Phát triển nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột - Pdf 28



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐỖ PHÚ TRUNG
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã ngành: 60.31.05
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Đà Nẵng - Năm 2015
Công trình đã được hoàn thành tại

Nông nghiệp là ngành có từ lâu đời, nên được coi là lĩnh vực sản
xuất truyền thống. Nó là ngành sản xuất vô cùng quan trọng trong bất
cứ kỳ xã hội nào, vì nó là ngành cung cấp những sản phẩm lương
thực – thực phẩm cho người tiêu dùng và nguyên liệu đầu vào cho
công nghiệp chế biến.
Thành phố Buôn Ma Thuột có diện tích đất nông nghiệp chiếm
72,45% tổng diện tích toàn thành phố, tỷ trọng giá trị sản xuất nông
nghiệp chiếm 13,06% tổng giá trị sản xuất toàn thành phố. Tuy nhiên
ngành nông nghiệp thành phố Buôn Ma Thuột phát triển chưa tương
xứng với tiềm năng và thế mạnh của thành phố, phát triển thiếu bền
vững, chưa hiệu quả. Do đó, cần có giải pháp để phát triển nông
nghiệp thành phố toàn diện theo hướng hiện đại, đa dạng, sản xuất
hàng hóa có giá trị cạnh tranh cao, khai thác được tiềm năng, thế
mạnh của thành phố. Với những lý do trên và những kiến thức, kinh
nghiệm của mình tôi chọn đề tài “Phát triển nông nghiệp trên địa
bàn thành phố Buôn Ma Thuột”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp của thành
phố Buôn Ma Thuột; chỉ ra những thành công, những tồn tại trong
phát triển nông nghiệp của thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đề xuất các giải pháp phát triển nông nghiệp của thành phố
Buôn Ma Thuột trong thời gian đến.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và
2 thực tiễn phát triển nông nghiệp tại thành phố Buôn Ma Thuột.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1.1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm về nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan
trọng của nền kinh tế, là ngành duy nhất sản xuất được lương thực,
thực phẩm. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng
trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông
nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và
ngành thủy sản nữa.
1.1.2. Khái niệm về phát triển nông nghiệp
Phát triển nông nghiệp là quá trình tăng tiến theo hướng hoàn
thiện về mọi mặt, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về qui mô sản
lượng (tăng trưởng), sự tiến bộ về cơ cấu nông nghiệp và sự nâng cao
hiệu quả kinh tế - xã hội của sản xuất nông nghiệp.
1.1.3. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức
tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt.
Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được.
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và
vật nuôi.
Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao.
1.1.4. Ý nghĩa của phát triển nông nghiệp
- Phát triển nông nghiệp góp phần cung ứng hàng hóa cho thị
trường
- Phát triển nông nghiệp góp phần tăng trưởng nền kinh tế
- Phát triển nông nghiệp góp phần xóa đói, giảm nghèo và bảo
4

1.2.3. Phát triển tổ chức sản xuất trong nông nghiệp
Phát triển tổ chức sản xuất trong nông nghiệp là phát triển các
hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với qui mô và trình độ tổ chức
nhằm không những tạo ra sản lượng cao mà còn đem lại giá trị kinh
tế cao cho nông sản sản xuất ra. Các hình thức tổ chức sản xuất trong
sản xuất nông nghiệp gồm có: nông hộ, trang trại, hợp tác xã, doanh
nghiệp sản xuất nông nghiệp.
Nhóm nhân tố phản ánh trình độ tổ chức sản xuất:
- Gia tăng quy mô sản xuất của các loại hình thức tổ chức.
- Mức tăng tỷ lệ doanh thu của các loại hình thức tổ chức.
Liên kết kinh tế trong nông nghiệp là sự hợp tác của các đối tác
trên chuỗi giá trị để đưa nông sản từ sản xuất đến tiêu thụ nhằm tìm
kiếm những cơ hội đem lại lợi nhuận từ sự liên kết này. Đối với việc
sản xuất và tiêu thụ nông sản phải có sự tham gia của nhiều đối tác
và nhiều ngành mới có thể đưa nông sản đến với thị trường đáp ứng
người tiêu dùng tốt hơn.
Hiện có hai mô hình liên kết được xem là tiến bộ đối với nông hộ
và các đơn vị sản xuất nông nghiệp là liên kết ngang và liên kết dọc.
1.2.4. Tăng cường thâm canh nông nghiệp
Thâm canh là phương thức sản xuất tiên tiến nhằm tăng sản
lượng nông sản bằng cách nâng cao độ phì nhiêu kinh tế của ruộng
đất, thông qua việc đầu tư thêm vốn và kỹ thuật mới vào sản xuất
nông nghiệp. Thâm canh đạt đến trình độ cao nhờ áp dụng các tiến
bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp như cơ giới hóa,
thủy lợi, công nghệ sinh học, công nghiệp hóa, hiện đại hóa công
nghiệp.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh trình độ thâm canh nông nghiệp.
- Thay đổi tỷ lệ vốn đầu tư/ đơn vị diện tích.
6

