợ Mới, An Giang, năm 2006…………………………….… 38
Phụ chương 18: Phân tích thống kê ảnh hưởng của kích thước sọt và mật độ gieo
giống lên đường kính thân cây gừng ở thời điểm 50 NSKT tại
xã Mỹ An, Chợ Mới, An Giang, năm 2006……………...……….. 38
Phụ chương 19: Phân tích thống kê ảnh hưởng của kích thước sọt và mật độ gieo
giống lên đường kính thân gừng ở thời điểm 71 NSKT tại xã Mỹ

Phụ chương 30: Phân tích thống kê hiệu quả đối kháng của chế phẩm EM đối với
vi khuẩn Erwinia trắng ở 4 ngày sau chủng trong điều kiện phòng
thí nghiệm ……………………………………………………… 42
Phụ chương 31: Phân tích thống kê hiệu quả đối kháng của chế phẩm EM đối với
vi khuẩn Erwinia trắng ở 6 ngày sau chủng trong điều kiện phòng
thí nghiệm ……………………………………………………… 42
Phụ chương 32: Phân tích thống kê hiệu quả đối kháng của chế phẩm EM đối với
vi khuẩn Erwinia trắng ở 8 ngày sau chủng trong điều kiện phòng
thí nghiệm ………………………………………………………... 42
Phụ chương 33: Phân tích thống kê hiệu quả đối kháng của chế phẩm EM đối với
vi khuẩn Erwinia vàng ở 2 ngày sau chủng trong điều kiện phòng
viii
ix
thí nghiệm ………………………………………………………... 43
Phụ chương 34: Phân tích thống kê hiệu quả đối kháng của chế phẩm EM đối với
vi khuẩn Erwinia vàng ở 4 ngày sau chủng trong điều kiện phòng
thí nghiệm………………………………………………… …….. 43
Phụ chương 35: Phân tích thống kê hiệu quả đối kháng của chế phẩm EM đối với
vi khuẩn Erwinia vàng ở 6 ngày sau chủng trong điều kiện phòng
thí nghiệm………………………………………………................ 43
Phụ chương 36: Phân tích thống kê hiệu quả đối kháng của chế phẩm Trico-
ĐHCT đối với vi khuẩn Erwinia ở 1 ngày sau chủng trong điều
kiện phòng thí nghiệm ……………………………………..…….. 43
Phụ chương 37: Phân tích thống kê hiệu quả đối kháng của chế phẩm Trico-
ĐHCT đối với vi khuẩn Erwinia trắng ở 2 ngày sau chủng trong
điều kiện phòng thí nghiệm …………………………………….... 44
Phụ chương 38: Phân tích thống kê hiệu quả đối kháng của chế phẩm Trico-
ĐHCT đối với vi khuẩn Erwinia vàng ở 1 ngày sau chủng trong
điều kiện phòng thí nghiệm …………………………………..…. 44
Phụ chương 39: Phân tích thống kê hiệu quả đối kháng của chế phẩm Trico-


1
Chương I
MỞ ĐẦU
Cây gừng là loại cây gia vị và dược liệu có nhiều đặc tính quí. Nó góp phần làm tăng thêm hương vị
cho một số loại thực phẩm cũng như dùng làm thuốc điều trị được một số bệnh ở người như cảm
lạnh, ho, nôn mửa… Ngoài ra, gừng cho năng suất rất cao, có thể đạt từ 40-80 tấn.ha
-1
(năng suất
bình quân 60 tấn.ha
-1
) và giá bán từ 10.000–15.000 đồng.kg
-1
(giá bán bình quân 12.500 đồng.kg
-1
).
Nếu bán gừng non (thời gian trồng là 6 tháng) thì 1000m
2
gừng bà con nông dân thu nhập được
khoảng 75 triệu đồng (theo giá gừng giống là 25.000 đồng.kg
-1
năm 2004). Mặc dù hiện nay giá
gừng giống (15.000 đồng.kg
-1
) và gừng non (7.000 – 10.000 đồng.kg
-1
) có giảm xuống, nhưng vẫn
mang lại lợi nhuận cao cho nhà nông ở mô hình canh tác nầy.
Phong trào trồng gừng đang có xu hướng phát triển, đặc biệt ở một số xã Lương Phi, Ba Chúc, Lạc
Quới thuộc huyện Tri Tôn và xã Hội An, Kiến An, Mỹ Luông, Tấn Mỹ và Mỹ An thuộc huyện Chợ

