LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề:
Tăng trưởng kinh tế có vai hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi
quốc gia, nó là điều kiện vật chất cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển. Ngày nay,
nó đã trở thành mục tiêu và là động lực của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là
đối với các nước đang phát triển như nước ta.Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế lại
phụ thuộc vào các yếu tố nguồn lực và khả năng huy động, sử dụng các yếu tố đó
vào quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Quá trình đó liên tục
được tiếp diễn và tạo thành chu kỳ tái sản xuất với quy mô ngày càng được mở
rộng, đây là cơ sở và cũng chính là kết quả được tích luỹ lại từ hoạt động đầu tư.
Như vậy, đầu tư có tác động trực tiếp đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển của
một nền kinh tế. Kết quả của hoạt động đầu tư là làm gia tăng năng lực sản xuất,
cung ứng các sản phẩm vật chất, dịch vụ cho nền kinh tế, thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và chuyển giao công nghệ, từ đó tạo đà cho sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế.
Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, duy trì được
mức tăng trưởng cao và ổn định so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới,
mức sống người dân được cải thiện rõ rệt, chất lượng cuộc sống được nâng cao
Để có được những thành tựu đó, phải kể đến vai trò đặc biệt quan trọng của đầu tư.
Nhận thức được vấn đề trên đồng thời cũng là những học viên đang nghiên cứu
môn học Kinh tế đầu, nhóm chúng em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải thích
vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, liên hệ thực tế
Việt Nam.”
2. Mục đích nghiên cứu:
- Đưa ra cái nhìn tổng quan về vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
- Đánh gia thực tế về tác động của đầu tư đến kinh tế Việt Nam trong những
năm vừa qua.
- Đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm tăng cường hơn nữa vai trò của
đầu tư ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện kinh tế xã hội nhất
định
là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào các hoạt động nào đó nhằm đem lại lợi
ích hoặc mục tiêu, mục đích của chủ đầu tư.
1.1.1.2.Phân loại
Trong thực tế, có rất nhiều hình thái biểu hiện cụ thể của đầu tư. Trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài này, chúng ta sẽ phân loại đầu tư theo tiêu thức quan hệ
quản lý của chủ đầu tư. Theo đó hoạt động đầu tư được phân thành đầu tư trực
tiếp và đầu tư gián tiếp.
2
- Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham
gia điều hành, quản lý quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Trong
trường hợp này nhà đầu tư có thể được hưởng các lợi ích vật chất, lợi ích phi vật
chất nhưng không được tham gia trực tiếp quản lý tài sản mà mình bỏ vốn đầu tư.
Đầu tư gián tiếp là phương thức huy động vốn cho đầu tư phát triển.
- Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia
quản lý , điều hành quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Loại đầu tư
này tạo nên những năng lực sản xuất phục vụ mới (cả về lượng và chất). Đây là
loại đầu tư để tái sản xuất mở rộng, là biện pháp chủ yếu để tăng việc làm cho
người lao động. Đầu tư trực tiếp bao gồm đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển.
Đầu tư dịch chuyển là một hình thức đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn là nhằm
dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tài sản.Thực chất trong đầu tư dịch chuyển
không có sự gia tăng giá trị tài sản.
Đầu tư phát triển : là một phương thức của đầu tư trực tiếp mà trong đó việc bỏ
vốn là nhằm gia tăng giá trị của tài sản. Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo
ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống xã hội.
Thực chất sự gia tăng giá trị tài sản trong đầu tư phát triển là nhằm tạo ra năng
lực sản xuất mới và (hoặc) cải tạo, mở rộng, nâng cấp năng lực sản xuất hiện có vì
mục tiêu phát triển. Đầu tư phát triển không chỉ trực tiếp làm tăng tài sản của
người chủ đầu tư mà cả của nền kinh tế, đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng
và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng
nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng
với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia
tăng nhanh hay chậm giữa các thời kì. Như vậy, bản
chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về
lượng của nền kinh tế.