7 của địa phương
- Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp trong tổng GTSX của địa
phương.
- Đóng góp của nông nghiệp cho ngân sách
- Tạo việc làm cho lao động.
- Góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ
môi trường.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP
1.3.1. Nhân tố điều kiện tự nhiên
Các nhân tố của điều kiện tự nhiên như điều kiện đất đai, điều
kiện khí hậu, nguồn nước.
1.3.2. Nhân tố điều kiện xã hội
Nhân tố điều kiện xã hội có ảnh hưởng đến sản xuất và phát triển
nông nghiệp có thể xem các yếu tố quan trọng có liên quan như dân
tộc, dân số, truyền thống, dân trí.
1.3.3. Nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế
Các nhân tố thuộc về điều kiện thể chế chính sách nông nghiệp
và cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn ảnh hưởng đến phát triển
nông nghiệp.


- Tài nguyên nước
- Tài nguyên rừng
- Tài nguyên khoáng sản
9 e. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
2.1.2. Đặc điểm về xã hội
a. Đặc điểm về dân số
Dân số trung bình của thành phố Buôn Ma Thuột năm 2013 là
344.637 người, trong đó dân số sống ở nông thôn chiếm 35,13%.
Thành phố có 40 dân tộc cùng sinh sống, tỷ lệ người dân tộc thiếu số
chiếm 16,36%, chủ yếu sống ở 33 buôn. Mật độ dân số của thành
phố là 914 người/km2.
b. Đặc điểm về nguồn lao động
Lao động nông nghiệp là 61.921 lao động, chiếm 36,52% lao
động làm việc trong các ngành kinh tế.
2.1.3. Đặc điểm về kinh tế
a. Về tăng trưởng kinh tế
Kinh tế thành phố vẫn đạt mức tăng trưởng khá, bình quân tăng
trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2008-2013 tăng 9,89%, trong đó
nông, lâm, thủy sản tăng 3%; công nghiệp – xây dựng tăng 9,42%;
thương mại – dịch vụ tăng 13,69%.
b. Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế thành phố chuyển dịch theo hướng hợp lý, giảm
tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng,
thương mại – dịch vụ. Năm 2008 tỷ trọng nông nghiệp 18,05%, đến
năm 2013 giảm còn 13,06%; năm 2008 tỷ trọng thương mại – dịch
vụ 32,65%, đến năm 2013 tăng lên là 38,70% và tỷ trọng công
nghiệp – xây dựng đến năm 2013 là 48,24%.

c. Chuyển dịch cơ cấu trong ngành trồng trọt
Năm 2008, diện tích cây lương thực chiếm tỷ trọng 24,5%, rau
đậu 7,8%, cây công nghiệp hàng năm 7,1%, cây công nghiệp lâu năm
58,9%, cây ăn quả 1,6%; đến năm 2013, diện tích cây lương thực
chiếm tỷ trọng 26,9%, rau đậu 6,7%, cây công nghiệp hàng năm
11 5,5%, cây công nghiệp lâu năm 58,8%, cây ăn quả 2,1%. Cây lương
thực, cây ăn quả có xu hướng tăng; rau đậu, cây công nghiệp hàng
năm, cây công nghiệp lâu năm có xu hướng giảm; cây công nghiệp
lâu năm giảm nhẹ, chiếm tỷ trọng lớn 58,8% trong cơ cấu.
d. Chuyển dịch cơ cấu trong ngành chăn nuôi
Trong nội bộ ngành chăn nuôi, thì chăn nuôi gia súc chiếm tỷ lệ
lớn hơn so với chăn nuôi gia cầm. Có sự dịch chuyển cơ cấu giữa gia
súc và giam cầm; trong khi cơ cấu giá trị sản xuất của gia súc đã tăng
từ 82,29% năm 2008 lên 83,05% năm 2013; ngược lại, gia cầm đã
giảm từ 17,71% xuống còn 16,95% tương ứng cùng kỳ.
Đối với cơ cấu đàn gia súc, gia cầm cũng biến động, năm 2008,
đàn trâu 292 con, đàn bò 12.048 con, đàn lợn 81.843 con, gia cầm
81.843 con; đến năm 2013, đàn trâu 330 con, đàn bò 7.583 con, đàn
lợn 99.694 con, gia cầm 1.294 ngàn con.
e. Chuyển dịch cơ cấu trong ngành thủy sản:
Trong nội bộ ngành thủy sản thì ngành nuôi trồng chiếm tỷ trọng
cao hơn so với ngành khai thác và có sự chuyển dịch cơ cấu, năm
2008 ngành khai thác chiếm 8,61%, đến năm 2013 tăng lên 10,74%,
năm 2008 ngành nuôi trồng chiếm 91,39% đến năm 2013 giảm
xuống còn 89,26%.
f. Chuyển dịch cơ cấu trong ngành lâm nghiệp
Trong cơ cấu ngành lâm nghiệp thì có xu hướng chuyển dịch