2
A. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. MỤC TIÊU
Xác định hiệu quả của hai chế phẩm EM và Trico-ĐHCT đối với nấm Fusarium gây bệnh cháy lá
và vi khuẩn Erwinia gây bệnh thối củ gừng.
Xác định ảnh hưởng của lượng giống gừng gieo trong sọt tre và kích thước sọt tre lên khả năng sinh
trưởng và năng suất trên cây gừng.
II. NỘI DUNG
Bố trí thí nghiệm của hai chế phẩm EM và Trico-ĐHCT đối với bệnh thối củ do vi khuẩn Erwinia
và cháy lá do nấm Fusarium trên gừng trong phòng thí nghiệm Khoa Nông Nghiệp –TNTN, Đại
Học An Giang.
Bố trí thí nghiệm về lượng giống gieo trong sọt tre (1 mẫu và 2 mẫu gừng giống) và kích thước sọt
tre (đường kính sọt tre với 0,3m, 0,4m, 0,5m và 0,6m) lên khả năng sinh trưởng và năng suất trên
cây gừng ở ruộng nông dân tại xã Mỹ An, Chợ Mới, An Giang.

B. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
I. ĐỐI TƯỢNG
Đề tài được thực hiện trên đối tượng là hiệu quả của các chế phẩm EM và Trico-ĐHCT đối với
bệnh thối củ và ảnh hưởng của lượng giống, kích thước sọt tre lên sinh trưởng, năng suất gừng.
II. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Thử nghiệm lượng giống gieo (1 và 2 mẫu gừng giống/sọt tre) và kích thước sọt tre (đường kính sọt
tre) trồng gừng (0,3m; 0,4m; 0,5m và 0,6m) lên sinh trưởng và năng suất gừng tại xã Mỹ An, huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang, từ 25/12/2006 đến 25/9/2007.
Thí nghiệm hiệu quả của các chế phẩm EM và Trico-ĐHCT đối với bệnh thối củ gừng được thực

tím, quả mọng (Võ Văn Chi, 1991).
Gừng phát triển thân ngầm ở dưới đất, có nhiều đốt, mỗi đốt có mầm ngủ, khi gặp điều kiện thuận
lợi sẽ đâm chồi thành cây gừng mới. Độ che phủ mặt đất của tán lá không cao lắm (Mai Văn Quyền
và ctv, 2001).
3. Giống
3.1. Cách chọn gừng giống
Gừng giống: Chọn gừng già, không mang mầm bệnh. Gừng trồng phổ biến (Zingiber officinale)
trong sản xuất có hai giống khác nhau:
Gừng trâu, củ to, ít xơ, ít cay, thích hợp cho xuất khẩu.
Gừng dé được gây trồng phổ biến, cho củ nhỏ hơn, vị cay và nhiều xơ hơn, hiện nay đang được bán
nhiều ở thị trường trong nước (Châu Đăng Sơn, 2006).
Có ý kiến cho rằng: “Khi trồng gừng người ta bẻ củ gừng ra từng mẫu gừng giống nhỏ, bên trong
ruột củ gừng có màu vàng sậm, phía trên đỉnh sinh trưởng của củ gừng có eo thắt lại chứng tỏ gừng
đã già và phần thân đã tàn lụi tự nhiên, chứ không phải dùng các biện pháp khác để tác động lên cây
gừng (Bùi Thanh Hà, 2004).
Theo Khoa học và đời sống (2005), khi bẻ củ gừng ra, bên trong ruột củ gừng có màu vàng sậm.
Phía trên đỉnh sinh trưởng của củ gừng có eo thắt lại (gừng đã già và phần thân đã tàn lụi tự nhiên,
chứ không phải dùng các biện pháp khác để tác động như phun muối hoặc dùng chân để đạp lên cây
gừng). Trồng phải gừng non hoặc gừng đã nhiễm bệnh trước đó thì gừng sẽ kém phát triển và bệnh
hại phát triển mạnh sau nầy.
3.2. Cách xử lý gừng giống
Hom gừng giống được tồn trữ nơi thoáng mát, với mật độ vừa phải và phun Validacine để phòng
bệnh. Trước khi ngâm ủ gừng giống, hom gừng giống được ngâm trong dung dịch thuốc trừ nấm
(Topsin, Dithane…) khoảng 30 phút, sau đó vớt gừng ra để nơi khô ráo, khoảng một tuần sau thì
tiến hành bẻ hom. Dùng tay để bẻ, không được dùng dao để cắt hoặc bổ đôi củ giống (mầm bệnh dễ
dàng truyền từ củ nầy sang củ khác, đồng thời nếu bổ đôi củ giống khi trồng sẽ dễ bị mất nước và
chết). Sau khi bẻ hom gừng xong phải để 15 ngày sau mới tiến hành đem ủ, thời gian nầy giúp cho
vết bẻ khô mặt (Trần Ngọc Chủng, 2005).
Gừng giống: Cần được xử lý thuốc trừ nấm bệnh, sau khi bẻ hom, để gừng khô mặt rồi mới đem
giâm cho ra mầm (thời gian từ 15-20 ngày), thông thường 1kg gừng giống bẻ được từ 15-20 miếng