1.2.2.Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh
tế. Nếu tăng trưởng được xem là quá trình biến đổi về lượng thì phát triển là quá
trình biến đổi cả về lượng và chất của nền kinh tế. Phát triển kinh tế bao gồm có
tăng trưởng, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, sự biến đổi
ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển
kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, mà chính là sự tiến bộ chung của xã hội. Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự biến
đổi về chất xã hội của quá trình phát triển.
1.2.3. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế
Nói đến tăng trưởng kinh tế người ta thường liên tưởng đến việc gia tăng về số
lượng các chỉ tiêu kinh tế. Chẳng hạn như các chỉ tiêu về GDP, GNP, cán cân thương
mại, sản lượng sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu Còn đề cập đến vấn đề phát triển
kinh tế, ngoài các chỉ tiêu về số lượng người ta còn quan tâm đến các chỉ tiêu về
4
chất lượng như: công bằng xã hội, khoảng cách giàu nghèo, trình độ dân trí, dịch
vụ công ích,
Tăng trưởng kinh tế chưa chắc đã là phát triển kinh tế. Ngược lại phát triển kinh tế
đã bao hàm cả tăng trưởng kinh tế. Chỉ khi tăng trưởng kinh tế tích lũy được đến
một lượng nhất định sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất khi đó người ta xem như là
phát triển kinh tế. Tăng trưởng chỉ đơn thuần là tăng về lượng (GDP; GNP;
FDI ).Còn phát triển kinh tế là tăng trưởng kinh tế đi đôi với tăng trưởng xã
hội hay nói cách khác là tăng cả chất và lượng.
1.3.Vai trò của đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cho rằng tổng mức cung (Y) của nền kinh tế
được xác định bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất: lao động (L), vốn sản xuất (K),
tài nguyên thiên nhiên được sử dụng (R), khoa học công nghệ (T). Nói cách khác
hàm sản xuất có dạng:
Y= F (L, K, R, T )
Lý thuyết trên chọn hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas để thể hiện tác động của các
yếu tố đến tăng trưởng kinh tế:
. . .Y T K L R
α β γ
=g t k l r
α β γ
= + + +
Trong đó:
g là tốc độ tăng trưởng GDP
k, l, r là tốc độ tăng trưởng các yếu tố đầu vào.
t là phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học - công nghệ.
Theo tư tưởng của lý thuyết tăng trửơng kinh tế hiện đại, đầu tư có ảnh hưởng quan trọng
không chỉ đến tốc độ tăng trưởng cao hay thấp mà còn đến chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Trên góc độ phân tích lý thuyết trên, vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế có thể
được phân tích theo biểu thức sau:
g= Di + Dl + TFP
Trong đó:
G là tốc độ tăng trưởng GDP
Di là phần đóng góp của vốn đầu tư vào tăng trưởng GDP
Dl là phần đóng góp của lao động vào tăng trưởng GDP
Vì tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tư cho nên về lý thuyết đầu tư luôn bằng tiết
kiệm, nên: S
t
= I
t
:
t
t
I
s
Y
=
Đầu tư chính là cơ sở tạo ra vốn sản xuất do đó I
t
=
∆
K
t+n
ICOR là tỷ lệ gia tăng của vốn so với sản lượng, ta có công thức:
*K I S s Y
ICOR
Y Y Y Y
∆
= = = =
∆ ∆ ∆ ∆
Từ đây suy ra:
*s Y
Y
kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực. Đối với cơ cấu ngành, vốn đầu tư
vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu
quả thấp hay cao… đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường
cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển các ngành mới…
do đó, làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành. Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác
dụng giải quyết những mất mát cân đối về phát triển giữa các vũng lãnh thổ, đưa
những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những
lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị… của những vùng có khả
năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát
triển.
1.3.4.Tác động của đầu tư phát triển đến khoa học công nghệ
Đầu tư là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển
khoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia. Công nghệ bao gồm các
yếu tố cơ bản: phần cứng (máy móc thiết bị), phần mềm (các văn bản, tài liệu. các
bí quyết…), các yếu tố con người (các kỹ năng quản lý, kinh nghiệm), yếu tố tổ
chức… Muốn có công nghệ cần phải đầu tư vào các yếu tố cấu thành.