Tổng doanh thu từ các trang trại là 169.015 triệu đồng, trong đó:
01 trang trại lâm nghiệp là 500 triệu đồng, 01 trang trại nuôi trồng
thủy sản 700 triệu đồng, 82 trang trại chăn nuôi 161.694 triệu đồng, 6
trang trại tổng hợp 6.121 triệu đồng.
- Hợp tác xã
Hợp tác xã nông nghiệp có 22 HTX, chủ yếu hoạt động các dịch
vụ phục vụ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như: thuỷ lợi, phân
13 bón, khuyến nông, dịch vụ điện sinh hoạt, giống cây trồng vật nuôi,
bảo vệ thực vật, nuôi ong, tiêu thụ sản phẩm
Trong thời gian qua, HTX hoạt động sản xuất kinh doanh ổn
định, giải quyết việc làm và tạo thu nhập ổn định cho xã viên và
người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo. Tuy nhiên, năng lực
nội tại của các HTX còn yếu, phát triển không ổn định, quỹ vốn còn
quá nhỏ, không để lại quỹ tái sản xuất, dự phòng theo quy định,
nhiều HTX chưa có trụ sở làm việc.
- Kinh tế nông hộ
Toàn thành phố số hộ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
30.596 hộ, chiếm 35,21% số hộ toàn thành phố. Nông dân đã được
quan tâm chỉ đạo của các cấp trong công tác phát triển sản xuất, nâng
cao thu nhập cho nông dân. Do vậy thu nhập và đời sống vật chất,
tinh thần của đại bộ phận cư dân nông thôn đã được nâng lên.
- Các doanh nghiệp nông nghiệp:
Thành phố Buôn Ma Thuột có 51 doanh nghiệp nông nghiệp
thuộc nhiều thành phần như công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh
nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, hoạt động trong lĩnh vực
trồng rừng, trồng cà phê, trồng cao su, sản xuất cây giống, cây ăn
quả, hoa và chăn nuôi. 51 doanh nghiệp nông nghiệp đã giải quyết

2.2.5. Thị trường tiêu thụ sản phầm
Thành phố có lợi thế là ở vị trí trung tâm vùng Tây Nguyên,
được định hướng xây dựng và phát triển thành đô thị trung tâm cấp
vùng Tây Nguyên. Vì vậy, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản của
thành phố đầy tiềm năng và rộng lớn.
Hệ thống chợ trên địa bàn thành phố được đầu tư bài bản như
chợ trung tâm Buôn Ma Thuột đã hoàn thành đưa vào sử dụng khu B
(năm 2013), khu C (năm 2014); chợ đầu mới đang thi công xây dựng
dự kiến cuối năm 2014 đưa vào sử dụng, cùng với hệ thống chợ trên
15 địa bàn 21 xã, phường và các siêu thị, trung tâm thương mại đã tạo
thành một kênh tiêu thụ nông sản của thành phố vô cùng phong phú
và nhộn nhịp.
Ngoài ra, một số mặt hàng nông sản chủ lực của thành phố đã
xuất khẩu ra nước ngoài như cà phê, cao su, ….
2.2.6. Kết quả và đóng góp của sản xuất nông nghiệp
a. Kết quả của sản xuất nông nghiệp
Bảng 2.15. GTSX Nông lâm thủy sản giai đoạn 2008-2013 (theo giá CĐ 2010)
Nội dung
2008
2009
2010
2011
2012
2013
BQ
2008-
2013