bệnh thối củ luôn có khuynh hướng di chuyển xuống phần dưới của liếp trồng, nhất là tập trung nơi
các rãnh (Khoa Học & Đời Sống, 2005).
Theo Mai Văn Quyền và ctv (2001), cây gừng sinh trưởng tốt trên các thân đất tơi xốp, tầng đất dầy
còn tương đối tốt, ít lẫn đá, có khả năng giữ nước và thấm nước tương đối cao, đất đủ ấm, thoát
nước tốt, không gây úng, cây gừng thích hợp nhất trên những thân đất thịt, có hàm lượng mùn cao,
đất trồng tốt nhất là có độ pH 5,5-7.
Cây gừng đã được 90 ngày tuổi, có thể chia ra làm 5 đợt bón phân và mỗi đợt bón cách nhau 20
ngày (90 ngày, 110 ngày, 130 ngày, 150 ngày, 170 ngày, 190 ngày). Bón phân NPK 20-20-15, liều
lượng 10 kg.1000m
-2
, đồng thời có thể bón thêm các loại phân hữu cơ (Khoa Học và Đời Sống,
2005).
6. Chăm sóc
Tưới nước: Giai đoạn đầu, 3 ngày/lần, tưới vừa đủ ẩm bằng thùng tưới có gắn vòi sen. Giai đoạn
sau, 7 ngày/lần, tưới đẫm nước.
Làm cỏ: Khi thấy cỏ xuất hiện ta tiến hành nhổ sạch cỏ dại, kết hợp vun gốc.
7. Bón phân
Theo Châu Đăng Sơn (2005), bón phân được chia ra các giai đoạn sau:
Đợt 1: Sau khi trồng 25-30 ngày, bón 3kg phân trùn/sọt tre (vỏ).
Đợt 2: Sau khi trồng 55-60 ngày, bón 3kg phân trùn/sọt tre.
Các đợt sau, bón phân khi thấy củ lòi ra khỏi lớp phân trùn. Liều lượng phân bón tùy củ lòi nhiều
hay ít. Khoảng 1- 3kg/vỏ.
Theo Khoa học và Đời sống (2005), cây gừng là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng khá dài (từ
6 đến 8 tháng). Do vậy, khi trồng gừng, nông dân thường trồng xen với các loại cây trồng khác có
thời gian sinh trưởng ngắn hơn như đậu xanh hoặc bắp. Ở giai đoạn đầu nông dân chỉ bón phân cho
các loại cây trồng xen nầy (chứ không bón phân cho cây gừng). Cách bón phân, thành phần và liều
lượng phân bón có ảnh hưởng lớn đến tình hình bệnh hại sau nầy. Khi thu hoạch các cây trồng xen

5
xong thì nông dân mới tiến hành bón phân cho cây gừng (ở giai đoạn cây gừng đã được 90 ngày