Trong mỗi thời kỳ các nước có bước đi khác nhau để đầu tư phát triển công
nghệ. Ban đầu sử dụng các lọai công nghệ sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu
sau đó giảm dần thông qua việc tăng dần hàm lượng đầu tư vào công nghệ. Đến
giai đoạn phát triển, xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri
thức chiếm ưu thế tuyệt đối. Tuy nhiên quá trình chuyển từ giai đoạn một sang giai
8
đoạn ba là quá trình chuyển từ đầu tư ít sang đầu tư lớn, thay đổi cơ cấu đầu tư.
Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển
đổi và sự phát triển của khoa học công nghệ.
Công nghệ là do doanh nghiệp nhập khẩu từ bên ngoài hoặc do tự nghiên cứu
và ứng dụng. Công nghệ được nhập khẩu qua nhiều đường như mua thiết bị, linh
kiện rồi lắp đặt, mua bằng chế, thực hiện liên doanh… Công nghệ do tự nghiên cứu
và triển khai được thực hiện qua nhiều giai đoạn và từ nghiên cứu đến thí nghiệm
sản xuất thử sản xuất thường mất nhiều thời gian rủi ro cao. Dù vậy nhập hay tự
Khu vực
có vốn
đầu tư
nước
ngoài
2005 343,135 161,635 130,398 51,102 40,9
2006 404,712 185,102 154,006 65,604 41
2007 532,093 197,989 204.705 129,399 40,4
2008 616,735 209,031 217,034 190,670 43,1
2009 708,826 287,534 240,109 181,183 42,8
2010 830,278 316,285 299,487 214,506 41,9
2011 924,495 341,555 356,049 226,891 34,6
2012 1010,114 406,514 385,027 218,573 33,5
2013 1091,136 440,505 410,532 240,099 30,4
Nguồn: Tổng cục thống kê
Dưới đây chúng ta phân tích rõ hơn thực trạng hoạt động đầu tư tại Việt Nam giai
đoạn 2005-2013:
2.1.1. Đầu tư trong nước
Tuy vẫn là nguồn vốn quan trọng nhất của nền kinh tế, nhưng tỷ trọng vốn đầu tư
khu vực nhà nước có xu hướng giảm dần từ 47,1 % năm 2005 xuống 40,4% năm
2013. Đây là tín hiệu tích cực đối với nền kinh tế thị trường đang hình thành, phần
nào phản ánh môi trường đầu tư đã và đang được cải thiện. Tổng vốn đầu tư nhà
nước năm 2013 ước đạt 440,505 nghìn tỷ VNĐ. Trong đó vốn NSNN là khoảng
205,66 nghìn tỷ VNĐ chiếm 18,85% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, bằng 101,5% kế
hoạch năm và tăng 0,3% so với năm 2012.
Bảng 2: Vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước phân theo
nguồn vốn
Năm Tổng số
(%)
Cơ cấu
Trong khoảng thời gian đầu thế kỷ 21, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đạt những
thành tựu đáng kinh ngạc. 3 kênh huy động vốn chủ yếu của nước ta là: Đầu tư
trực tiếp nước ngoài FDI ; Hỗ trợ phát triển chính thức ODA ; Và kênh đầu tư gián
tiếp FPI.
2.1.2.1.Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
FDI là kênh huy động vốn quan trọng, góp phần lớn vào sự tăng trưởng kinh tế
nước ta. Tính đến ngày 31/12/2013, Tổng vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài
đạt 22352,2 triệu USD,với 1530 dự án; vốn thực hiện đạt 11500 triệu USD. Năm
2013, đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 21,6 tỷ USD, tăng 54,55% so với năm 2012.