2,95
+ Trồng trọt

1.601,2

1.626,7
1.413,2

1.529,8

1.755,4

1.796,2

2,33
+ Chăn nuôi

409,5

443,1
430,2

525,7

473,5

491,0

3,70
+ Dịch vụ

11,5

8,4

6,3

5,4

4,6

4,5

(17,18)
Nguồn: Niên giám thống kế thành phố Buôn Ma Thuột năm 2013
Giá trị sản xuất Nông - Lâm - Thuỷ sản (theo giá cố định 2010),
năm 2008 đạt giá trị sản xuất là 2.185,9 tỷ đồng, năm 2013 tăng lên
còn 2.534 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2008 – 2013 đạt
3,0%/năm. Trong đó nông nghiệp là ngành chủ yếu có vị trí rất quan
trọng, tăng bình quân 2,95%; thủy sản có quy mô giá trị sản xuất
nhỏ, nhưng có sự tăng trưởng khá đạt 9,17% và lâm nghiệp nghiệp
16 có quy mô nhỏ nhất, tăng trưởng bình quân giảm 17,18% (Bảng
2.15).
* Ngành trồng trọt:
Giá trị sản xuất ngành trồng trọt, năm 2008 đạt giá trị sản xuất là
1.601,2 tỷ đồng, đến năm 2013 tăng lên 1.796,2 tỷ đồng, tăng trưởng
bình quân giai đoạn 2008 – 2013 đạt 2,33%/năm. Trồng trọt là ngành
sản xuất chính của nông nghiệp, năm 2013 chiếm tỷ trọng 72,66%

- Đóng góp của nông nghiệp cho ngân sách năm 2013 là 69,961
tỷ đồng chiếm 6,43% tổng thu ngân sách thành phố.
- Sản xuất nông nghiệp cung cấp lương thực, rau quả thực phẩm
cho nhân dân trong Thành phố và một lượng lớn nông sản hàng hóa
phục vụ xuất khẩu
- Thu nhập bình quân đầu người của thành phố năm 2013 đạt
43,2 triệu đồng. Tính giá trị sản phẩm thu được trên 1ha đất trồng
trọt năm 2009 đạt 48,82 triệu đồng/ha, đến năm 2013 tăng lên đạt 94
triệu đồng/ha.
- Hằng năm ngành nông nghiệp tạo việc làm bình quân 600 lao
động, chiếm 35,9% so tổng việc làm mới.
- Phát triển nông nghiệp đã góp phần giảm số hộ nghèo tại thành
phố đến năm 2013 số hộ nghèo của thành phố còn là 1.539 hộ, chiếm
tỷ lệ 2,01% tổng số hộ dân.
- Phát triển nông nghiệp đã tạo vành đai xanh cho thành phố,
đóng góp lớn việc bảo vệ môi trường.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
2.3.1. Những thành công
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước bị suy giảm
nhưng giá trị sản xuất ngành Nông - Lâm - Thuỷ sản của thành phố
vẫn duy trì mức tăng trưởng ổn định, bình quân giai đoạn 2008 –
18 2013 đạt 3,0%/năm.
Cơ cấu ngành nông nghiệp có xu hướng chuyển dịch theo hướng
phù hợp, giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành
chăn nuôi và ngành dịch vụ nông nghiệp.
Các doanh nghiệp nông nghiệp, trang trại, HTX nông nghiệp

động hiệu quả chưa cao. Các doanh nghiệp nhỏ hoạt động không ổn
định. Kinh tế hộ vẫn là chủ yếu, sản xuất mang nặng tính tự cung, tự
cấp, còn thiếu vốn, kỹ thuật.
Trong ngành trồng trọt: cây cà phê, cao su, tiêu, điều đang là cây
trồng chủ yếu, các loại cây trồng khác quy mô còn nhỏ, chưa tương
xứng với tiềm năng của Thành phố.
Ngành chăn nuôi tuy phát triển nhưng vẫn chưa tương xứng với
tiềm năng.
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Những năm qua, do tình hình thời tiết, dịch bệnh trên cây trồng,
vật nuôi diễn biến phức tạp, bất lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Tình hình kinh tế cả nước, tỉnh, thành phố gặp khó khăn nên
nguồn lực đầu tư phát triển đầu tư phát triển nông nghiệp còn nhiều
hạn chế.
Lao động trong nông nghiệp có xu hướng giảm, chất lượng lao
động còn thấp nhất là vùng đồng bào dân tộc tại chỗ, đa số lao động
chưa qua đào tạo, trong đó có một phần lao động ngoài tuổi lao động.
Nông dân chưa có ý thức trong việc sản xuất hàng hóa theo
hướng tập trung, chưa mạnh dạn đổi mới phương thức sản xuất nông
nghiệp, tập quán sản xuất nhỏ lẻ, tự phát của người nông dân chưa
thay đổi nhiều.
Quy mô sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp còn khiêm
tốn. Trình độ thâm canh trong nông nghiệp còn thấp. Năng lực quản
lý trong các loại hình kinh tế còn thấp nên chưa phát huy hiệu quả.
20 CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