Theo Châu Đăng Sơn (2006), sau khi trồng 9 tháng, tiến hành thu hoạch củ gừng. Trong giai đoạn
nầy, lá cây bắt đầu chuyển sang màu vàng, cong lại, một số lá bắt đầu khô héo. Đào nhẹ không để
gãy củ. Sau đó, nhổ cây, rũ sạch đất.
10. Công dụng
Theo Lê Đình Mỗi và ctv (2002), gừng được sử dụng làm gia vị trong chế biến thực phẩm ở hầu hết
các khu vực trên thế giới. Thông thường gừng được sử dụng ở dạng củ tươi hay được chế biến sơ bộ
ở dạng củ khô thái lát, bột gừng khô, mứt gừng, tinh dầu gừng và nhựa dầu gừng được sử dụng
trong công nghiệp sản xuất thịt hộp, cá hộp, bánh kẹo, nước giải khát, rượu bia và trong hoá mỹ
phẩm. Gừng được dùng làm thuốc kích thích tiêu hoá, dùng chữa ăn không tiêu, kém ăn, nôn mửa,
tiêu chảy, cảm lạnh, ho, chân tay lạnh.
Theo Hoàng Xuân Ba (2003), gừng lành tính, không độc và rất hiệu quả trong chữa trị chứng nôn
nao sau phẫu thuật hoặc gây mê, điều trị ung thư bằng hóa trị liệu, say sóng, tàu xe... Gần đây,
người ta còn phát hiện ra gừng có tác dụng chống viêm và chống đông máu rất hiệu quả.
Về công dụng thì cây gừng còn được dân gian dùng để chữa cho gia súc như trâu, bò, voi, ngựa bị
dịch mắt đỏ, ăn không nuốt được (Giáp Kiều Hưng, 2004).
Trên thực nghiệm, gừng có các tác dụng chống co thắt cơ trơn, chống dị ứng, kháng histamin,
chống viêm và giảm ho. Hoạt chất cineol trong gừng có tác dụng diệt khuẩn trên nhiều loài vi khuẩn
gây bệnh (Đoàn Thị Nhu, 2005).

6
11. Hiệu quả kinh tế
Vụ Đông Xuân 2003-2004, bà con nông dân hai huyện Long Mỹ, Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, đã
thu hoạch và trồng mới hơn 400 ha gừng củ xen canh trên cùng một diện tích cây ăn quả (trồng
mới). Bình quân 1 ha đạt từ 45-50 tấn gừng với giá thương lái mua tại nhà vườn là 12.000 đồng.kg
-
1
. Hiệu quả thu nhập từ 1 ha gừng 54-60 triệu đồng.ha
-1
.năm
-1

EM (Effective MicroorganisTrung bình bình phương) có nghĩa là các vi sinh vật hữu hiệu. Chế
phẩm nầy do Giáo sư Tiến sĩ Teruo Higa - trường Đại học Tổng hợp Ryukyus, Okinawoa, Nhật Bản
sáng tạo và áp dụng thực tiễn vào đầu năm 1980. Trong chế phẩm nầy có khoảng 80 loài vi sinh vật
kỵ khí và hiếu khí thuộc các nhóm: vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, nấm mốc, xạ
khuẩn. 80 loài vi sinh vật nầy được lựa chọn từ hơn 2.000 loài được sử dụng phổ biến trong công
nghiệp thực phẩm và công nghệ lên men.
12.1.1. Tác dụng của EM
EM được thử nghiệm tại nhiều quốc gia: Mỹ, Nam Phi, Thái Lan, Philippines, Trung Quốc, Braxin,
Nhật Bản, Singapore, Indonexia, Srilanca, Nepal, Việt Nam, Triều Tiên, Belarus...và cho thấy
những kết quả khả quan.
* Trong trồng trọt: EM có tác dụng đối với nhiều loại cây trồng (cây lương thực, cây rau màu,
cây ăn quả…) ở mọi giai đoạn sinh trưởng, phát triển khác nhau. Những thử nghiệm ở tất cả các
châu lục cho thấy rằng EM có tác dụng kích thích sinh trưởng, làm tăng năng suất và chất lượng cây
trồng, cải tạo chất lượng đất. Cụ thể là:
- Làm tăng sức sống cho cây trồng, tăng khả năng chịu hạn, chịu úng và chịu nhiệt
- Kích thích sự nảy mầm, ra hoa, kết quả và làm chín (đẩy mạnh quá trình đường hoá)
- Tăng cường khả năng quang hợp của cây trồng
- Tăng cường khả năng hấp thụ và hiệu suất sử dụng các chất dinh dưỡng

7
- Kéo dài thời gian bảo quản, làm hoa trái tươi lâu, tăng chất lượng bảo quản các loại nông sản tươi
sống
- Cải thiện môi trường đất, làm cho đất trở nên tơi xốp, phì nhiêu
- Hạn chế sự phát triển của cỏ dại và sâu bệnh
* Trong chăn nuôi:
- Làm tăng sức khoẻ vật nuôi, tăng sức đề kháng và khả năng chống chịu đối với các điều kiện
ngoại cảnh
- Tăng cường khả năng tiêu hoá và hấp thụ các loại thức ăn
- Tăng sản lượng và chất lượng trong chăn nuôi,
- Tiêu diệt các vi sinh vật có hại, hạn chế sự ô nhiễm trong chuồng trại chăn nuôi.