Bao gồm 14,3 tỷ USD vốn đăng ký của 1275 dự án được cấp phép mới, tăng 70,5%
(số dự án tăng 0,7%) và 7,3 tỷ USD vốn đăng ký bổ sung của 472 lượt dự án được
cấp phép từ các năm trước, tăng 30,8%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện
năm 2013 đạt 11,5 tỷ USD tăng 9,9% so với năm 2012. FDI chủ yếu tập trung vào
ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt,
nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí. Cả nước có 50 tỉnh, thành phố trực
11
thuộc trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài cấp phép mới, trong đó
Thái Nguyên có số vốn đăng ký lớn nhất với 3381,1 triệu USD, Bình Thuận 2029,6
triệu USD, Hải Phòng 1843,6 triệu USD
Bảng 3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2005-2013
Năm Số dự án Vốn đăng ký (triệu USD) Vốn thực hiện (triệu USD)
2005 970 6840 3300,5
2006 987 12004,5 4100,4
2007 1544 21348,8 8034,1
2008 1171 71726,8 11500,2
2009 1208 23107,5 10000,5
2010 1237 19886,8 11000,3
2011 1191 15616,7 11000,1
2012 1287 16348 10046,6
2013 1530 22352,2 11500
Năm 2006 và những tháng đầu năm 2007 khi thị trường chứng khoán và bất động
sản nóng và sôi động, một dòng vốn đầu tư lớn đã được đổ vào Việt Nam, khoảng
20 tỷ USD vào thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó,hàng loạt quĩ đầu tư đã được
hình thành trong những năm qua.Tính đến hết năm 2008,có gần 50 quĩ,trong đó có
những quĩ có số vốn khá lớn như Vietnam Enterprise Investment Fund (VEIL),quỹ
13
bất động sản VinaLand thuộc Công ty Quản lý quỹ VinaCapital, Quỹ Bất động sản
Indochina Land, Quỹ Indochina Capital Vietnam Holding Limited với số vốn lên đến
vài trăm triệu USD mỗi quĩ.
Dù FPI đã tăng mạnh,nhưng có một thực trạng là tỷ trọng dòng vốn đầu tư gián
tiếp (FPI) so với FDI vẫn ở mức quá thấp so với các nước trong khu vực như Thái
Lan, Malaysia và Trung Quốc, tỷ trọng dòng vốn FPI so với FDI vào khoảng 30% -
40%.
2.2. Quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2005-2013
2.2.1.Tình hình tăng trưởng kinh tế
Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đã tăng lên liên
tục. Năm 2005, tốc độ tăng GDP của Việt Nam là 8,44%, năm 2006: 8,23% và năm 2007:
8,46%. Tuy nhiên, năm 2008 – 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam bị suy giảm, năm 2008 : 6,31% ,
năm 2009 : 5,32% , năm 2010 : 6,78%, năm 2011: 5,89%, năm 2012: 5,25% và năm 2013 là
5,42%. So với các nước trong khu vực, Việt Nam đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng
trưởng cao. Điều đó được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 4: GDP theo giá thực tế và theo giá so sánh năm 2010 của Việt Nam
Năm
GDP theo giá thực
tế
(nghìn tỷ đồng)
GDP theo giá so sánh năm 2010
Tổng số
(nghìn tỷ đồng)
nước đạt 9,9% giảm 1,2 điểm phần trăm so với năm 2012. Cũng trong năm 2013 cả
nước có trên 7,4 triệu sổ, thẻ bảo hiểm y tế, giấy khám chữa bệnh được phát miễn
phí cho các đối tượng chính sách tại các địa phương.
2.2.2.2.Giáo dục đào tạo
Ngành giáo dục Việt Nam ngày càng phát triển.Trong những năm qua đạt được
nhiều thành tích trong khu vực cũng như trên thế giới.Chất lượng đào tạo luôn
được cải thiện, đội ngũ nhà giáo có trình độ chuyên môn và lòng yêu nghề cao.Đời
sông giáo viên được nâng cao, tạo điều kiện cho các thầy cô chuyên tâm giảng dạy
Tính đến tháng 12/2009, cả nước đã có 48/63 địa phương đạt chuẩn phổ cập giáo
dục tiểu học đúng độ tuổi và 56/63 địa phương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung
học cơ sở. Số sinh viên đại học, cao đẳng năm học 2008-2009 là 1,72 triệu sinh viên,
tăng 7% so với năm học trước, đạt chỉ tiêu 200 sinh viên/1 vạn dân, sớm hơn kế
hoạch đề ra 1 năm; số học sinh trung cấp chuyên nghiệp là 625,8 nghìn học sinh,
tăng 1,8%. Công tác đào tạo nghề được tập trung đầu tư nên năm 2009 các cơ sở
dạy nghề đã tuyển được 1645 nghìn lượt người, vượt 0,3% kế hoạch đề ra.