nguồn lực
a. Về đất đai
Quy hoạch chi tiết sử dụng đất đai, có kế hoạch sử dụng đất và
bố trí đất sản xuất nông, lâm, thủy sản trên địa bàn lợi thế từng vùng,
sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm, có hiệu quả.
Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, là tài sản có
giá trị nhất đối với người nông dân. Cần quản lý chặt chẽ việc sử
dụng đất nông nghiệp, tránh tình trạng sử dụng đất không đúng mục
đích và sản xuất không theo quy hoạch, chuyển đất sản xuất nông
nghiệp sang đất phi nông nghiệp.
b. Về lao động trong nông nghiệp
Tăng cường đào, bồi dưỡng kiến thức khoa học kỹ thuật về sản
xuất nông sản hàng hóa tập trung, nâng cao chất lượng, xây dựng
thương hiệu hàng hóa cho nông dân, đặc biệt là vùng đồng bào dân
tộc tại chỗ.
Đẩy mạnh đào tạo nghề nông thôn qua các lớp khuyến nông,
khuyến ngư.
c. Về nguồn vốn trong nông nghiệp
Có chính sách khuyến khích huy động vốn trong dân, vốn của
các thành phần kinh tế đầu tư vào thâm canh trồng trọt, chăn nuôi,
nuôi trồng thủy sản.
Sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn vốn ngân sách nhà
nước, vốn các chương trình hợp tác.
3.2.3. Hoàn thiện các hình thức tổ chức sản xuất trong nông
nghiệp
22 Tăng cường đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất
có hiệu quả. Phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại, doanh

sản và công nghiệp nông thôn, tạo thành điều kiện chung quan trọng
cho phát triển nông nghiệp và kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn.
3.2.8. Phát triển công nghiệp chế biến nông sản
Phát triển công nghiệp chế biến sẽ tạo điều kiện tiêu thụ nông
sản ổn định và giúp liên kết kinh tế giữa ngành nông nghiệp với công
nghiệp và dịch vụ.
KẾT LUẬN
Phát triển nông nghiệp thành phố Buôn Ma Thuột toàn diện theo
hướng hiện đại, đa dạng, sản xuất hàng hóa có giá trị cạnh tranh cao,
bền vững và đảm bảo môi trưởng sinh thái và an ninh lương thực là
mục tiêu của thành phố trong thời gian đến. Những năm qua, trong
bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước bị suy giảm nhưng giá trị
sản xuất ngành nông - lâm - thuỷ sản của thành phố vẫn duy trì mức
tăng trưởng ổn định. Cơ cấu ngành nông nghiệp có xu hướng chuyển
dịch theo hướng phù hợp, giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ
trọng ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ nông nghiệp. Đã quan tâm
đưa các giống mới, áp dụng khoa kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng
cao năng suất, chất lượng sản cây trồng, vật nuôi.
Tuy nhiên, so với tiềm năng và yêu cầu phát triển trong giai đoạn
hiện này ở thành phố, phát triển kinh tế nông nghiệp thời gian qua
chưa ổn định, vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán, mang nặng tính tự phát
và chưa gắn với chế biến, tiêu thụ nông sản hàng hóa quy mô lớn.
Phần lớn nông sản sản xuất ra chưa gắn với xây dựng thương hiệu
cho sản phẩm, do vậy sản phẩm hàng hóa chưa nhiều, chất lượng
nông sản hàng hóa thấp, chưa có tính cạnh tranh, chưa có nhiều sản
phẩm chế biến theo công nghệ cao, gắn với thị trường tiêu thụ. Sự
chuyển dịch cơ cấu ngành nông - lâm - thủy sản, cũng như cơ cấu nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status