12.1.2. Nguyên lý của công nghệ EM
Một số tài liệu tiếng Việt đã nêu lên vai trò cụ thể của từng nhóm vi sinh vật trong EM. GS. Teruo
Higa cho biết chế phẩm EM giúp cho quá trình sinh ra các chất chống oxi hoá như inositol,
ubiquinone, saponine, polysaccharide phân tử thấp, polyphenol và các muối chelate. Các chất nầy
có khả năng hạn chế bệnh, kìm hãm các vi sinh vật có hại và kích thích các vi sinh vật có lợi. Đồng
thời các chất nầy cũng giải độc các chất có hại do có sự hình thành các enzym phân huỷ. Vai trò của
EM còn được phát huy bởi sự cộng hưởng sóng trọng lực (gravity wave) sinh ra bởi các vi khuẩn
quang dưỡng. Các sóng nầy có tần số cao hơn và có năng lượng thấp hơn so với tia gamma và tia X.
Do vậy, chúng có khả năng chuyển các dạng năng lượng có hại trong tự nhiên thành dạng năng
lượng có lợi thông qua sự cộng hưởng (Đoàn Đức Lân, 2005).
8
12.2.Tình hình nghiên cứu ứng dụng EM tại Việt Nam Tại Việt Nam
Công nghệ EM được biết đến vào cuối những năm 1996 và đã được thử nghiệm tại một số địa
phương. Ở Thái Bình, khi xử lý EM cho hạt cải bắp, thóc giống cho thấy tỷ lệ nảy mầm cao hơn,
cây con sống khoẻ hơn và có tốc độ sinh trưởng, phát triển nhanh hơn (Sở Khoa học Công nghệ và
Môi trường Thái Bình, 1998). Khi phun EM cho rau muống, năng suất tăng 21 – 25 %, phun cho
đậu tương, năng suất tăng 15 - 20 %. Tại Hải Phòng đã xử lý EM cho các loại cây ăn quả: vải, cam,
quýt… làm cho cây phát triển mạnh hơn, quả to, chín sớm, vỏ đẹp hơn và năng suất 10 - 15 %. Tại
trường ĐH Nông nghiệp I, xử lý EM cho lúa làm năng suất tăng 8 - 15 % và không bị bệnh khô vằn
lá.
Nhóm nghiên cứu của Th.S Đỗ Hải Lan (khoa Sinh - Hoá, ĐH Tây Bắc) cho biết có thể xử lý EM
1% với cây lan Hồ Điệp Tím Nhung khi vừa đưa ra khỏi phòng nuôi cấy mô để tăng cường khả
năng thích nghi của cây với điều kiện ngoại cảnh mới. Cũng có thể xử lý EM ở giai đoạn cây còn
non để kích thích sự sinh trưởng sinh dưỡng, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của cây lan ở
giai đoạn sau (Đỗ Hải Lan và ctv, 2005).
Trung tâm nghiên cứu thuỷ sản 3 (Bộ Thuỷ sản) đã ứng dụng thành công EM trong xử lý hồ nuôi
tôm sú ở Việt Nam. Chế phẩm EM làm cho tổng số nhóm vi sinh vật có lợi trong hồ luôn cao hơn

13.3. Một số loài Trichoderma thường gặp ở vùng nhiệt đới
* Trichoderma pseudokoningii Rifai: Nấm T. pseudokoningii phát triển rất nhanh, đường kính
khuẩn lạc lên đến 8-9cm chỉ sau 4 ngày nuôi cấy ở nhiệt độ 20
o
C. Sợi nấm trong suốt, vách trơn
láng, rộng 1-2 micromet. Bào tử áo nấm T. pseudokoningii có vách dày, trơn láng, trong suốt hoặc