Đến cuối năm 2013, cả nước có 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt
chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Tình trạng học sinh bỏ học đã giảm,
cả nước có 8,9 nghìn học sinh tiểu học bỏ học, giảm 0,1% so với năm 2012, con số
này ở trung học cơ sở và trung học phổ thông lần lượt là 44 nghìn học sinh và 42
nghìn học sinh. Tổng chi ngân sách cho giáo dục đào tạo là 194,4 nghìn tỷ đổng,
tăng 14,1% so với năm 2012.
2.2.2.3.Y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Công tác chăn sóc sức khỏe cộng đồng dần được cải thiện. Chất lượng dịch vụ y tế
luôn được nâng cao, trình độ chuyên môn các y bác sĩ luôn được nâng cao để phù
15
hợp với tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật đặc biệt là trong nghành y tế.
2.2.2.4.Văn hóa thể thao
Trong những năm qua công tác thông tin liên lạc tập trung thực hiện tốt công tác
truyên truyền các nhiệm vụ chính trị, xã hội và tổ chức tốt các ngày kỷ niệm trọng
đại của đất nước thông qua nhiều hoạt động thiết thực, sôi động và nhiều chương
16
thể thấy rõ việc tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng tổng
cung của nền kinh tế, tác động của vốn đầu tư còn được thể hiện thông qua hoạt
động đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ…qua đó, gián
tiếp làm tăng tổng cung nền kinh tế.
Đồ thị 3: Tỷ lệ đầu tư trên GDP và tốc độ tăng trưởng GDP (%)
Tứ đồ thị trên ta có thể thấy được sự tác động rất mạnh của vốn đầu tư vào GDP.
Từ năm 2005-2013 sự ra tăng của vốn đầu tư từ 343,135 nghìn tỷ lên 1091,136
nghìn tỷ đã làm GDP tăng từ 914,001 nghìn tỷ lên 3584,262 nghìn tỷ. Năm 2009,
tuy khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã tác động tiêu cực đến
kinh tế nước ta nhưng với việc thực hiện kịp thời các giải pháp kinh tế, nền kinh tế
nước ta đã vượt qua khủng hoảng, duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao (5,32%),
kiểm soát lạm phát ở mức thấp (6,52%), các cân đối kinh tế lớn về cơ bản được giữ
vững, hệ thống tài chính ngân hàng duy trì và tiếp tục phát triển. Kết quả này có sự
đóng góp tích cực của việc thực thi chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tiền
tệ nới lỏng, thận trọng.
Như chúng ta đã biết, đóng góp vào tăng trưởng GDP, xét theo yếu tố đầu vào, có 3 nhóm
yếu tố cơ bản: do vốn đầu tư, do lao động và do các nhân tố năng suất tổng hợp. Chúng ta
có thể xem xét mức đóng góp của các yếu tố đầu vào cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua
bảng số liệu sau:
Bảng 5: Tỷ trọng đóng góp của các yếu tố đầu vào cơ bản cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Đơn vị tính: %
Năm Do tăng TSCĐ Do tăng lao động Do tăng TFP
2005 51,38 20,19 28,42
2006 52,47 13,63 33,9
2007 57,25 14,8 27,95
2008 69,31 17,8 12,89
17
Nguồn: Phương pháp tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (Trịnh Minh
Tâm, chi cục trưởng chi cục tiêu chuẩn- đo lường- chất lượng TP.HCM)
2007 1246,769 8,46 532,093 40,4
2008 1616,047 6,31 616,735 43,1
2009 1809,149 5,32 708,826 42,8
2010 2157,828 6,78 830,278 41,9
2011 2779,880 5,89 924,495 34,6
2012 3245,419 5,25 1010,114 33,5
2013 3584,262 5,42 1091,136 30,4
Nguồn: Tổng cục thống kê
Tăng trưởng KT do ba yếu tố tác động : đó là vốn, lao động và năng suất các nhân
18
tố tổng hợp(TFP). Ở các nước đang phát triển sự đóng góp của vốn đầu tư vào
tăng trưởng kinh tế thường chiếm tỉ trọng cao nhất. Và Việt Nam cũng nằm trong
số những nước có mức đóng góp vào tăng trưởng của vốn đầu tư cao. Để tăng
trưởng kinh tế một cách bền vững thì một trong những điều kiện cực kỳ quan trọng
đối với mọi quốc gia là phải mở rộng đầu tư.Muốn đáng giá hiệu quả đầu tư ta
dùng hệ só ICOR.