9
có màu xanh, hình cầu méo hoặc bầu dục, kích thước thường là (4-12) x (3-9) micromet, vách trơn
láng, thể tích có hình bầu nậm, kích thước khoảng (3,7 – 7,6) x (2,0 – 3,3) micromet. Có màu xanh,
chình trụ ngắn hoặc bầu dục, vách trơn láng, kích thước trung bình 2,5 x 2,0 micromet (BiTổng
bình phươngett, 1984).
* Trichoderma atroviride BiTổng bình phươngett: Khuẩn lạc phát triển rất nhanh, đạt 8-9 cm sau
4 ngày nuôi cấy ở 20
o
C, sợi nấm trong suốt, vách trơn láng, rộng 2-14 micromet. Bào tử áo có vách
dày và trơn láng, màu xanh, có hình cầu méo hoặc bầu dục, đường kính 4-12 micromet, đôi khi lên
đến 24 micromet. Vách trơn láng, có hình chùy, hình nón hay bầu nậm, kích thước từ (5,2-10,0) x
(2,1-3,3) micromet. Nấm T. atroviride màu xanh sậm, vách trơn láng, hình bầu dục, kích thước
trung bình là 5,3 x 3,2 micromet (BiTổng bình phươngett, 1984).
* Trichoderma hamatum Bain: Nhiệt độ 24
o
C và pH 3,7-4,7 là những điều kiện rất thuận lợi cho
sự phát triển của T. hamatum và chúng phát triển chậm lại ở 0
o
C (DoTrung bình bình phươngch và
GaTrung bình bình phương, 1980).
Đường kính khuẩn lạc ở 5 ngày sau khi nuôi cấy ở nhiệt độ 20
o
C là 7cm. Thể bình và nhánh rộng 3-

gốc của loài. pH thích hợp cho sự phát triển của nấm là 3,7 – 6,0 (DoTrung bình bình phươngch và
GaTrung bình bình phương, 1980).
Khuẩn lạc có đường kính khoảng 3 –5cm sau 5 ngày nuôi cấy ở nhiệt độ 20
o
C bào tử đính có dạng
hình trụ ngắn, vách trơn láng, kích thước (3,0 – 4,8) x (1,9 – 2,8)micromet.
13.4. Cơ chế và khả năng đối kháng của nấm Trichoderma trong phòng trừ bệnh cây
13.4.1. Cơ chế và khả năng đối kháng của Trichoderma đối với nấm ký sinh
Cơ chế đối kháng của nấm Trichoderma gồm hai giai đọan: cơ chế thứ nhất là khả năng bao quanh
và cuộn tròn sợi nấm gây bệnh, cơ chế thứ hai là cơ chế hóa học nấm Trichoderma tiết ra các loại
enzyme thủy phân (Kredics, 2003), phân hủy chất nguyên sinh của sợi nấm gây bệnh làm cho sợi
nấm chết.
Nấm đối kháng là thành viên phổ biến nhất của hệ vi sinh vật đất. có nhiều nấm đối kháng được tìm
thấy trong tự nhiên như: Penicillium axalium, P. vermiculata, P. nigricans, Trichoderma spp., trong
đó nấm Trichoderma là một trong những loài nấm có khả năng đối kháng đối với nhiều loại nấm
như: Slerotium rolfsii, Phytophthora, Fusarium,… gây bệnh trên các loài cây họ đậu, cây ăn trái,
cây công nghiệp…(Kredics, 2003).

10
Nguyên nhân nấm Trichoderma đối kháng tốt với nhiều loại nấm bệnh gây hại cây trồng là nhờ đặc
tính có khả năng tiết ra nhiều chất tiết (Gayal và Khandeparkar, 1998). Trong quá trình tác động lên
nấm gây bệnh, ngoài tác dụng ký sinh, cạnh tranh thức ăn với nấm gây bệnh, tiết ra chất kháng sinh,
Trichoderma còn tiết ra các enzyme ngăn cản sự xâm nhập và gây bệnh của nấm bệnh gây hại cây
trồng (Dennis và ctv, 1971).
Trichoderma spp. khi phát triển trên vùng tế bào ký chủ sẽ tiết ra các enzyme ngoại bào như beta-
1,3-glucanase, chitinase, lipase, protease. Theo MargolleTổng bình phương-Clark (1996), hai
enzyme beta-1,3-glucanase và chitinase giữ vai trò quan trọng trong quan hệ ký sinh giữa
Trichoderma spp. với nấm gây bệnh (Cruz và ctv, 1995).
Một số loại enzyme do Trichoderma tiết ra bao gồm glucan 1,3-beta-glucosidase, endochitinase,
chitobiosidase, N-acetyl-beta-D-glucusaminidase (NAGase), trypsin, chymotrypsin, cellulase,

Các chủng nấm Trichoderma sp. T2, Gliocladium sp. Cũng đã được sử dụng để kiểm soát bệnh thối
rễ trên đậu nành, héo xanh trên cà chua do nấm Fusarium oxysporum gây hại, chủng nấm T2 nầy có
thể hạn chế được 64-74% bệnh héo xanh trên cà chua, 55-72% bệnh thối rễ ở khoai tây, ngoài ra
chúng còn có khả năng kích thích sự tăng trưởng của cây trồng. Tất cả các chủng nấm Trichoderma
spp. xử lý ở mật số 10
7
-10
8
bào tử.ml
-1
đều làm giảm bệnh thối nâu trên trái đào 63-98% và trên trái

11
Theo Phạm Văn Kim (2003), qua thí nghiệm năm dòng nấm Trichoderma spp. triển vọng được
phân lập từ các vườn cam quít Vĩnh Long, Đồng Tháp và Cần Thơ đều có khả năng khống chế sự
phát triển của nấm Fusarium solani gây bệnh thối rễ cam quít trong điều kiện pH thấp (3,9-4,2) ở
ĐBSCL. Hiệu quả càng cao khi đất vườn đươc cung cấp đầy đủ hữu cơ từ nguồn xác bả thực vật
trong vườn (10-15 kg/cây trưởng thành) để các dòng nấm đối kháng hoạt động hữu hiệu.
Nghiên cứu sự phân bố của quần thể nấm Trichoderma trong hệ thống đất canh tác trên nền đất lúa
ở 4 Tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long. Kết quả cho thấy quần thể nấm Trichoderma trong hệ thống
canh tác lúa - đậu - lúa thuộc Quận Ô Môn, TP Cần Thơ biến động từ 1,43 – 1,62 x 10
3
cfu.g
-1
trong
điều kiện ẩm độ đất 30,3 – 30,7% và pH đất 4,6 – 5,1 nhưng cùng hệ thống lúa – đậu – lúa thuộc
Huyện Thốt Nốt, Cần Thơ quần thể Trichoderma cao hơn 1,25 – 2,65 x10
3
cfu.g
-1

Hồng Mẫn và Noda, 1997).
Chế phẩm nấm Trichoderma (Trico-ĐHCT) được sử dụng để xử lý rơm rạ, rơm rạ đã phân hủy
được bón phối hợp với phân lân sinh học như dạng phân hữu cơ. Phân hữu cơ được bón riêng lẽ
hoặc phối hợp với phân vô cơ (NPK) trên nền sét nặng. Kết quả của hai năm nghiên cứu trên giống
lúa IR64 cho thấy: nếu bón liên tục 100% phân hữu cơ cho năng suất tăng hơn đối chứng là 13,58%
và nếu bón kết hợp 50% phân hữu cơ với 50% phân vô cơ cho năng suất tăng hơn so với đối chứng
là 22,46% (Lưu Hồng Mẫn và ctv, 2001).
Bên cạnh tác dụng đối kháng với nấm gây bệnh cây trồng, nấm Trichoderma còn có tác dụng kích
thích sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng (Bailey và LuTrung bình bình phươngden, 1998).
Theo kết quả nghiên cứu của Barckman và Rodriguez (1975) được trích dẫn từ Bailey và LuTrung
bình bình phươngden (1998), khi sử dụng sản phẩm thương mại của T. harzianum bón cho đậu
phộng 70 – 100 ngày sau khi trồng với lượng 140kg.ha
-1
ngoài tác dụng chống lại nấm Sclerotium
rolfsii còn làm tăng năng suất đậu phộng lên sau khoảng 3 năm. Số lượng nấm Trichoderma phù
hợp ở rễ sẽ làm tăng số lượng rễ bảo vệ cây trồng lâu dài, kết quả tăng năng suất hơn so với khi sử
dụng thuốc trừ nấm một cách hợp lý.
Theo Klain và Ereleigh (1998), nấm Trichoderma spp. hiện diện khắp nơi, sống hoại sinh và có khả
năng phân hủy nhanh chất hữu cơ trong tự nhiên. Trichoderma đóng vai trò quan trọng trong việc
phân hủy dư thừa thực vật có trong đất.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Thí nghiệm ảnh hưởng của lượng giống gừng gieo trong sọt tre và kích thước sọt tre lên
khả năng sinh trưởng và năng suất trên cây gừng
1.1. Chọn địa điểm và phạm vi nghiêm cứu
Thực hiện tại đất của ông Năm Bưu ở xã Mỹ An huyện Chợ Mới tỉnh An Giang từ 25/12/2006 đến
25/9/2007.