Với mức thu hút vốn chiếm 45,6 % GDP, hệ số sử dụng vốn (ICOR) của Việt Nam
năm 2010 khoảng gần 6,3 (tức là để tăng 1 đơn vị GDP thì cần tăng thêm 6,3 đơn vị
vốn đầu tư). Hệ số này cao hơn rất nhiều so với của Trung Quốc cách đây 10 năm
(ICOR Trung Quốc giai đoạn 1991-1993 là 4,1). Với cùng với tỷ lệ đầu tư so với GDP
tương đương với Việt Nam, Trung Quốc đạt được mức tăng trưởng 9-10%, trong
khi Việt Nam chỉ có thể duy trì ở mức khoảng 7 - 8%. Nếu so sánh với các nước
Đông Bắc Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan thì hệ số ICOR của Việt Nam
còn cao hơn rất nhiều.
ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế càng thấp. Chất
lượng tăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát, khủng hoảng và suy
thoái kinh tế
Đồ thị 4: Hệ số ICOR của Việt Nam
Hệ số ICOR cao chứng tỏ tăng trưởng kinh tế không dựa nhiều vào yếu tố công
nghệ. So sánh với các nước trong khu vực, ICOR của Việt Nam gần gấp đôi, có nghĩa
1989 8.0 1.5 2002 7.0 5.09
1990 5.1 2.8 2003 7.24 5.0
1991 6.0 2.5 2004 7.7 5.0
1992 8.6 2.1 2005 8.44 5.3
1993 8.1 3.1 2006 8.17 4.88
1994 8.8 2.9 2007 8.48 4.90
199
5
9.5 3.3 2008 6,18 6,66
199
6
9.3 3.4 2009 5,32 8,0
1997 8.2 4.2 2010 6,78 6,3
1998 5.8 5.6 2011 7 – 7,5
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu kinh tế
Như vậy, có thể nhận thấy, hệ số ICOR của Việt Nam có xu hướng ngày càng tăng,
trong khi đó tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có xu hướng biến động ngược
20
chiều so với những thay đổi của hệ số ICOR. ICOR càng cao chứng tỏ hiệu quả sử
dụng vốn càng thấp và tốc độ tăng trưởng kinh tế càng giảm
2.3.3.Tác động của đầu tư đến cơ cấu nền kinh tế
2.3.3.1.Tác động đến cơ cấu ngành kinh tế
Trong thời gian qua, cùng với tốc độ tăng khá ổn định của tỷ lệ vốn đầu tư/GDP, cơ
cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực.
Đồ thị 5: Tốc độ tăng trưởng của các khu vực giai đoạn 2000-2013 (%)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Cơ cấu đầu tư giai đoạn 2005-2013 theo ngành kinh tế cho thấy sự chuyển dịch từ
khối ngành nông lâm ngư nghiệp và thủy sản sang các nhóm ngành công nghiệp-
xây dựng và dịch vụ. Tỷ trọng đầu tư cho nông lâm ngư nghiệp và thủy sản giảm từ
7,49% năm 2005 xuống 6,15% năm 2010 và 5,59% năm 2013. Công nghiệp chế
Tỷ trong đầu
tư
19,20 19,67 16,99 16,95 19,50 20,12 22,03 22,9
6
Đóng góp vào
GDP
18,82 19,38 18,58 18,30 17,95 18,02 17,39 17,4
9
Vận tải, kho bãi
Tỷ trọng đầu
tư
11,70 13,15 12,39 12,04 11,54 11,32 10,53 10,6
6
Đóng góp vào
GDP
3,06 3,14 3,14 3,06 3,03 2,98 3,00 2,99
Kinh doanh bất động sản
Tỷ trọng đầu
tư
1,29 4,41 5,22 4,70 4,95 4,95 5,22 5,75
Đóng góp vào
GDP
6,72 6,68 6,37 6,25 5,99 5,99 5,60 5,38
Nguồn: Tổng cục thống kê
2.3.3.2.Tác động đến cơ cấu vùng kinh tế
Trong những năm qua sự tác động của đầu tư đến cơ cấu vùng kinh tế đã
đạt được những thành tựu quan trọng.Trên bình diện quốc gia, đã hình thành 6
vùng kinh tế: vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam bộ và
vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, có 3 vùng kinh tế trọng điểm là vùng
huy động vốn đầu tư trong dân. Còn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, bao gồm cả
vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nhìn chung được phân bổ theo một tính
toán cân đối nhất định đối với mỗi vùng và giữa các vùng, mặc dù có tập trung, ưu
tiên cho những công trình trọng điểm để tạo ra khâu đột phá cho từng vùng và cho
toàn nền kinh tế
2.3.3.3.Tác động đến cơ cấu thành phần kinh tế
Bảng 10: Cơ cấu vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế (%)
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
KT nhà
nước
47,1 45,7 37,2 33,9 40,5 38,1 37,0 40,3 40,4
KT ngoài
nhà nước
38,0 38,1 38,5 35,2 33,9 36,1 38,5 38,1 37,6
KV có vốn
đầu tư
nước ngoài
14,9 16,2 24,3 30,9 25,6 25,8 24,5 21,6 22,0
23
Nguồn: Tổng cục thống kê
Cơ cấu đầu tư theo thành phần kinh tế cho thấy bức tranh phân bổ nguồn lực giữa
các tác nhân tham gia quá trình đầu tư. Thành phần kinh tế nhà nước chiếm tỉ
trọng lớn trong tổng vốn đầu tư và có đóng góp lớn vào GDP
Bảng 11: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế (%)
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
KT nhà
nước
37,62 36,69 35,35 35,07 34,72 33,46 32,68 32,57 32,2
0
KT ngoài
động, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chú trọng phát triển theo
24
chiều sâu. Đầu tư cho giáo dục đào tạo có phần suy giảm từ mức 3,16% năm 2005
xuống còn 2,84% năm 2010 và tiếp tục giảm xuống còn 2,45% năm 2013.
2.3.5.Tác động của đầu tư góp phần giải quyết các vấn đề xã hội
2.3.5.1.Đầu tư góp phần xóa đói giảm nghèo
Với chính sách đổi mới, mở cửa và kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam
đã đạt được những thành tựu nhất định về tăng trưởng kinh tế với mục tiêu xoá
đói giảm nghèo. Năm 1999, Việt Nam được Ngân hàng Thế giới đánh giá là một
trong những điển hình về xoá đói giảm nghèo trên thế giới.
Bảng 12: Tỷ lệ hộ nghèo phân theo thành thị, nông thôn & phân theo vùng
Năm 2004 2006 2007
Cả nước 18,1 15,5 14,8
Phân theo thành
thị - nông thôn
Thành thị 8,6 7,7 7,4
Nông thôn 21,2 18 17,7
Phân theo vùng
lãnh thổ
Đồng bằng sông
Hồng
12,9 10,1 9,6
Đông Bắc 23,2 22,2 21,4
Tây Bắc 46,1 39,4 38,1
Duyên hải Nam
Trung Bộ
21,3 17,2 16,3
Tây Nguyên 29,2 24,0 23,0
Đông Nam Bộ 6,1 4,6 4,1
Đồng bằng sông