12
Thử nghiệm trên giống gừng gié với lượng giống gieo (1 và 2 mẫu gừng giống/sọt tre) và kích
thước sọt tre (đường kính sọt tre) trồng gừng (0,3m; 0,4m; 0,5m và 0,6m) lên sinh trưởng và năng

REP II
T3 T1 T4 T2
Lô cách ly
T8 T6 T5 T7
REP III
T2 T4 T3 T1
Lô cách ly
Ghi chú:
- Các nghiệm thức đều được trồng trong sọt tre với các đường kính sọt khác nhau (0,3m; 0,4m;
0,5m và 0,6 m).
- T1: Gieo 1mẫu giống/Sọt tre với đường kính 0,3m. Tổng số sọt là 26 sọt/ lô T1.
- T2: Gieo 1mẫu giống/Sọt tre với đường kính 0,4m. Tổng số sọt là 10 sọt/ lô T2.
- T3: Gieo 1mẫu giống/Sọt tre với đường kính 0,5m. Tổng số sọt là 8 sọt/ lô T3.
- T4: Gieo 1mẫu giống/Sọt tre với đường kính 0,6m. Tổng số sọt là 7 sọt/ lô T4.
- T5: Gieo 2mẫu giống/Sọt tre với đường kính 0,3m. Tổng số sọt là 26 sọt/ lô T5.

13
- T6: Gieo 2mẫu giống/Sọt tre với đường kính 0,4m. Tổng số sọt là 10 sọt/ lô T6.
- T7: Gieo 2mẫu giống/Sọt tre với đường kính 0,5m. Tổng số sọt là 8 sọt/ lô T7.
- T8: Gieo 2mẫu giống/Sọt tre với đường kính 0,6m. Tổng số sọt là 7 sọt/ lô T8.
Hình 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm gừng tại Chợ Mới, An Giang, năm 2006-2007
* Kỹ thuật canh tác:
- Chuẩn bị đất: đất trồng nên cày xới, phơi khô, lên liếp và rải thuốc hoá học để tiêu diệt mầm
bệnh trong đất, tăng cường bón phân hữu cơ vi sinh, phân chuồng đã ủ hoai mục, cũng có thể dùng
tro trấu.
- Chuẩn bị cây con: Sau khi thu hoạch gừng giống được phơi nơi thoáng mát (khoảng 5 ngày).
Gừng được nhân giống chủ yếu bằng các mẫu, mảnh (hom) nhỏ được tách từ thân rễ (trung bình 1
kg gừng phân ra 15 mẫu), mỗi mẫu dài từ 3-5cm, nặng 30-50g và có ít nhất một đỉnh chồi hoặc một
đỉnh sinh trưởng. Sau đó phơi nơi thoáng mát cho ráo vết cắt (khoảng 10 ngày). Mẫu gừng được xử
lý thuốc Carban (ngâm khoảng 1-2 giờ) trước khi đem ủ trong tro trấu và tưới nước vừa đủ ẩm để

50 - 0,5 20
71 - 15 0,5 30
110 - - - -
136 15 0,5 30
Tổng lượng 80 50 3 120
* Tình hình sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật:
Trong quá trình thí nghiệm đã sử dụng phân hữu cơ, phân bò và tro trấu là chủ yếu thời gian bón
phân cho gừng được định kỳ 1 tháng bón 1 lần (bón trong vòng 4 tháng) lượng phân cứ tăng dần lên
ở các tháng tiếp theo.
* Phòng trừ sâu bệnh:
Thường xuyên theo dõi sâu bệnh hại, phun thuốc trừ sâu khi thấy sâu xuất hiện như Basudin,
Regent…, riêng thuốc trừ bệnh được phun đều như nhau ở các nghiệm thức như Benomyl,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status